Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Tôn giả Đàm-di2 là vị Tôn trưởng trông coi chùa viện của chư Tăng3 trong địa phương,4 được mọi người tôn trọng, nhưng tánh tình hung bạo, nóng nảy, cộc cằn, thô lỗ, hay mắng nhiếc và chê trách các Tỳ-kheo. Vì vậy, các Tỳ-kheo sống trong địa phương5 đều bỏ đi, không muốn sống ở đó nữa. Các ưu-bà-tắc địa phương thấy các thầy Tỳ-kheo trong địa phương đều bỏ đi, không muốn ở đó nữa, liền nghĩ: “Các Tỳ-kheo địa phương này vì sao lại bỏ đi, không muốn sống ở đây nữa?” Rồi các ưu-bà-tắc địa phương nghe nói Tôn giả Đàm-di, vị Tôn trưởng địa phương này là người trông coi trú xứ của chư Tăng, được mọi người tôn trọng nhưng tánh tình hung bạo, nóng nảy, cộc cằn, thô lỗ, thường mắng chửi và chê trách các Tỳ-kheo khác, cho nên các Tỳ-kheo trong địa phương đều bỏ đi, không muốn sống ở đó nữa. Sau khi các ưu-bà-tắc địa phương nghe được điều này rồi, liền cùng nhau kéo đến chỗ Tôn giả Đàm-di và trục xuất thầy ấy rời khỏi các tự viện trong địa phương.6
[0618c03] Bấy giờ, Tôn giả Đàm-di bị các ưu-bà-tắc địa phương trục xuất khỏi các tự viện trong địa phương, thầy ấy liền đắp y, ôm bát đi đến nước Xá- vệ, lần hồi đến trú trong Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Thế rồi, Tôn giả Đàmdi đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài, ngồi sang một bên và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, đối với các ưu-bà-tắc địa phương, con không làm điều gì xấu xa, cũng chẳng nói việc gì, không xúc phạm đến ai. Thế nhưng các ưu-bà-tắc địa phương lại ngang ngược trục xuất con rời khỏi các tự viện quanh vùng.
Khi đó, đức Thế Tôn bảo:
– Thôi đủ rồi, này Đàm-di, cần gì phải nói điều đó!
Tôn giả Đàm-di chắp tay hướng Phật, thưa lại lần nữa:
– Kính bạch Thế Tôn, đối với các ưu-bà-tắc địa phương, con không làm điều gì xấu xa, cũng chẳng nói việc gì, không xúc phạm đến ai. Thế nhưng các ưu-bà-tắc địa phương lại ngang ngược trục xuất con rời khỏi các tự viện quanh vùng.
Đức Thế Tôn lại bảo:
– Này Đàm-di! Thuở xưa, ở cõi Diêm-phù này có các thương buôn giong thuyền ra biển, họ mang theo con chim ó để tìm bờ. Ra biển chưa bao xa, họ thả chim ó để nó tìm bờ. Nếu chim ó tìm thấy được bờ biển thì nó sẽ vĩnh viễn không trở lại thuyền; nếu không tìm thấy bờ biển thì nó sẽ trở lại thuyền. Thầy cũng vậy, này Đàm-di, bởi vì thầy bị các ưu-bà-tắc địa phương trục xuất khỏi các tự viện quanh vùng nên thầy mới trở về chỗ Như Lai. Thôi đủ rồi, Đàm-di, cần gì phải nói điều đó nữa!
Tôn giả Đàm-di lại thưa lần thứ ba:
– Kính bạch Thế Tôn, đối với các ưu-bà-tắc địa phương, con không làm điều gì xấu xa, cũng chẳng nói việc gì, không xúc phạm đến ai. Thế nhưng các ưu-bà-tắc địa phương lại ngang ngược trục xuất con rời khỏi các tự viện quanh vùng.
Lần thứ ba, đức Thế Tôn lại bảo:
– Này Đàm-di, thầy ở trong pháp Sa-môn mà bị các ưu-bà-tắc địa phương trục xuất khỏi các tự viện quanh vùng sao?
