Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng năm trăm vị Tỳ-kheo du hóa và an cư mùa mưa tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa, thuộc thành Vương Xá.
Khi ấy, vào ngày rằm,2 là ngày Thế Tôn thuyết Biệt giải thoát.3 Vào giờ Tự tứ,4 Như Lai trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo và bảo:
– Ta là Phạm chí đã chứng đắc Niết-bàn,5 thành bậc Vô Thượng Y Vương. Ngày nay, Ta thọ thân này là thân sau cùng. Ta là Phạm chí đã chứng đắc Niếtbàn, thành bậc Vô Thượng Y Vương. Ngày nay, Ta thọ thân này là thân rốt sau. Các thầy là con chân chánh của Ta, thọ sanh từ miệng, hóa sanh từ pháp. Các thầy là con chân chánh của Ta, thọ sanh từ miệng, hóa sanh từ pháp thì các thầy hãy dạy bảo lẫn nhau, khuyên răn lẫn nhau.
Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất đang ở trong chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai phải, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Ngài vừa nói: “Ta là Phạm chí đã chứng đắc Niết-bàn, thành bậc Vô Thượng Y Vương. Ngày nay, Ta thọ thân này là thân sau cùng. Ta là Phạm chí đã chứng đắc Niết-bàn, thành bậc Vô Thượng Y Vương. Ngày nay, Ta thọ thân này là thân rốt sau. Các thầy là con chân chánh của Ta, thọ sanh từ miệng, hóa sanh từ pháp. Các thầy là con chân chánh của Ta, thọ sanh từ miệng, hóa sanh từ pháp thì các thầy hãy dạy bảo lẫn nhau, khuyên răn lẫn nhau.” Với những ai chưa điều phục, Thế Tôn khiến họ được điều phục. Những ai chưa tịch tĩnh, Ngài khiến họ được tịch tĩnh. Những ai chưa độ thoát, Ngài khiến họ được độ thoát. Những ai chưa giải thoát, Ngài khiến họ được giải thoát. Những ai chưa tịch diệt, Ngài khiến họ được tịch diệt. Những ai chưa đắc đạo, Ngài khiến họ được đắc đạo. Những ai chưa kiến lập Phạm hạnh, Ngài khiến họ được kiến lập Phạm hạnh. Thế Tôn là bậc Tri Đạo, Giác Đạo, Thức Đạo, Thuyết Đạo.6 Đệ tử Thế Tôn sau đó được đắc pháp, vâng theo lời dạy, tiếp nhận lời khiển trách. Sau khi thọ giáo, tiếp nhận lời khiển trách sẽ noi theo lời Thế Tôn dạy, dốc chí tu hành, được thành tựu như ý muốn, khéo biết Chánh pháp. Kính bạch Thế Tôn, Ngài có điều gì phiền lòng về những việc làm từ thân, miệng, ý của con hay không?
[0610b04] Khi ấy, Thế Tôn bảo:
– Này Xá-lợi-phất! Ta không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của thầy. Vì sao như vậy? Này Xá-lợi-phất, thầy là bậc trí tuệ sáng suốt, trí tuệ siêu xuất, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ linh hoạt, trí tuệ sắc bén, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ sâu xa, trí tuệ xuất ly, trí tuệ thấu đáo.7 Này Xá-lợi-phất, thầy đã thành tựu thật tuệ. Này Xá-lợi-phất, ví như Chuyển Luân Vương có thái tử không trái phạm lời khuyên dạy, lãnh thọ lời dạy của vua cha và về sau cũng có thể truyền thừa. Cũng vậy, này Xá-lợi-phất, Ta chuyển pháp luân, thầy cũng có thể chuyển được. Xá-lợi-phất, thế nên Ta không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của thầy.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại chắp tay hướng về Thế Tôn, thưa:
– Bạch Thế Tôn! Tuy Ngài không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của con, nhưng Thế Tôn có phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của năm trăm vị Tỳ-kheo này chăng?
Đức Thế Tôn bảo:
– Này Xá-lợi-phất! Ta cũng không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của năm trăm Tỳ-kheo này. Vì sao như vậy? Vì năm trăm Tỳ- kheo này đều chứng đắc Vô trước,8 dứt sạch hết các lậu, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, gánh nặng đã đặt xuống, trừ sạch các kiết sử, đã thành tựu chánh trí,9 đã giải thoát hoàn toàn, chỉ trừ một Tỳ-kheo10 mà trước kia Ta cũng đã thọ ký rằng sẽ chứng đắc Cứu cánh trí ngay trong đời này và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Này Xá-lợi-phất! Thế nên Ta không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của năm trăm Tỳ-kheo này.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại chắp tay hướng về Thế Tôn, thưa:
– Bạch Thế Tôn! Ngài không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của con, cũng không phiền lòng về những điều đã làm từ thân, miệng, ý của năm trăm Tỳ-kheo này. Như vậy, thưa Thế Tôn! Trong số năm trăm thầy Tỳ-kheo này có bao nhiêu thầy chứng đắc Tam minh đạt?11 Bao nhiêu thầy thành tựu Câu giải thoát?12 Bao nhiêu thầy thành tựu Tuệ giải thoát?
Đức Phật bảo:
– Này Xá-lợi-phất! Trong năm trăm vị Tỳ-kheo này, có chín mươi Tỳ-kheo thành tựu Tam minh đạt, chín mươi Tỳ-kheo thành tựu Câu giải thoát, số Tỳ- kheo còn lại thành tựu Tuệ giải thoát. Xá-lợi-phất, trong chúng này không có cành lá, cũng không có đốt cong mà chỉ toàn hạt chắc, thanh tịnh, đều đã ở vào địa vị chân chánh.
