Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
– Ở đời, với người còn tham dục2 thì nghèo túng có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn lại hỏi các Tỳ-kheo:
– Nếu như người còn tham dục, do nghèo túng nên phải đi vay mượn tiền bạc của người khác. Ở đời mà phải đi vay mượn tiền bạc của người khác thì có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn hỏi tiếp:
– Nếu như người còn tham dục, do vay mượn tiền bạc của người khác và không trả nợ đúng hẹn nên tiền lãi gia tăng. Ở đời mà tiền lãi bị gia tăng thì có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn lại hỏi:
– Nếu như người còn tham dục, do không thể trả lãi gia tăng nên bị chủ nợ đến đòi nợ. Ở đời mà bị chủ nợ đến đòi nợ thì có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn lại hỏi các Tỳ-kheo:
– Nếu như người còn tham dục, do bị chủ nợ đến đòi nhưng không thể trả nợ nên chủ nợ nhiều lần tìm đến đòi nợ. Ở đời mà bị chủ nợ nhiều lần tìm đến đòi nợ thì có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn lại hỏi các Tỳ-kheo:
– Nếu như người còn tham dục, do nhiều lần bị chủ nợ tìm đến đòi nợ, nhưng người ấy không thể trả nợ nên bị chủ nợ bắt trói. Ở đời mà bị chủ nợ bắt trói thì có phải là nỗi khổ lớn chăng?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Thưa phải, bạch Thế Tôn!
[0614b02] – Như vậy, ở đời, với người còn tham dục mà lại nghèo túng thì rất khổ. Ở đời, với người còn tham dục lại phải vay mượn tiền bạc của người khác thì rất khổ. Ở đời, với người còn tham dục do vì vay nợ nên phải trả tiền lãi nhiều là rất khổ. Ở đời, với người còn tham dục mà bị chủ nợ đòi tiền lãi là rất khổ. Ở đời, với người còn tham dục mà bị chủ nợ nhiều lần tìm đến đòi tiền lãi là rất khổ. Ở đời, với người còn tham dục mà bị chủ nợ bắt trói lại là rất khổ.
Cũng vậy, nếu người nào ở trong Thánh pháp này mà không có niềm tin đối với thiện pháp, không giữ giới cấm, không siêng năng học kinh nghe pháp, không bố thí, không có trí tuệ đối với thiện pháp, tuy vị ấy có nhiều vàng bạc, lưu ly, pha lê, ma-ni, bạch kha, loa bích, san hô, hổ phách, mã não, đại môi, xà cừ, bích ngọc, xích thạch, tuyền châu nhưng vẫn bị xem là kẻ nghèo nàn cô thế. Trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ bất thiện, nghèo nàn.
Nếu người nào thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác thì trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ vay nợ, bất thiện.
Nếu người nào muốn che giấu những việc làm ác của thân, không tự tỏ bày, không ưa nói ra, không thích bị người khác khiển trách, chống đối người khiển trách, lại muốn che giấu lời nói ác, ý nghĩ ác, không tự tỏ bày, không ưa nói ra, không thích bị khiển trách, chống đối người khiển trách thì trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ khất nợ, bất thiện.
Nếu người nào tạo tác3 một việc ở trong thôn ấp hay ngoài thôn ấp, khi các bậc Phạm hạnh thấy được, liền nói như vầy: “Này chư Hiền! Người này làm như vậy, hành động như vậy, xấu ác như vậy, bất tịnh như vậy, là cái gai của thôn ấp.” Vị ấy liền đáp trả: “Này chư Hiền! Tôi không làm như vậy, không hành động như vậy, không xấu ác như vậy, không bất tịnh như vậy, cũng không phải là cái gai của thôn ấp.” Trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ bị đòi nợ, bất thiện.
Nếu người nào ở nơi an ổn, hoặc bên gốc cây, hoặc trong núi rừng, hoặc nơi thanh vắng, nhưng vẫn nhớ nghĩ ba niệm bất thiện là niệm dục, niệm sân và niệm hại thì trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ nhiều lần bị đòi nợ, bất thiện.
Nếu người nào thân đã làm việc ác, miệng đã nói lời ác và ý đã nghĩ điều ác, do nhân này duyên này nên khi qua đời chắc chắn sanh chốn bất thiện, đọa vào địa ngục. Trong Thánh pháp của Ta gọi đó là kẻ bị chủ nợ bắt trói, bất thiện.