Lúc đó, Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngỗi đứng dậy, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Sa-môn ở trong pháp Sa-môn?
Đức Thế Tôn dạy:
– Này Đàm-di, thuở xưa, có người sống đến tám vạn tuổi. Đàm-di, vào thời con người sống thọ tám vạn tuổi thì cõi Diêm-phù này cực kỳ giàu sang, hạnh phúc, dân cư đông đúc, thôn ấp gần nhau, khoảng cách bằng sức bay của con gà.7 Ở thời loài người sống thọ tám vạn tuổi thì người nữ đến năm trăm tuổi mới lấy chồng. Này Đàm-di, ở thời con người sống thọ tám vạn tuổi, con người chỉ có các bệnh liên quan đến đại tiện, tiểu tiện, lòng dục, ăn uống và già yếu mà thôi.
Này Đàm-di, vào thời con người sống thọ tám vạn tuổi, có một vị vua tên là Cao-la-bà8 rất thông minh, trí tuệ, làm Chuyển Luân Vương, có bốn binh chủng, trị vì thiên hạ, là vị pháp vương thực hành theo Chánh pháp, thành tựu bảy báu, gồm bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Vua có đủ một ngàn người con, tướng mạo đoan chánh, dõng mãnh, không biết sợ hãi, có thể khuất phục mọi người. Những vị thái tử này có khả năng thống lãnh giang sơn từ đất liền ra đến biển cả mà không cần dùng đến vũ khí, chỉ dùng Chánh pháp để cai trị, giáo hóa, khiến muôn dân an ổn.
[0619a08] Này Đàm-di, Vua Cao-la-bà có một cội cây rất lớn, tên là Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương.9 Đàm-di, Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương có năm cành. Cành thứ nhất dành cho vua và hoàng hậu ăn. Cành thứ hai dành cho thái tử và các quan ăn. Cành thứ ba dành cho dân chúng trong nước ăn. Cành thứ tư dành cho Sa-môn, Phạm chí ăn. Cành thứ năm dành cho cầm thú ăn. Này Đàm-di, quả của Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương lớn bằng cái bình hai thăng, mùi vị của nó giống như mật nguyên chất. Đàm-di, quả Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương không ai canh giữ mà cũng chẳng ai trộm cắp. Về sau, có một người đói khát, gầy còm, nhan sắc tiều tụy, muốn được ăn quả, liền đến bên Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương hái quả ăn no rồi, lại còn bẻ gãy cành và hái quả mang về. Trên Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương có một vị trời10 nương ở, vị trời này nghĩ: “Người ở châu Diêm-phù thật kỳ lạ, vô ân, không biết báo đáp. Vì sao như vậy? Họ ăn quả của Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương no nê rồi lại còn bẻ gãy cành và hái quả mang về. Thà để cây Thiện Trụ Ni-câu-loại vương không có quả, không ra quả nữa.” Bấy giờ Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương liền không có quả cũng không ra quả nữa.
Rồi lại có một người đói khát gầy còm, nhan sắc tiều tụy, muốn được ăn quả, liền đến chỗ Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương, thấy cây này không còn quả cũng không ra quả, lập tức đến tâu với Vua Cao-la-bà:
“Thưa Thiên vương, Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương không còn quả, cũng không ra quả.”
Nghe xong, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, Vua Cao-la-bà ẩn thân nơi xứ Câu-lâu rồi hiện ra ở cõi trời Ba Mươi Ba, đứng trước Thiên Đế-thích11 và tâu rằng:
“Câu-dực12 biết cho, Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương không còn quả cũng không ra quả nữa.”
