Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
[0613b01] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Người tu Phạm hạnh có thể gặp tám nạn,2 còn gọi là tám trường hợp phi thời.3 Là tám trường hợp nào? Khi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thuyết pháp; pháp được đấng Thiện Thệ giảng giải đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ, nhưng lúc đó người ấy đang ở trong địa ngục. Đó gọi là chướng ngại thứ nhất hay trường hợp phi thời thứ nhất đối với người tu Phạm hạnh.
Lại nữa, khi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thuyết pháp; pháp được đấng Thiện Thệ giảng giải đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ, nhưng lúc đó người ấy đang ở trong loài súc sanh, trong loài ngạ quỷ, đang ở cõi trời Trường Thọ,4 hoặc ở nơi biên địa hẻo lánh, không có chánh tín, không hiểu ân nghĩa, không biết báo ân,5 không có các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di. Đó gọi là chướng ngại hay trường hợp phi thời thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm đối với người tu Phạm hạnh.6
Lại nữa, khi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thuyết pháp; pháp được đấng Thiện Thệ giảng giải đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ, người ấy tuy đang sống nơi thị thành văn minh, nhưng lại bị câm điếc, thường dùng tay ra hiệu, không thể đàm luận những việc tốt xấu. Đó gọi là chướng ngại hay trường hợp phi thời thứ sáu đối với người tu Phạm hạnh.
Lại nữa, khi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thuyết pháp; pháp được đấng Thiện Thệ giảng giải đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ, người ấy tuy sống nơi thị thành văn minh, không điếc, không câm, không ngọng nghịu, không phải dùng tay thay lời, có thể đàm luận những việc tốt xấu, nhưng lại nhận thức tà vạy, điên đảo. Vị ấy thấy như vầy và nói như vầy: “Không có bố thí, không có tế tự,7 không có chú nguyện chúc phước,8 không có nghiệp thiện ác, không có nghiệp báo thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không cha không mẹ, trên đời không có chân nhân9 nào được sanh về cõi lành, khéo đi, khéo đến, ở cõi này cõi kia, tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú.” Đó gọi là chướng ngại thứ bảy hay trường hợp phi thời thứ bảy đối với người tu Phạm hạnh.
Lại nữa, lúc đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn không thị hiện ở đời, cũng không thuyết pháp, nên không được nghe đấng Thiện Thệ thuyết giảng giáo pháp đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ, dù cho người ấy đang sống nơi thị thành văn minh, không điếc, không câm, không ngọng nghịu, không phải dùng tay thay lời, có thể đàm luận những việc tốt xấu, có chánh kiến, không thấy biết điên đảo, vị ấy thấy như vầy và nói như vầy: “Có bố thí, có tế tự, cũng có chú nguyện chúc phước, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có cõi này cõi kia, có cha có mẹ, trên đời có chân nhân sanh về cõi lành, khéo đi, khéo đến, ở cõi này cõi kia, tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú.” Đây là chướng ngại thứ tám hay trường hợp phi thời thứ tám đối với người tu Phạm hạnh.
[0613c10] Có một trường hợp đúng thời, không phải là chướng ngại đối với người tu Phạm hạnh. Thế nào gọi là có một trường hợp đúng thời, không phải là chướng ngại đối với người tu Phạm hạnh? Đó là khi đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn thị hiện ở đời thuyết pháp; pháp được đấng Thiện Thệ giảng giải đưa đến an tịnh, tịch diệt, giác ngộ. Bấy giờ, người ấy đang sống nơi thị thành văn minh, không điếc, không câm, không ngọng nghịu, không phải dùng tay thay lời, có thể đàm luận những việc tốt xấu, có chánh kiến, không thấy biết điên đảo, vị ấy thấy như vầy và nói như vầy: “Có bố thí, có tế tự, có chú nguyện chúc phước, có nghiệp thiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có cõi này cõi kia, có cha có mẹ, trên đời có chân nhân sinh về cõi lành, khéo đi, khéo đến, ở cõi này cõi kia tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú.” Đây gọi là đúng thời, không phải là chướng ngại đối với người tu Phạm hạnh.
Khi ấy, Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu được làm thân người,
Pháp được thuyết vi diệu,
Mà không chứng đạo quả,
Tất không được gặp thời.
Nhiều chướng ngại Phạm hạnh,
Nếu người ở đời sau,
Mà gặp được đúng thời,
Là việc khó trong đời.
Muốn được lại thân người,
Và nghe pháp vi diệu,
Hãy tinh tấn tu học,
Mình tự thương mình thôi.
Luận bàn, nghe pháp lành,
Chớ để mất cơ hội,
Nếu để mất đi rồi,
Ắt lo đọa địa ngục.
Nếu không gặp đúng thời,
Không nghe được pháp lành,
Như người buôn mất của,
Chịu sanh tử vô cùng.
Nếu có được thân người,
Nghe Chánh pháp, thiện pháp,
Vâng lời Thế Tôn dạy,
Chắc chắn sẽ gặp thời.
Nếu đã gặp đúng thời,
Siêng tu chánh Phạm hạnh,
Được Pháp nhãn vô thượng,
Đấng Nhật Thân10 đã dạy,
Phải thường tự giữ gìn,
Gắng tu, dứt ràng buộc,
Đoạn trừ mọi kiết sử,
Hàng ma, quyến thuộc ma,
Vượt thoát khỏi thế gian,
Diệt sạch các lậu hoặc.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Bát nạn kinh 八難經 (T.01. 0026.124. 0613a27). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125. 42.1. 0747a07); A. 8.29 - IV. 225.
2 Nguyên tác: Bát nạn (八難, aṭṭhakkhaṇā): Tám sự khó khăn, chướng ngại.
3 Phi thời (非時): Không gặp thời, không có cơ hội.
4 Nguyên tác: Trường Thọ thiên (長壽天), cõi trời này thọ 500 kiếp, tức Vô Tưởng thiên (無想天) thuộc cõi Sắc (色界). Ngoại đạo tu hành phần nhiều sanh về cõi này, bị chướng ngại không được thấy Phật nghe pháp.
5 Nguyên tác: Phản phục (反復).
6 Nguyên tác: Chỉ ghi nạn thứ 5 (第五難) mà không đề cập đến nạn 2, 3 và 4. Bản dịch thêm vào để tạo sự nối kết, liền lạc.
7 Nguyên tác: Vô trai (無齋). Xem chú thích 3, kinh số 15, tr. 84.
8 Nguyên tác: Chú thuyết (呪說). Xem chú thích 4, kinh số 15, tr. 84.
9 Chân nhân (真人), thường chỉ cho các bậc A-la-hán (阿羅漢, Arahant), là những vị đã chứng ngộ giải thoát, hoặc chỉ cho Phật, hoặc chỉ cho các bậc Thánh nhân tu tập và chứng đắc chánh đạo.
10 Nhật Thân (日親, Ādiccabandhu): Dòng Họ Mặt Trời, chỉ cho dòng họ Thích, ở đây chỉ Thế Tôn.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.