Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, cư sĩ Cấp Cô Độc đi đến chỗ đức Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Ở đời có bao nhiêu hạng người xứng đáng làm ruộng phước?2
Thế Tôn bảo:
– Này cư sĩ! Ở đời có hai hạng người xứng đáng làm ruộng phước. Là hai hạng nào? Một là hạng Hữu học,3 hai là hạng Vô học. Hạng Hữu học có mười tám bậc, hạng Vô học có chín bậc.
Này cư sĩ! Thế nào là mười tám bậc Hữu học? Đó là bậc Tín hành,4 bậc Pháp hành,5 bậc Tín giải thoát,6 bậc Kiến đáo,7 bậc Thân chứng,8 bậc Gia gia,9 bậc Nhất chủng,10 bậc Tu-đà-hoàn hướng, bậc Tu-đà-hoàn, bậc Tư- đà-hàm hướng, bậc Tư-đà-hàm, bậc A-na-hàm hướng, bậc A-na-hàm, bậc Trung Bát-niết-bàn,11 bậc Sanh Bát-niết-bàn,12 bậc Hành Bát-niết-bàn,13 bậc Vô hành Bát-niết-bàn14 và bậc Thượng lưu Sắc Cứu Cánh.15 Đây là mười tám bậc Hữu học.
Này cư sĩ! Thế nào là chín bậc Vô học? Đó là bậc Tư pháp,16 bậc Thăng tấn pháp,17 bậc Bất động pháp,18 bậc Thoái pháp,19 bậc Bất thoái pháp,20 bậc Hộ pháp,21 bậc Thật trụ pháp,22 bậc Tuệ giải thoát23 và bậc Câu giải thoát.24 Đây là chín bậc Vô học.
Khi ấy, Thế Tôn nói kệ này:
Học, Vô học trong đời,
Đáng tôn kính, cúng dường,
Bậc khéo đoan chánh thân,
Với miệng, ý cũng vậy,
Ấy là bậc ruộng tốt,
Cúng dường được phước lớn.
Đức Phật dạy như vậy, cư sĩ Cấp Cô Độc và các Tỳ-kheo kia nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Phước điền kinh 福田經 (T.01. 0026.127. 0616a05). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.992. 0258c11); Tăng. 增 (T.02. 0125.42.8. 0755a07); A. 2.35 - I. 61.
2 Nguyên tác: Phước điền nhân (福田人, dakkhineyya): Bậc xứng đáng nhận sự cúng dường.
3 Nguyên tác: Học nhân (學人, Sekkha): Đệ tử Phật tuy thấy biết Chánh pháp nhưng chưa thể đoạn trừ phiền não, vẫn còn có pháp để tu học nên gọi là Hữu học (有學). Đối lại là Vô học nhân (無學人), chỉ các bậc Thánh đã chứng A-la-hán quả (阿羅漢果), vì không có pháp để tu học, nên gọi là Vô học (無學).
4 Tín hành còn gọi là Tùy tín hành (隨信行, Saddhānusārī), nghĩa là bậc tuy chưa thành tựu quả vị Dự lưu (預流果), nhưng đã vượt khỏi hàng phàm phu, là bậc Hữu học có khả năng kham thọ (忍, khanti), phân biệt giáo pháp, từ đó quán sát, tư duy với trí tuệ tăng thượng, gọi là bậc Tùy tín hành. Xem thêm SĀ. 61.
5 Pháp hành (法行) còn gọi Tùy pháp hành (隨法行, Dhammānusārī), nghĩa là bậc tuy chưa thành tựu quả vị Dự lưu, nhưng đã vượt khỏi hàng phàm phu, là bậc Hữu học có khả năng dùng sức mạnh trí tuệ quán sát, tư duy rồi kham thọ giáo pháp (忍, khanti), gọi là bậc Tùy pháp hành. Xem thêm SĀ. 61.
6 Tín giải thoát (信解脫, Saddhāvimutta): Nhờ tín tâm cao tột với đức Phật nên được giải thoát. Tham chiếu: A. 3.21 - I. 118: Yvāyaṃ puggalo saddhāvimutto svāssa sakadāgāmī vā anāgāmī vā (hạng người tín giải này là hạng người Nhất lai (一來) hay Bất lai (不來)), HT. Thích Minh Châu dịch. Vị Tỳ-kheo thành tựu tín giải thoát được Phật khen ngợi là Bà-ca-lê (婆迦梨). Tham chiếu: S. 55.24: Có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với Pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahānama, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sinh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ (HT. Thích Minh Châu dịch).