Khi đó, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, Thiên Đế- thích và Vua Cao-la-bà đã ẩn thân
nơi cõi trời Ba Mươi Ba rồi hiện ra tại xứ Câu-lâu. Đứng cách Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương không xa, Thiên Đế- thích liền nhập Như kỳ tượng định và hóa hiện thần túc,13 rồi vận dụng Như kỳ tượng định và thần túc để tạo ra gió bão, mưa to và nước lũ lớn. Do gió bão, mưa to và nước lũ lớn nên cây Thiện Trụ Ni-câu-loại vương bị trốc gốc, ngã đổ.
[0619b07] Lúc đó, thọ thiên14 sống trên Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương chứng kiến việc này lòng rất buồn đau, sầu thương, rơi lệ khóc than trước mặt Thiên Đế-thích. Thiên Đế-thích hỏi:
“ Này thọ thiên, vì lẽ gì mà ông buồn khổ, sầu thương, rơi lệ khóc than trước mặt ta như vậy?”
Vị thọ thiên thưa:
“Thưa Câu-dực! Ngài nên biết, gió bão, mưa to và nước lũ lớn đã làm cho cội Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương bị trốc gốc, ngã đổ.
” Khi ấy, Thiên Đế-thích hỏi lại vị thọ thiên sống trên cây kia:
“Ông là thọ thiên, sống theo pháp của thọ thiên mà lại để gió bão, mưa to và nước lũ lớn làm cội Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương tróc gốc, ngã đổ ư?”
Thọ thiên thưa:
“Thưa Câu-dực, thế nào gọi là thọ thiên sống theo pháp của thọ thiên?” Thiên Đế-thích bảo:
“Này thọ thiên! Nếu như có người muốn được rễ cây thì nên để họ mang rễ cây đi, muốn được thân cây, nhánh cây, lá cây, hoặc hoa hoặc quả thì cứ để họ mang đi. Ông không nên giận dữ, không nên thù ghét, tâm không nên oán hận. Ông hãy an trú trên cây với ý niệm buông xả, như vậy gọi là thọ thiên sống theo pháp của thọ thiên.”
Vị thọ thiên kia lại tâu:
“Thưa Câu-dực, tôi là thọ thiên mà lại không sống đúng theo pháp của thọ thiên. Từ nay về sau thọ thiên tôi sẽ sống theo pháp của thọ thiên. Nguyện cầu cho cội Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương trở lại như cũ!”
Khi ấy, Thiên Đế-thích liền nhập Như kỳ tượng định rồi hóa hiện thần túc. Sau khi nhập Như kỳ tượng định và hóa hiện thần túc, Thiên Đế-thích lại biến hóa ra gió bão, mưa to và nước lũ lớn. Sau khi biến hóa ra gió bão, mưa to và nước lũ lớn, cội Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương liền trở lại như cũ.
Cũng vậy, này Đàm-di, nếu Tỳ-kheo nào bị người mắng nhiếc mà không mắng lại, bị người sân giận mà không sân giận lại, bị người quấy phá mà không quấy phá lại, bị người đánh đập mà không đánh đập lại. Này Đàm-di, như vậy gọi là vị Sa-môn sống đúng theo pháp của Sa-môn.
Lúc đó, Tôn giả Đàm-di liền rời chỗ ngồi, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật, rơi lệ khóc than và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, con không phải là một Sa-môn sống theo pháp của Sa-môn. Từ nay về sau, con bắt đầu làm một vị Sa-môn sống đúng theo pháp của Sa-môn.