Bấy giờ, Tôn giả Bàng-kỳ-xá13 cũng có mặt ở trong chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai phải, chắp tay hướng Phật, thưa:
– Bạch Thế Tôn! Kính mong Ngài gia trì oai lực cho con! Mong đức Thiện Thệ gia trì oai lực cho con, khiến con được ở trước Phật và chúng Tỳ-kheo, dùng đúng nghĩa tương ưng làm kệ khen ngợi.
[0610c02] Thế Tôn bảo:
– Này Bàng-kỳ-xá! Thầy muốn gì thì cứ tùy ý.
Khi ấy, Tôn giả Bàng-kỳ-xá ở trước đức Phật và chúng Tỳ-kheo dùng đúng nghĩa tương ưng làm kệ khen ngợi:
Nay rằm, ngày Tự tứ,
Năm trăm chúng tụ về,
Đoạn trừ mọi trói buộc,
Bậc Tiên nhân vô ngại.14
Thanh tịnh ngời quang minh,
Giải thoát tất cả hữu,
Hết sanh, già, bệnh, chết,
Phiền não đã diệt xong.
Trạo hối và nghi kết,
Mạn, hữu lậu đã trừ,
Nhổ sạch gai ái kết,
Thành Vô Thượng Y Sư.
Dõng mãnh như sư tử,
Mọi sợ hãi dứt trừ,
Vượt qua dòng sanh tử,
Các lậu đã diệt xong.
Cũng như Chuyển Luân Vương,
Được quần thần vây quanh,
Thống lãnh toàn cõi đất,
Ra đến tận đại dương.
Bậc Thượng Chủ Tối Tôn,
Dõng mãnh phục vô thượng,
Đệ tử hằng cung kính,
Tam minh, lìa sợ chết.
Tất cả là con Phật,
Tỉa sạch cành, lá, đốt,
Chuyển pháp luân vô thượng,
Kính lạy đấng Thế Tôn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Thỉnh thỉnh kinh 請請經 (T.01. 0026.121. 0610a08). Tham chiếu: Thọ tân tuế kinh 受新歲經 (T.01. 0061. 0858a11); Tân tuế kinh 新歲經 (T.01. 0062. 0859a25); Giải hạ kinh 解夏經 (T.01. 0063. 0861b10); Tạp. 雜 (T.02. 0099.1212. 0330a04); Biệt Tạp. 別雜 (T.02. 0100.228. 0457a29); Tăng. 增 (T.02. 0125.32.5. 0676b28); S. 8.7 - I. 410.
2 Tham chiếu: Thọ tân tuế kinh 受新歲經 (T.01. 0061. 0858a11): Ngày rằm tháng Bảy.
3 Nguyên tác: Tùng giải thoát (從解脫, Pāṭimokkha).
4 Nguyên tác: Tương thỉnh thỉnh thời (相請請時): Lúc thỉnh giáo lẫn nhau, tức là trong lễ Tự tứ, các Tỳ-kheo theo giới luật mà thưa hỏi về những điều được thấy, được nghe, được nghi để chỉ bày lỗi lầm cho nhau, để cùng sám hối. Sau khi sám hối thanh tịnh tức lễ Tự tứ hoàn tất, các Tỳ-kheo được thêm một tuổi hạ, nên Tự tứ (Pavāraṇā) còn được dịch là Thọ tuế.
5 Nguyên tác: Diệt (滅), viết tắt của “Tịch diệt” (寂滅), tức là “Niết-bàn” (Nibbāna), là cảnh giới mát mẻ, nguội lạnh, diệt tắt (lửa phiền), giải thoát, an vui tuyệt đối.
6 Tri Đạo, Giác Đạo, Thức Đạo, Thuyết Đạo (知道, 覺道, 識道, 說道). Tham chiếu: Giải hạ kinh 解夏經 (T.01. 0063. 0861b10): Như Lai đã khéo liễu tri về chánh đạo, khéo giảng bày về chánh đạo, khai thị chánh đạo (如來善了正道, 善說正道, 開示正道).
7 Thông tuệ (聰慧, paṇḍitapaññā), đại tuệ (大慧, mahāpaññā), tốc tuệ (速慧, hāsapaññā), tiệp tuệ (捷慧, javapaññā), lợi tuệ (利慧, tikkhapaññā), quảng tuệ (廣慧, putthupaññā), thâm tuệ (深慧, gambhīrapaññā), xuất yếu tuệ (出要慧, nissaraṇapaññā), minh đạt tuệ (明達慧, nibbedhikāpaññā). Xem chú thích 10, kinh số 27, tr. 169. Xem thêm S. V. 412-13.
8 Vô trước (無著, asaṅga): Không còn dính mắc, chấp trước.
9 Nguyên tác: Chánh trí (正智, sammā ñāṇa), chỉ cho trí tuệ hợp với chánh lý.
10 Có khả năng chỉ cho Tôn giả A-nan.
11 Tam minh đạt (三明達). Với bậc A-la-hán gọi là Tam đạt (三達), với đức Phật gọi là Tam minh (三明).
12 Câu giải thoát (俱解脫). Xem chú thích 34, kinh số 97, tr. 651.
13 Bàng-kỳ-xá (傍耆舍, Vaṅgīsā): Vị Tỳ-kheo trước đây thuộc gia đình Bà-la-môn, rất thông suốt các tập Vệ-đà, am tường y thuật và giỏi về kệ tụng.
14 Nguyên tác: Vô ngại hữu tận tiên (無礙有盡仙).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.