Viện Nghiên Cứu Phật Học

119. KINH CƠ SỞ ĐÀM LUẬN1
 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Ở đây, chỉ có ba cơ sở để đàm luận,2 chứ không có bốn hay năm. Nếu Tỳ- kheo đã thấy, rồi nhân sự thấy đó mà nói về một vấn đề rằng: “Tôi thấy, nghe, hiểu, biết” thì Tỳ-kheo nên nói: “Đây là điều tôi biết.”

   Ba cơ sở để đàm luận đó là gì? Tỳ-kheo nhân sự kiện trong đời quá khứ mà nói:3 “Đời quá khứ có sự kiện như vậy.” Tỳ-kheo nhân sự kiện trong đời vị lai mà nói: “Đời vị lai sẽ có sự kiện như vậy.” Tỳ-kheo nhân sự kiện trong đời hiện tại mà nói: “Đời hiện tại có sự kiện như vậy.” Đó gọi là ba cơ sở để đàm luận chứ không có bốn hay năm. Nếu Tỳ-kheo đã thấy, rồi nhân sự thấy đó mà nói: “Tôi thấy, nghe, hiểu, biết” thì Tỳ-kheo nên nói: “Đây là điều tôi biết.” Do những điều được nói mà khéo thông hiểu4 được nghĩa, do không được nói mà không khéo thông hiểu được nghĩa.

   Vị đệ tử Hiền thánh nhất tâm nghe pháp bằng cả hai tai. Sau khi nhất tâm nghe pháp bằng cả hai tai, vị ấy đoạn trừ một pháp, tu một pháp, chứng đắc một pháp. Sau khi đoạn trừ một pháp, tu một pháp, chứng đắc một pháp, vị ấy liền được chánh định. Vị đệ tử Hiền thánh sau khi tâm đã được chánh định liền đoạn trừ tất cả tham, sân, si.5 Như vậy, vị đệ tử Hiền thánh chứng đắc tâm giải thoát, giải thoát rồi liền nhận biết mình đã giải thoát và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”

   Do điều vừa được nói đó nên có bốn trường hợp để quan sát người, cho rằng Hiền giả này có thể cùng bàn luận, hoặc không thể cùng bàn luận. Nếu Hiền giả này với câu hỏi khẳng định mà không trả lời khẳng định,6 với câu hỏi phân biệt mà không trả lời phân biệt,7 với câu hỏi phản vấn mà không trả lời phản vấn,8 với câu hỏi cần để qua một bên mà không biết để qua một bên.9 Như vậy, Hiền giả ấy không thể cùng nói chuyện, cũng không thể cùng thảo luận.

   Nếu Hiền giả này với câu hỏi khẳng định mà trả lời khẳng định, với câu hỏi phân biệt mà trả lời phân biệt, với câu hỏi phản vấn mà trả lời phản vấn, với câu hỏi cần để qua một bên thì để qua một bên. Như vậy Hiền giả này là người có thể cùng nói chuyện, cũng có thể cùng thảo luận.

  [0609b01] Lại nữa, do điều được nói nên lại có bốn trường hợp để quan sát người, cho rằng có thể cùng bàn luận, hoặc không thể cùng bàn luận với Hiền giả này. Nếu Hiền giả này không xác định được trường hợp nào đúng, trường hợp nào không đúng; không xác định được điều mình biết; không xác định được ví dụ; không xác định được phương pháp thì không thể cùng bàn luận, cũng không thể cùng thảo luận với Hiền giả này. Trái lại, nếu Hiền giả này xác định được trường hợp nào đúng, trường hợp nào không đúng; xác định được điều mình biết; xác định được ví dụ; xác định được phương pháp thì có thể cùng bàn luận, cũng có thể cùng luận giải với Hiền giả này.

   Trong khi luận thuyết, nếu người biểu hiện phong thái trầm tĩnh, xả bỏ kiến chấp của mình, xả bỏ tâm oán kết, xả bỏ tham dục, xả bỏ sân hận, xả bỏ si ám, xả bỏ kiêu mạn, xả bỏ sự che giấu,10 xả bỏ ganh ghét, không háo thắng, không hạ thấp người, không chấp khuyết điểm của người, thường phân tích và giảng giải,11 sau khi phân tích và giảng giải xong thì dạy bảo và khuyên dừng, tự mình hoan hỷ, khiến người cùng hoan hỷ. Người với sự phân tích như vậy, giảng giải12 như vậy đó chính là sự phân tích của bậc Thánh, là sự giảng giải của bậc Thánh, nghĩa là vị này đã đạt đến cứu cánh vô lậu.