Đức Thế Tôn lại dạy:
– Đàm-di! Xưa kia có một đại sư tên là Thiện Nhãn,15 được các tiên nhân ngoại đạo tôn làm Tôn sư, là người đã lìa bỏ ái dục và được như ý túc. Này Đàm-di, đại sư Thiện Nhãn có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Đàm-di, vị đại sư Thiện Nhãn này dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên.16 Khi đại sư Thiện Nhãn dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên, trong số họ có người không phụng hành theo pháp ấy một cách trọn vẹn, nên những vị ấy sau khi qua đời chỉ sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, hoặc sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba, hoặc sanh lên cõi trời Diệm-ma, hoặc sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh lên cõi trời Hóa Lạc, hoặc sanh lên cõi trời Tha Hóa Lạc. Này Đàm-di, khi đại sư Thiện Nhãn dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên, trong số họ có người phụng hành theo pháp ấy một cách trọn vẹn, vị ấy tu bốn pháp cộng trú với Phạm thiên,17 lìa bỏ ái dục nên sau khi qua đời, vị ấy được sanh lên cõi trời Phạm thiên. Này Đàm-di, khi ấy đại sư Thiện Nhãn nghĩ rằng: “Đời sau, ta không nên sanh về cùng một cõi với chúng đệ tử. Bây giờ ta hãy tu tập thêm từ tăng thượng. Nếu ta tu tập thêm từ tăng thượng thì sau khi qua đời sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng Dục.”18
[0619c12] Này Đàm-di, bấy giờ đại sư Thiện Nhãn liền tu thêm từ tăng thượng. Nhờ vị ấy tu tập từ tăng thượng, nên sau khi qua đời được sanh vào cõi trời Hoảng Dục. Đàm-di, đại sư Thiện Nhãn và các đệ tử không uổng công học đạo mà có được phước quả lớn. Cũng như đại sư Thiện Nhãn, còn có các đại sư Mâu-lê-phá-quần-na, A-la-na-giá Bà-la-môn, Cù-đà-lê-xá-đa, Hại-đề-bà-lama-nạp, Thù-đề-ma-lệ-kiều-bệ-đà-la và Tát-đa-phú-lâu-hề-đa.19
Này Đàm-di, đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa20 cũng có vô lượng trăm ngàn đệ tử. Đàm-di, vị đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên. Khi đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên, trong các đệ tử có người không phụng hành theo pháp ấy một cách trọn vẹn nên sau khi qua đời, những vị ấy chỉ sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương, hoặc sanh lên cõi trời Ba Mươi Ba, hoặc sanh lên cõi trời Diệm-ma, hoặc sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà, hoặc sanh lên cõi trời Hóa Lạc, hoặc sanh lên cõi trời Tha Hóa Lạc.
Khi đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa dạy cho các đệ tử phương pháp cộng trú với Phạm thiên, trong số các đệ tử có người phụng hành theo pháp ấy một cách trọn vẹn, tu bốn pháp cộng trú với Phạm thiên, lìa bỏ ái dục, nên sau khi qua đời họ được sanh vào cõi trời Phạm thiên.
Này Đàm-di, đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa nghĩ: “Đời sau, ta không nên sanh ra cùng một cõi với chúng đệ tử. Bây giờ ta hãy tu thêm từ tăng thượng. Nếu ta tu thêm từ tăng thượng thì sau khi qua đời sẽ được sanh vào cõi trời Hoảng Dục.”
[0620a01] Đàm-di, bấy giờ đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa liền tu thêm từ tăng thượng. Nhờ tu tập từ tăng thượng, nên sau khi vị ấy qua đời liền được sanh vào cõi trời Hoảng Dục. Đàm-di, đại sư Thất-phú-lâu-hề-đa và các đệ tử học đạo không luống công, có được phước quả lớn.
Này Đàm-di, nếu có người nào mắng nhiếc bảy vị đại sư và vô lượng trăm ngàn đệ tử kia, hoặc phá hoại, nổi giận, trách móc họ, chắc chắn sẽ chịu vô lượng tội. Nhưng nếu có một Tỳ-kheo đệ tử Phật đã thành tựu chánh kiến,21 chứng đắc Sơ quả, mà có ai mắng nhiếc, phá hoại, nổi giận, trách móc vị ấy thì càng chịu tội nhiều hơn thế nữa. Thế nên, này Đàm-di, các thầy hãy luôn luôn nhắc nhở, bảo bọc lẫn nhau. Vì sao như vậy? Vì ngoài lỗi lầm này, không còn lỗi lầm nào hơn nữa.
Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ này:
Tu-niết,22 Mâu-lê-phá-quần-na,
A-la-na-giá Bà-la-môn,
Cù-đà-lê-xá-đa,
Hại-đề-bà-la-ma-nạp,
Thù-đề-ma-lệ-kiều-bệ-đà-la,
Tát-đa-phú-lâu-hề-đa.
Trong đời quá khứ ấy,
Bảy Tôn sư danh đức,
Tình thương, không nhiễm ái,
Dục trói buộc đã trừ,
Độ trăm ngàn đệ tử,
Vô lượng đếm sao vừa,
Đều lìa dục trói buộc,
Dù cứu cánh còn chưa.
Với các Tiên nhân ấy,
Thủ trì khổ hạnh này,
Ai oán ghét chư vị,
Tội mắng nhiếc nhiều thay!
Huống gì với con Phật,
Chánh kiến, đắc Sơ quả,
Ai chửi mắng, đập phá,
Mắc tội nhiều lắm thay!
Này Đàm-di, do đó,
Hãy biết bảo bọc nhau,
Cùng giữ gìn, tương trợ,
Nếu không, tội bội phần.
Như thế thật quá khổ,
Bậc Thánh cũng ghét bỏ,
Dung sắc lại xấu xí,
Mê chấp nơi tà kiến.
Đó là hạng thấp hèn,
Thánh pháp gọi như thế,
Dù chưa lìa dâm dục,
Có diệu năm căn này:
Tín, tinh tấn, niệm xứ,
Chánh định, chánh quán đây.
Khổ kia mình chịu vậy,
Trước phải chuốc họa tai,
Họa tai tự chuốc lấy,
Sau nữa gây hại người.
Ai khéo tự phòng hộ,
Bên trong lẫn bên ngoài,
Cho nên hãy tự hộ,
Bậc trí tuệ, vui thay!
Đức Phật giảng như vậy, Tôn giả Đàm-di và các Tỳ-kheo kia nghe Phật giảng xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Giáo Đàm-di kinh 教曇彌經 (T.01. 0026.130. 0618b18). Tham chiếu: A. 6.54 - III. 366.
2 Đàm-di (曇彌, Dhammika), một vị Bà-la-môn ở Kosala, về sau quy y Phật, nỗ lực tu tập và chứng quả A-la-hán.
3 Nguyên tác: Phật đồ chủ (佛圖主). Vốn khởi nguyên là một ngôi tháp (stupa), là nơi cư trú, tu tập của người xuất gia và cũng là nơi mà hàng cư sĩ tập trung lễ bái, cúng dường. Pháp cú thí dụ kinh 法句譬喻經 (T.04. 0211.2. 0590b12) gọi là Phật đồ tự (佛圖寺). Như vậy, Phật đồ chủ (佛圖主) theo kinh là người trông coi và quản lý trú xứ của chư Tăng. A. 6.54 - III. 366: Āvāsesu là số nhiều của āvāsa, nghĩa là trú xứ.
4 Nguyên tác: Sanh địa tôn trưởng (生地尊長, jātibhūmiyaṃ āvasiko).
5 Nguyên tác: Sanh địa chư Tỳ-kheo (生地諸比丘). A. 6.54 - III. 366: Āgantukā bhikkhū (các Tỳ-kheo vãng lai).
6 Nguyên tác: Sanh địa chư tự trung (生地諸寺中): Các ngôi chùa trong vùng. Tham chiếu: A. 6.54 - III. 366: Āyasmā dhammiko jātibhūmiyaṁ āvāsiko hoti sabbaso jātibhūmiyaṁ sattasu āvāsesu (Tôn giả Dhammika trú tại chỗ sanh trưởng của mình và có tất cả 7 trú xứ tại chỗ sanh trưởng ấy), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Nguyên tác: Như kê nhất phi (如雞一飛, kukkuṭasaṃpātikā). DĀ. 6: Cùng nghe gà gáy (雞鳴相聞).
