Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo du hóa trong dân chúng Thích-ca và an cư mùa mưa trong vườn Ni-câu-loại, thuộc thành Ca-duy-la-vệ.2
Bấy giờ, Đại Ái Cù-đàm-di3 đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Người nữ có thể chứng đắc quả vị Sa-môn thứ tư được chăng? Từ nhân duyên ấy, người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo được chăng?
Đức Thế Tôn nói:
– Thôi, thôi! Cù-đàm-di! Dì chớ nên nghĩ rằng: “Người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.” Cù-đàm-di! Đúng ra4 dì [có thể] cạo bỏ tóc, khoác áo ca-sa, nguyện suốt đời tịnh tu Phạm hạnh.
Khi ấy, bị Phật ngăn cản, Đại Ái Cù-đàm-di liền lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo đang khâu vá y cho đức Phật. Đức Thế Tôn ngụ trong dân chúng Thích-ca không bao lâu, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa và việc khâu vá y cũng hoàn tất, Ngài liền đắp y, ôm bát du hành trong nhân gian.
Đại Ái Cù-đàm-di nghe tin các Tỳ-kheo đang khâu vá y cho đức Phật. Đức Thế Tôn ngụ trong dân chúng Thích-ca không bao lâu, sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa và việc khâu vá y cũng hoàn tất, Ngài liền đắp y, ôm bát du hành trong nhân gian. Biết vậy rồi, Đại Ái Cù-đàm-di lại đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Người nữ có thể đắc quả vị Sa-môn thứ tư được chăng? Từ nhân duyên ấy, người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo được chăng?
Đức Thế Tôn cũng đáp lại:
– Thôi, thôi! Cù-đàm-di! Dì chớ nên nghĩ rằng: “Người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.” Đúng ra dì [có thể] cạo bỏ tóc, khoác áo ca-sa, nguyện suốt đời tịnh tu Phạm hạnh.
[0605b02] Khi ấy, bị Phật ngăn cản lần thứ hai, Đại Ái Cù-đàm-di cúi đầu lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
Bấy giờ, đức Thế Tôn ngụ trong dân chúng Thích-ca đã qua ba tháng an cư mùa mưa, y áo được khâu vá xong, Ngài đắp y, ôm bát du hành trong nhân gian.
Đại Ái Cù-đàm-di nghe tin đức Thế Tôn sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa nơi dân chúng Thích-ca, y áo được khâu vá xong, Ngài đã đắp y, ôm bát du hành trong nhân gian. Đại Ái Cù-đàm-di cùng với các lão mẫu Xá-di5 lập tức chạy theo sau Phật, lần hồi đến Na-ma-đề,6 dừng lại trước tinh xá Kiền-ni7 thuộc thị trấn Na-ma-đề. Đại Ái Cù-đàm-di lại đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Người nữ có thể đắc quả vị Sa-môn thứ tư được chăng? Từ nhân duyên ấy, người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo được chăng?
Đức Thế Tôn lặp lại lần thứ ba:
– Thôi, thôi! Cù-đàm-di! Dì chớ nên nghĩ rằng: “Người nữ có thể ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.” Đúng ra dì [có thể] cạo bỏ tóc, khoác áo ca-sa, nguyện suốt đời tịnh tu Phạm hạnh.
Bị đức Thế Tôn ngăn cản lần thứ ba, Đại Ái Cù-đàm-di cúi đầu lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
Bấy giờ, Đại Ái Cù-đàm-di với đôi chân bê bết bùn đất, thân thể đầy bụi bặm,8 vô cùng mỏi mệt đứng ngoài cổng, buồn rầu khóc lóc. Tôn giả A-nan trông thấy Đại Ái Cù-đàm-di với đôi chân bê bết bùn đất, thân thể đầy bụi bặm, vô cùng mỏi mệt đứng ngoài cổng, buồn rầu khóc lóc, liền hỏi:
– Vì sao Cù-đàm-di chân bê bết bùn đất, thân thể đầy bụi bặm, vô cùng mỏi mệt đứng ngoài cổng, buồn rầu khóc lóc như vậy?
Đại Ái Cù-đàm-di đáp:
– Thưa Tôn giả A-nan! Người nữ không được ở trong giáo pháp, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.
Tôn giả A-nan nói:
– Cù-đàm-di hãy ở đây, tôi sẽ đến thưa việc này lên đức Phật.
Đại Ái Cù-đàm-di đáp:
– Kính vâng! Thưa Tôn giả.
Tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Phật, chắp tay hướng Phật rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn! Người nữ có thể đắc quả vị Sa-môn thứ tư được chăng? Từ nhân duyên ấy, người nữ có thể ở trong giáo pháp, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo được chăng?
[0605c01] Đức Thế Tôn bảo:
– Thôi, thôi! Này A-nan, thầy chớ nên nghĩ rằng: “Người nữ có thể ở trong giáo pháp, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.” A-nan! Nếu cho người nữ được ở trong giáo pháp này, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì Phạm hạnh này sẽ không được tồn tại lâu dài. A-nan! Ví như gia đình có nhiều người nữ, ít người nam thì gia đình này có hưng thịnh lên được không?
– Thưa không, Bạch Thế Tôn!
– Này A-nan! Cũng như thế, nếu cho người nữ được ở trong giáo pháp này, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì Phạm hạnh sẽ không được tồn tại lâu dài. Này A-nan! Ví như trong ruộng lúa nếp, ruộng lúa mì mà cỏ dại mọc đầy thì những đám ruộng đó chắc chắn sẽ bị hư hại. Cũng vậy, này A-nan! Nếu cho người nữ được ở trong giáo pháp này, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì phạm hạnh này sẽ không được tồn tại lâu dài.
Tôn-giả A-nan lại thưa:
– Bạch Thế Tôn! Đại Ái Cù-đàm-di đã đem lại cho Thế Tôn nhiều lợi ích. Vì sao như vậy? Vì sau khi thân mẫu Thế Tôn mất, Đại Ái Cù-đàm-di đã nuôi dưỡng Thế Tôn.
Đức Thế Tôn dạy:
– Đúng vậy, A-nan! Đúng vậy, A-nan! Đại Ái Cù-đàm-di đã đem lại cho Ta nhiều lợi ích, đã nuôi dưỡng Như Lai sau khi mẫu thân mất. Nhưng này A-nan, Ta cũng đem lại cho Đại Ái Cù-đàm-di nhiều lợi ích. Vì sao như vậy? Này A-nan, Đại Ái Cù-đàm-di nhờ Ta mà được quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Tam bảo và không nghi ngờ khổ, tập, diệt, đạo, thành tựu tín tâm, phụng trì giới cấm, học rộng tu khéo, thành tựu hạnh bố thí và được trí tuệ, xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xa lìa trộm cướp, đoạn trừ trộm cướp, xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm, xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, xa lìa uống rượu, đoạn trừ uống rượu. Này A-nan, nếu có người nhờ người khác mà được quy y Phật, quy y Pháp, quy y chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Tam bảo và không nghi ngờ khổ, tập, diệt, đạo, thành tựu tín tâm, giữ gìn giới cấm, học rộng tu khéo, thành tựu bố thí và được trí tuệ, xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xa lìa trộm cướp, đoạn trừ trộm cướp, xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm, xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, xa lìa uống rượu, đoạn trừ uống rượu thì này A-nan, giả như người ấy cúng dường cho người kia đầy đủ các vật dụng trong cuộc sống như y phục, thức ăn, giường nằm, thuốc thang,... (cho đến) trọn đời thì lẽ nào đó chẳng phải là được đền ơn?
Này A-nan! Nay Ta vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng,9 người nữ không được phạm, phải phụng trì suốt đời. Này A-nan! Ví như người đánh cá và đệ tử người đánh cá đắp đập ở khoảng nước sâu để giữ nước, không cho nước chảy ra ngoài. Cũng vậy, này A-nan! Nay Ta vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng, người nữ không được phạm, phải phụng trì suốt đời. Tám pháp gồm những gì?