7 Kiến đáo (見到, Diṭṭhippatta) cũng gọi là “Kiến chí” (見至). Theo SĀ. 936, đây là bậc Dự lưu, thấy biết như thật đối với giáo pháp (於正法律如實知見).
8 Thân chứng (身證, Kāyasakkhi): Trong A. 3.21 - I. 118, đức Phật xác định: Na khvettha, sāriputta, sukaraṃ ekaṃsena byākātuṃ: ‘ayaṃ imesaṃ tiṇṇaṃ puggalānaṃ abhikkantataro ca paṇītataro cā’ti. Ṭhānañhetaṃ, sāriputta, vijjati yvāyaṃ puggalo diṭṭhippatto svāssa arahattāya paṭipanno, yvāyaṃ puggalo saddhāvimutto svāssa sakadāgāmī vā anāgāmī vā, yo cāyaṃ puggalo kāyasakkhī sopassa sakadāgāmī vā anāgāmī vā. (Ở đây, này Sāriputta, thật không dễ gì để trả lời một chiều là hạng người này hy hữu hơn, thù diệu hơn trong 3 hạng người kia. Sự kiện này xảy ra, này Sāriputta, là hạng người Kiến chí này là hạng người đang hướng đến A-la-hán, còn hạng người tín giải này là hạng người Nhất lai hay Bất lai, và hạng người thân chứng này là hạng người Nhất lai hay Bất lai), HT. Thích Minh Châu dịch. Theo kinh chỉ cho bậc Thánh đắc quả Tư-đà-hàm (斯陀含, Sakadāgāmin) hoặc A-na-hàm (阿那含, Anāgāmin). Tuy nhiên, Câu-xá luận 俱舍論 (T.29. 1558.24. 0126a15) cho rằng: Trong kinh có nói, quả vị Bất hoàn còn gọi là Thân chứng (經說不還, 有名身證); Đại trí độ luận 大智度論 (T.25. 1509.54. 0447a17) cũng cho rằng, khi thành tựu Thân chứng thì nhập Niết-bàn A-na-hàm (有得身證 入涅槃阿那含).
9 Gia gia (家家, Kolaṅkola) là bậc Dự lưu, được sanh vào nhà thuần thiện, từ nhà này sang nhà khác trước khi chứng đắc A-la-hán. Tham chiếu: A. 3.86 - I. 232: Vị ấy, do đoạn tận 3 kiết sử, là bậc Gia gia, dong ruổi, lưu chuyển trong 2 hay 3 gia đình, rồi đoạn tận khổ đau (HT. Thích Minh Châu dịch). Xem thêm Tăng. 增 (T.02. 0125.28.7. 0653c16): Nếu có một người dứt trừ 3 kiết sử sẽ thành tựu pháp bất thoái chuyển Tu-đà-hoàn (須陀洹, Sotāpatti), nhất định đến được Niết-bàn, và chậm nhất là trải qua 7 lần sanh lại cõi này; hoặc thành bậc Gia gia, Nhất chủng (或有一人,斷三結使,成須陀洹不退轉法, 必至涅槃,極遲經七死七生;或復家家,一種).
10 Nhất chủng (一種, Ekabīja) là bậc Dự lưu phải trải qua một lần tái sanh. Tham chiếu: A. 3.86 - I. 232: Vị ấy, do đoạn tận 3 kiết sử, là bậc Nhất chủng, sau khi phải sanh hiện hữu làm người một lần, rồi đoạn tận khổ đau (HT. Thích Minh Châu dịch). SA. III. 239, Ekabījīsuttavaṇṇanā giải thích: Ettha ca ekabījītiādīsu yo sotāpanno hutvā ekameva attabhāvaṃ janetvā arahattaṃ pāpuṇāti, ayaṃ ekabījī nāma (Ở đây, căn nguyên của từ Nhất chủng nhằm chỉ cho những vị chứng quả Dự lưu chỉ tái sanh một lần trước khi chứng Niết-bàn, nên có tên là Nhất chủng).
11 Trung Bát-niết-bàn (中般涅槃, Antaraparinibbāyī) là bậc Bất lai. Sau khi sanh vào cõi trời Tịnh Cư (Suddhāvāsā) được phân nửa thọ mạng thì nhập Niết-bàn. Theo A. 3.86 - I. 232: Vị ấy do đoạn tận 5 hạ phần kiết sử, là bậc Trung gian Bát-niết-bàn.
12 Sanh Bát-niết-bàn (生般涅槃, Upahaccaparinibbāyī) còn gọi là Tổn hại (upahacca) Niết-bàn, là bậc Bất lai, sau khi sanh vào cõi trời Tịnh Cư, gần mãn tuổi thọ thì nhập Niết-bàn.
