Viện Nghiên Cứu Phật Học

117. KINH NHU HÒA1
 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Thuở trước, khi xuất gia học đạo, chính Ta đã ra đi từ nơi sung túc nhất, từ chốn thong dong, nhàn nhã, hạnh phúc nhất, từ cuộc sống ấm êm nhất.2 Lúc còn tại gia, Ta được Vua cha Duyệt-đầu-đàn3 xây cho ba cung điện: Cung điện để ở vào mùa xuân, cung điện để ở vào mùa hạ và cung điện để ở vào mùa đông.

Vì Ta thích dạo chơi nên cách cung điện không xa lại xây các loại ao hồ trồng nhiều loài hoa khác nhau, như ao hoa sen xanh, ao hoa sen hồng, ao hoa sen đỏ và ao hoa sen trắng. Trong ao đó trồng các loại hoa sống trong nước, như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng. Nước trong ao luôn đầy, hoa nở đều đặn, khiến người chăm sóc ao vườn không thể biết hết.

Vì Ta thích du ngoạn nên trên bờ ao trồng các loại hoa mọc ở đất liền, như hoa tu-ma-na, hoa bà-sư, hoa chiêm-bặc, hoa tu-kiền-đề, hoa ma-đầu-kiền-đề, hoa a-đề-mâu-đa và hoa ba-la-đầu.

Vì Ta thích vui chơi nên vua cha sai bốn người hầu tắm rửa cho Ta. Tắm cho Ta xong, lại xoa hương chiên-đàn đỏ khắp thân, rồi mặc áo gấm lụa mới, trên dưới, trong ngoài toàn là trang phục mới. Vì sợ ban đêm bị thấm sương, ban ngày da bắt nắng nên vua cha sai người cầm lọng che cho Ta suốt cả ngày đêm.

Trong khi nhà dân thường được ăn lúa mì thô, cơm gạo tẻ, cháo đậu, rau gừng và cho đó là món ăn bậc nhất thì người hầu hàng thấp nhất của Phụ vương Duyệt-đầu-đàn của Ta lại cho rằng nếp trắng, thức ăn thịnh soạn mới là món ăn bậc nhất. Lại nữa, thường ngày Ta được thưởng thức những món ăn từ các loại thực phẩm ngon nhất sống ở nơi đồng nội, như các loài chim đề-đế-la-hòa-tra, kiếptân-xà-la, hề-mễ-hà, lê-nê-xa, thi-la-mễ.4
Ta còn nhớ thuở xưa, lúc còn ở với Vua cha Duyệt-đầu-đàn, suốt bốn tháng mùa mưa sống trong cung điện, hoàn toàn không có người nam, Ta chỉ vui chơi cùng các thể nữ, không rời khỏi cung điện.

Khi Ta muốn dạo vườn ngự uyển liền có ba mươi kỵ binh xuất sắc được tuyển chọn với những nghi vệ trước sau, hộ tống dẫn đường, huống nữa là những việc khác. Ta có mọi điều như ý muốn5 và cuộc sống cực kỳ êm ấm này.

Ta còn nhớ thuở xưa, có lần đi thăm đồng ruộng, thấy người nông phu nghỉ ngơi trên cánh đồng, Ta liền đến bên gốc cây Diêm-phù ngồi kiết-già, lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện, có giác có quán, được hỷ lạc do lìa dục sanh, chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất. Ta thầm nghĩ: “Kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, mặc dù chính mình có bệnh, không tránh khỏi tật bệnh, nhưng thấy người bệnh tật lại chán ghét khinh bỉ, không ưa không thích và không tự xem xét lại mình.”

Ta lại nghĩ: “Thân Ta vốn có bệnh, không tránh khỏi tật bệnh, nếu Ta thấy người bị bệnh mà chán ghét khinh bỉ, không ưa, không thích thì không nên, vì Ta cũng có pháp ấy.” Quán sát như vậy rồi, tâm cống cao phát khởi do không có tật bệnh liền tự tiêu diệt.

Ta lại nghĩ: “Kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, mặc dù bản thân có sự già, không tránh khỏi sự già, nhưng khi thấy người già lại chán ghét khinh bỉ, không ưa không thích và không tự soi xét mình.”

[0608a11] Rồi Ta lại nghĩ: “Ta vốn có sự già, không tránh khỏi sự già. Nếu Ta thấy người già mà chán ghét khinh bỉ, không ưa không thích thì không nên, vì Ta cũng có pháp ấy.” Quán sát như vậy rồi, tâm cống cao phát khởi do sống trường thọ liền tự tiêu diệt.

Kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, vì chưa bị bệnh nên tự cao về dòng dõi hào quý rồi buông lung, tham dục mà sanh si mê, không tu tập Phạm hạnh. Kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, vì tuổi trẻ nên tự cao về dòng dõi hào quý, rồi buông lung, tham dục mà sanh si mê, không tu tập Phạm hạnh. Kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, vì sống thọ nên tự cao về dòng dõi hào quý, rồi buông lung, tham dục mà sanh si mê, không tu tập Phạm hạnh.

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Bệnh tật, già nua,
Và sự chết chóc,
Có tự ngàn xưa,
Phàm phu chẳng ưa.
Nếu Ta chán ghét,
Chẳng chịu vượt qua,
Đừng nên như vậy,
Ta cũng thế mà!
Ai sống như vầy,
 Biết pháp lìa sanh,
Tuổi trẻ chưa bệnh,
Sống thọ kiêu căng.
Liền đoạn tâm kiêu,
Vô dục an ổn,
Người ấy giác ngộ,
Không còn sợ dục,
Chứng Vô tưởng định,
Tịnh tu Phạm hạnh.

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Ghi chú

1 Niệm tụng (thứ ba). Quyển 29. Nguyên tác: Nhu nhuyến kinh 柔軟經 (T.01. 0026.117. 0607c04). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.22.8. 0608b16); A. 3.39 - I. 145; A. 5.57 - III. 71.
2 Nguyên tác: Thung dung nhàn lạc, cực nhu nhuyến (從容閑樂極柔輭). Tham chiếu: A. 3.39 - I. 145: Sukhumālo ahaṃ, bhikkhave, paramasukhumālo accantasukhumālo (Này các Tỷ-kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, tối thắng nuôi dưỡng tế nhị, cứu cánh nuôi dưỡng tế nhị), HT. Thích Minh Châu dịch.
3 Duyệt-đầu-đàn (悅頭檀, Suddhodana) phiên âm theo cách chiết tự, tức Vua Tịnh Phạn.
4 Đề-đế-la-hòa-tra (提帝邏惒吒), kiếp-tân-xà-la (劫賓闍邏), hề-mễ-hà (奚米何), lê-nê-xa (犁泥奢), thi-la-mễ (施羅米).
5 Như ý túc (如意足, iddhipāda) thường được dịch là thần thông, ở đây có nghĩa là quyền uy.
 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.