Này A-nan! Tỳ-kheo-ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ nhất, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
[0606a07] Này A-nan! Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ-kheo. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ hai, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Nếu trụ xứ nào không có Tỳ-kheo thì Tỳ-kheo-ni không được an cư mùa mưa. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ ba, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Tỳ-kheo-ni sau khi an cư mùa mưa phải đối trước hai bộ chúng để thỉnh cầu chỉ rõ về ba việc: Thấy, nghe và nghi. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ tư, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo không cho phép Tỳ-kheo-ni thưa hỏi thì Tỳ-kheoni không được thưa hỏi Tỳ-kheo về Kinh, Luật hoặc A-tỳ-đàm. Nếu cho phép hỏi thì Tỳ-kheo-ni mới được thưa hỏi về Kinh, Luật hoặc A-tỳ-đàm. Này A-nan, Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ năm, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Tỳ-kheo-ni không được nói lỗi của Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được quyền nói lỗi của Tỳ-kheo-ni. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ sáu, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Tỳ-kheo-ni nếu phạm Tăng-già-bà-thi-sa10 thì phải đối trước hai bộ chúng để hành pháp bất mạn11 trong vòng mười lăm ngày. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ bảy, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Này A-nan! Tỳ-kheo-ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm vẫn phải khiêm cung, cúi đầu làm lễ, cung kính nương nhờ, chắp tay thưa hỏi Tỳ- kheo mới thọ giới Cụ túc. Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ tám, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
[0606b01] Này A-nan! Ta đã vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng này, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời. Này A-nan! Nếu Đại Ái Cù-đàm-di phụng trì tám pháp kính trọng đó thì được ở trong giáo pháp này mà xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, làm Tỳ-kheo-ni.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nghe đức Phật dạy, khéo nhận lãnh và ghi nhớ, cúi đầu lạy sát chân Phật, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra, đi đến chỗ Đại Ái Cù- đàm-di và nói:
– Cù-đàm-di! Người nữ đã được phép ở trong giáo pháp này, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Đại Ái Cù- đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì tám pháp kính trọng này suốt đời.
Tám pháp kính trọng đó là gì?
Cù-đàm-di! Tỳ-kheo-ni phải cầu thọ giới Cụ túc nơi Tỳ-kheo. Đại Ái Cù- đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ nhất, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Tỳ-kheo-ni cứ mỗi nửa tháng phải đến thọ giáo nơi Tỳ-kheo. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ hai, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Nếu nơi trụ xứ không có Tỳ-kheo thì Tỳ-kheo-ni không được an cư mùa mưa. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ ba, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Tỳ-kheo-ni sau khi an cư mùa mưa xong phải đối trước hai bộ chúng để thỉnh cầu chỉ rõ về ba việc: Thấy, nghe và nghi. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ tư, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Nếu Tỳ-kheo không cho phép Tỳ-kheo-ni thưa hỏi thì Tỳ-kheoni không được thưa hỏi Tỳ-kheo về Kinh, Luật hoặc A-tỳ-đàm. Nếu Tỳ-kheo cho phép hỏi thì Tỳ-kheo-ni mới được thưa hỏi về Kinh, Luật hoặc A-tỳ-đàm. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ năm, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Tỳ-kheo-ni không được nói lỗi của Tỳ-kheo, nhưng Tỳ-kheo được quyền nói lỗi của Tỳ-kheo-ni. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ sáu, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
[0606c01] Cù-đàm-di! Nếu Tỳ-kheo-ni phạm Tăng-già-bà-thi-sa thì phải đối trước hai bộ chúng để hành pháp bất mạn trong vòng mười lăm ngày. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ bảy, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Tỳ-kheo-ni dù đã thọ giới Cụ túc lâu đến một trăm năm vẫn phải khiêm cung, cúi đầu làm lễ, cung kính nương nhờ, chắp tay thưa hỏi Tỳ- kheo mới thọ giới Cụ túc. Đại Ái Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định pháp kính trọng thứ tám, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời.
Cù-đàm-di! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng này, người nữ không được trái phạm, phải phụng trì suốt đời. Đại Ái Cù-đàmdi! Đức Thế Tôn dạy như vầy: “Nếu Đại Ái Cù-đàm-di phụng trì tám pháp kính trọng ấy thì được ở trong Chánh pháp này xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, làm Tỳ-kheo-ni.”
Bấy giờ, Đại Ái Cù-đàm-di thưa:
– Thưa Tôn giả A-nan! Xin Tôn giả cho phép tôi nói ví dụ này, người trí tuệ nhờ nghe ví dụ mà hiểu rõ ý nghĩa. Thưa Tôn giả! Ví như các thiếu nữ đoan chánh xinh đẹp dòng Sát-lợi, Phạm chí, Tỳ-xá hay Thủ-đà-la12 được tắm gội sạch sẽ, dùng hương xoa khắp thân, mặc y phục mới, trang sức nhiều loại chuỗi ngọc. Có người thương tưởng đến các thiếu nữ ấy, mong muốn cho các cô được lợi ích và phước lành, được an ổn và hân hoan nên đem tràng hoa sen xanh, tràng hoa chiêm-bặc, tràng hoa tu-ma-na, tràng hoa bà-sư, hoặc tràng hoa a-đề-mưu-đa trao tặng cho các cô. Các thiếu nữ ấy vui mừng, hai tay nhận lãnh, đem cài lên đầu mình. Cũng vậy, thưa Tôn giả A-nan! Đức Thế Tôn đã vì người nữ mà chế định tám pháp kính trọng này, tôi nguyện nhận lãnh và phụng trì suốt đời.