Bấy giờ, đức Thế Tôn nói kệ:

Nếu tranh cãi luận bàn,
Ý loạn, tâm cống cao,
Phỉ báng, nghịch Thánh đức,
Tìm khuyết điểm của nhau,
Chỉ mong tìm lỗi người,
Ý muốn khuất phục họ,
Tranh nhau mong cầu thắng,
Bậc Thánh không làm vậy.
Nếu mong được luận nghị,
Người trí nên biết thời,
Có pháp và có nghĩa,
Cách chư Thánh luận bàn.
Người trí nói như vầy:
Không tranh, không cống cao,
Tâm không có nhàm đủ,
Không kết, không não phiền,
Tùy thuận, không đảo điên,
Tỉnh giác rồi hãy nói,
Khéo nói đó chính là,
Trọn đời không nói ác.
Không vì tranh mà luận,
Cũng chẳng tranh với người,
Biết chỗ và tùy thời,13
Là căn cứ để luận.
Như lời Thánh nhân nói,
Bậc trí được hai đường:14
Đời này được an vui,
Đời sau cũng như vậy,
Người thông đạt khi nói,
Không điên đảo, tùy người.15

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Ghi chú

1 Nguyên tác: Thuyết xứ kinh 說處經 (T.01. 0026.119. 0609a06). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197.
2 Nguyên tác: Tam thuyết xứ (三說處). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Tīṇi kathāvatthūni (3 cơ sở để đàm luận). A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.03. 0378c23-0379b02) gọi là “tam ngôn y” (三言依): “Quá khứ ngôn y” (過去言依), “vị lai ngôn y” (未來言依), “hiện tại ngôn y” (現在言依).
3 Nhân quá khứ thuyết nhi thuyết (因過去說而說). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Atītaṃ vā addhānaṃ ārabbha kathaṃ katheyya (có thể nói về vấn đề liên hệ thời quá khứ).
4 Nguyên tác: Tập (習): Thông hiểu (通曉).
5 Nguyên tác: Dâm (婬), nộ (怒), si (癡).
6 Nguyên tác: Nhất hướng luận (一向論). Chúng tập kinh 眾集經 (T.01. 0001.9. 0051b01) ghi: Quyết định ký luận (決定記論). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Ekaṃsabyākaraṇīyaṃ (trả lời một cách dứt khoát).
7 Nguyên tác: Phân biệt luận (分別論). Chúng tập kinh 眾集經 (T.01. 0001.9. 0051b01) ghi: Phân biệt ký luận (分別記論). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Vibhajjabyākaraṇīyaṃ (trả lời một cách chi tiết).
8 Nguyên tác: Cật luận (詰論). Chúng tập kinh 眾集經 (T.01. 0001.9. 0051b01) ghi: Cật vấn ký luận (詰問記論). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Paṭipucchābyākaraṇīyaṃ (trả lời với một câu hỏi ngược lại).
9 Nguyên tác: Chỉ luận (止論). Chúng tập kinh 眾集經 (T.01. 0001.9. 0051b02) ghi: Chỉ trụ ký luận (止住記論). Tham chiếu: A. 3.67 - I. 197: Thapanīyaṃ pañhaṃ ṭhapeti (gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên).
10 Nguyên tác: Bất ngữ (不語, makkha): Che giấu. Xem chú thích 6, kinh số 89, tr. 603.
11 Thuyết nghĩa thuyết pháp (說義說法): Phân tích và giảng giải. Theo Hán dịch A-hàm kinh từ điển (漢譯阿含經辭典): 義說為解析; 法說, 作教導解.
12 Nguyên tác: Thuyết sự (說事), một cách viết khác là “ngôn sự” (言事:訴說或陳述事情).
13 Nguyên tác: Tri xứ cập thuyết xứ (知處及說處): Xứ (處) trong “tri xứ” (知處), chỉ cho nơi chỗ, cơ sở (ṭhāna). Xứ (處) trong “thuyết xứ” (說處) chỉ cho 3 thời quá khứ, hiện tại và tương lai.
14 Nguyên tác: Câu đắc nghĩa (俱得義): Thành tựu mọi ý nghĩa.
15 Nguyên tác: Phi đảo phi thường thuyết (非倒非常說), một cách diễn dịch khác của câu trên: 隨順 不顛. Theo Hán dịch A-hàm kinh từ điển (漢譯阿含經辭典): 不顛倒, 隨聽者的可接受情形而說.
 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.