Ta không thấy có sự trói buộc nào thật sự đau khổ, thật sự nặng nề, thật sự tối tăm,4 thật sự đáng khinh ghét bằng sự trói buộc nơi địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Ba sự trói buộc đau khổ này chỉ có Tỳ-kheo A-la-hán lậu tận mới có thể nhận biết, diệt sạch và nhổ cả gốc rễ khiến chúng vĩnh viễn không thể hồi sinh.
Lúc ấy, Thế Tôn liền nói kệ:
Ở đời, nghèo túng khổ,
Vay mượn tiền của người,
Đã vay tiền bạc rồi,
Bị người đòi là khổ.
Chủ nợ đến đòi tiền,
Rồi lấy dây trói lại,
Bị trói thật khổ thay,
Thế gian vẫn thích dục.
Trong Thánh pháp cũng vậy,
Nếu không có chánh tín,
Không hổ và không thẹn,
Tạo ác, nghiệp bất thiện.
Thân làm việc bất thiện,
Miệng, ý đều như vậy,
Che giấu, chẳng nói ra,
Không ưa lời dạy phải.
Nếu từng làm nhiều việc,
Suy tưởng về khổ đau,
Ở thôn hay chỗ vắng,
Nhân đó sanh hối tiếc.5
Những việc thân, miệng tạo,
Và niệm khởi từ ý,
Khiến nghiệp ác tăng dần,
Thường làm lại làm nữa.
Tạo ác mãi không dừng,
Đã làm nhiều việc ác,
Theo nghiệp mà thọ sanh,
Bị trói nơi địa ngục.
Trói buộc này rất khổ,
Người dõng mãnh quyết thoát,
Được tài lợi đúng pháp,
Hết nợ, được an ổn,
Bố thí được hoan hỷ,
Được lợi cả hai đời,6
Các cư sĩ theo đây,
Nhờ thí, phước dần tăng.
Trong Thánh pháp cũng vậy,
Nếu thành tín kiên định,
Đầy đủ đức hổ thẹn,
Bố thí không xan tham,7
Lìa bỏ năm triền cái,
Thường vui tu tinh tấn,
Thành tựu các thiền định,
Buông xả mọi dục lạc.
Được niềm vui vô thực,8
Cũng như hồ nước trong,
Tâm bất động, giải thoát,
Dứt sạch các kiết sử.
Không bệnh là Niết-bàn,
Cũng gọi đèn Vô thượng,9
Không khổ, không nhiễm, an,
Gọi là không lay động.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.10
Ghi chú
1 Nguyên tác: Bần cùng kinh 貧窮經 (T.01. 0026.125. 0614a13). Tham chiếu: A. 6.45 - III. 351.
2 Nguyên tác: Hữu dục nhân (有欲人, kāmabhogina): Người còn bị dục chi phối, kẻ phàm phu.
3 Nguyên tác: Hành (行).
4 Nguyên tác: Như thị thô (如是麤). Theo Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.56. 0608b06), “thô” (麤) mang nghĩa không sạch sẽ, không rạng rỡ (不光潔).
5 Nguyên tác: Nhược hữu số số hạnh, ý niệm tắc vi khổ, hoặc thôn hoặc tĩnh xứ, nhân thị tất hữu hối (若有數數行, 意念則為苦, 或村或靜處因是必有悔). Tham chiếu: A. 6.45 - III. 351: Tato anucaranti naṃ, saṅkappā mānasā dukhā; Gāme vā yadi vāraññe, yassa vippaṭisārajā. (Những tư tưởng khổ đau / Sanh ra từ hối hận / Vẫn truy tìm người ấy / Ở làng hoặc ở rừng), HT. Thích Minh Châu dịch.
6 Nguyên tác: Nhị câu giai hoạch lợi (二俱皆獲利): An lạc trong đời này (diṭṭhadhammahitatthāya) và an lạc trong đời sau (samparāyasukhāya).
7 Nguyên tác: Thứ cơ vô xan tham (庶幾無慳貪). Thứ cơ (庶幾), Thiện Sanh kinh 善生經 (T.01. 0001.16. 0072a05) gọi là “cấp thí” (給施).
8 Vô thực lạc (無食樂, nirāmisaṃ sukhaṃ): An lạc không do vật thực.
9 Nguyên tác: Vô thượng đăng (無上燈): Vì có thể phá tan bóng tối phiền não nên gọi là “đèn vô thượng.”
10 Bản Hán, hết quyển 29.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.