13 Hành Bát-niết-bàn (行般涅槃, Sasaṅkhāraparinibbāyī) là bậc Bất lai, sau khi sanh vào cõi trời Tịnh Cư, phải nỗ lực tu tập rồi mới nhập Niết-bàn.
14 Vô hành Bát-niết-bàn (無行般涅槃, Asaṅkhāraparinibhāyī) là bậc Bất lai, sau khi sanh vào cõi trời Tịnh Cư, không cần nỗ lực vẫn đạt Niết-bàn.
15 Thượng lưu Sắc Cứu Cánh (上流色究竟, Uddhaṃsota akaniṭṭhagāmī) là bậc Bất lai, sau khi sanh vào cõi trời Tịnh Cư, lần lượt tái sanh qua các cõi từ cõi thứ nhất (Vô Phiền thiên) đến cõi thứ năm (Sắc Cứu Cánh thiên), đoạn trừ 5 thượng phần kiết sử, rồi nhập Niết-bàn tại đó.
16 Tư pháp (思法), theo A-tỳ-đàm Tâm luận kinh 阿毘曇心論經 (T.28. 1551.3. 0851a03), là bậc Thánh A-la-hán, trí tuệ và tinh tấn đều yếu, nhưng thường chán ghét thân mình, lòng thường nhớ nghĩ việc diệt trừ sự chết thì sẽ thành tựu Tư pháp (若人軟智軟方便,常厭惡身,念欲壞滅彼死,成就思法).
17 Thăng tấn pháp (昇進法), theo A-tỳ-đàm Tâm luận kinh 阿毘曇心論經 (T.28. 1551.3. 0851a07), là bậc Thánh A-la-hán, không có nhiều lợi trí, nhưng nỗ lực tinh tấn thì sẽ tiến tới Bất động tánh (少利智極精進必能進至不動,名必昇進法).
18 Bất động pháp (不動法), theo A-tỳ-đàm Tâm luận kinh 阿毘曇心論經 (T.28. 1551.3. 0851a07), là bậc Thánh A-la-hán, do có tinh tấn và lợi trí rộng rãi, nên nhanh chóng đạt được bất động, gọi là Bất động pháp (若利智廣精進, 初得不動, 是名不動法).
19 Thoái pháp (退法), theo Tạp A-Tỳ-đàm Tâm luận 雜阿毘曇心論 (T.28. 1552.5. 0913c18), là bậc Thánh A-la-hán, trong giai vị tu tập đầu tiên, tinh tấn chưa cố định và chưa thuần nhất nên gọi là Thoái pháp (若初學地不常方便不頓方便是名退法).
20 Bất thoái pháp (不退法), theo A-tỳ-đàm Tâm luận kinh 阿毘曇心論經 (T.28. 1551.3. 0851a05), còn gọi là bậc Trụ pháp. Bậc Thánh A-la-hán, với trí tuệ và tinh tấn đều ở mức cân bằng, vị ấy ở trong đạo này không tiến không thoái, gọi là Trụ pháp (若中智等精進,彼住此道不進不退,故名住法).
21 Hộ pháp (護法), theo A-tỳ-đàm Tâm luận kinh 阿毘曇心論經 (T.28. 1551.3. 0851a04), là bậc Thánh A-la-hán, tuy trí kém nhưng tinh tấn tăng thượng, dùng sức tinh tấn để tự thủ hộ, gọi là Hộ pháp (若軟智增上精進,以精進力自護,是名護法).
22 Thật trụ pháp (實住法), theo A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa luận 阿毘達磨大毘婆沙論 (T.27. 1545.62. 0319c11), là An trụ pháp, bậc Thánh A-la-hán, không thoái thất nhưng cũng không tiến tới (安住法者謂彼不退亦不昇進).
23 Tuệ giải thoát (慧解脫, Paññāvimutta): Bậc Thánh A-la-hán, nhờ sức trí tuệ đoạn trừ phiền não mà được giải thoát. Tham chiếu: M. 70: Thế nào là bậc Tuệ giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này như vậy được gọi là bậc Tuệ giải thoát (HT. Thích Minh Châu dịch).
24 Câu giải thoát (俱解脫, Ubhatobhāgavimutta) còn gọi là Câu phần giải thoát, bậc Thánh A-la-hán. Tham chiếu: M. 70: Thế nào là bậc Câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp, và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người Câu phần giải thoát (HT. Thích Minh Châu dịch).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.