8 Cao-la-bà (高羅婆, Korabya). J. VI. 515 ghi là vua của bộ tộc Kuru, gọi đủ là Dhanañjaya Korabya.
9 Thiện Trụ Ni-câu-loại thọ vương (善住尼拘類樹王, Suppatiṭṭha Nigrodha rājā).
10 Hữu nhất thiên y nhi cư chi (有一天依而居之). Trường hợp này, kinh văn Pāli gọi là devatā. HT. Thích Minh Châu dịch là “chư thiên rừng cây.” Đoạn sau của kinh này nói rõ hơn là “thọ thiên” (樹天, rukkhadevatā), tức thần cây.
11 Thiên Đế-thích (天帝釋, Sakka devānaṃ inda).
12 Câu-dực (拘翼, Kosika), tên riêng của Thiên chủ Đế-thích.
13 Nguyên tác: Tác như kỳ tượng như ý túc (作如其像如意足). Cấu trúc này tương tự như cấu trúc “như kỳ tượng tác như ý túc” (如其像作如意足). Trước hết, cấu trúc “như kỳ tượng” (如其像) là cách diễn đạt vắn tắt của cú ngữ “nhập như kỳ tượng định” (入如其像定), hoặc “như kỳ tượng tam-muội” (如其像三昧) hay “như kỳ tượng tam-muội chánh thọ” (如其像三昧正受). Theo Pāli-Hán từ điển (巴漢詞典) do Minh Pháp Tôn giả (明法尊者) hiệu đính, “như kỳ tượng định” (如其像定) có nghĩa là “giống như hình tượng bất động rồi nhập định” (好像雕像不動而入定). Thứ hai, “tác như ý túc” (作如意足) nghĩa là “hóa hiện thần thông.” Hai bản dị dịch sau đây có cùng quan điểm, Tần-bà-sa-la vương kinh頻婆娑羅王經 (T.01. 0041. 0825c15): Liền nhập thiền định, hiện thần thông lớn (即入三摩地現大神通) và Biệt Tạp 別雜 (T.02. 0100.13. 0377b24): Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp tức thời nhập định, hiện các thần thông (尊者優樓頻螺迦葉即時入定, 起諸神通).
14 Thọ thiên (樹天, rukkhadevatā). Xem chú thích số 10.
15 Đại sư Thiện Nhãn (大師善眼, Sunetto). Câu chuyện về vị đại sư này xem trong A. 7.66 - IV. 100.
16 Nguyên tác: Phạm thế pháp (梵世法): Pháp dẫn đến đời sống ở Phạm thiên.
17 Nguyên tác: Tứ Phạm thất (四梵室), gồm: từ, bi, hỷ, xả.
18 Nguyên tác: Hoảng Dục thiên (晃昱天), cũng gọi là Quang Âm thiên (光音天, Ābhassara).
19 Sáu Đại sư: (i) Mâu-lê-phá-quần-na (牟犁破群那, Mūgapakkha), (ii) A-la-na-giá Bà-la-môn (阿羅那遮婆羅門, Aranemi Brāhmaṇa), (iii) Cù-đà-lê-xá-đa (瞿陀梨舍哆, Kuddālakasattā), (iv) Hại-đề-bà- la-ma-nạp (害提婆羅摩納, Hatthipāla mānava), (v) Thù-đề-ma-lệ-kiều-đệ-đà-la (儲提摩麗橋鞞陀邏, Jotipāla govinda), (vi) Tát-đa-phú-lâu-hề-đa (薩哆富樓奚哆, Satta purohita).
20 Thất-phú-lâu-hề-đa (七富樓奚哆). Ở trên ghi là Tát-đa-phú-lâu-hề-đa (薩哆富樓奚哆).
21 Nguyên tác: Thành tựu chánh kiến (成就正見), một cách viết khác của Kiến đế nhân (見諦人), tức thành tựu quả vị Tu-đà-hoàn (須陀洹, Sotāpatti).
22 Tu-niết (須涅, Sunetta).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.