Bấy giờ, Đại Ái Cù-đàm-di ở trong giáo pháp được xuất gia, học đạo, thọ giới Cụ túc, làm Tỳ-kheo-ni. Về sau, bà trở thành Đại Tỳ-kheo-ni, cùng các Trưởng lão thượng tôn Tỳ-kheo-ni là những vị danh tiếng trong hàng vương giả tu hành Phạm hạnh đã lâu, đi đến chỗ Tôn giả A-nan, cúi đầu làm lễ, đứng sang một bên rồi thưa:
– Thưa Tôn giả A-nan! Xin Ngài biết cho, các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thượng tôn này là những vị danh tiếng trong hàng vương giả, tu hành Phạm hạnh đã lâu, còn các Tỳ-kheo kia nhỏ tuổi, mới học đạo, xuất gia sau, vào trong giáo pháp này chưa được bao lâu. Mong rằng các Tỳ-kheo ấy đối với các Tỳ- kheo-ni nên tùy theo lớn nhỏ mà cúi đầu làm lễ, cung kính chắp tay thưa hỏi.
[0607a03] Khi ấy, Tôn giả A-nan nói:
– Cù-đàm-di hãy ở đây, tôi sẽ đi đến chỗ đức Phật thưa hỏi về việc này!
Đại Ái Cù-đàm-di thưa:
– Kính vâng, thưa Tôn giả A-nan!
Tôn giả A-nan đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Phật rồi đứng sang một bên, chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Hôm nay Đại Ái Cù-đàm-di và các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thượng tôn là những vị danh tiếng trong hàng vương giả tu hành Phạm hạnh đã lâu cùng đi đến chỗ của con, cúi đầu đảnh lễ sát chân con, rồi đứng sang một bên, chắp tay nói với con rằng: “Thưa Tôn giả A-nan! Các Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thượng tôn này là những vị danh tiếng trong hàng vương giả, tu hành Phạm hạnh đã lâu, còn các thầy Tỳ-kheo nhỏ kia còn nhỏ tuổi, mới học đạo, xuất gia sau, vào trong giáo pháp này chưa được bao lâu. Mong rằng các Tỳ-kheo ấy đối với Tỳ-kheo-ni nên tùy theo lớn nhỏ mà cúi đầu làm lễ, cung kính chắp tay thưa hỏi.”13
Đức Thế Tôn bảo:
– Thôi, thôi! Này A-nan, hãy cân nhắc lời nói này, hãy thận trọng, chớ nói điều đó. Này A-nan, giả sử thầy biết như những gì Như Lai biết thì một lời cũng không nên nói, huống nữa lại nói như vậy.
Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì các Phạm chí và cư sĩ sẽ lấy áo trải lên mặt đất rồi nói rằng: “Thưa Sa-môn tinh tấn! Ngài có thể đi lên trên này. Thưa Sa-môn tinh tấn! Ngài đã làm việc khó làm khiến chúng tôi luôn được lợi ích, được an ổn và hân hoan.”
Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì các Phạm chí và cư sĩ sẽ đem đầu tóc mình trải lên đất và nói rằng: “Thưa Sa-môn tinh tấn! Ngài có thể đi lên trên này. Thưa Sa-môn tinh tấn! Ngài đã làm việc khó làm khiến chúng tôi luôn được lợi ích, được an ổn và hân hoan.”
Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì các Phạm chí và cư sĩ khi trông thấy Sa-môn họ sẽ dùng hai tay bưng đủ loại thức ăn ra đứng bên đường chờ đợi và thưa: “Thưa chư Tôn! Xin hãy thọ nhận món ăn này, Ngài có thể mang đi rồi tùy ý thọ dụng để chúng tôi luôn được lợi ích, được an ổn và hân hoan.”
Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì các Phạm chí và cư sĩ nếu trông thấy Sa-môn tinh tấn liền khởi tâm kính mến, đón rước vào nhà, đem các tài vật ra cúng dường vị Sa-môn tinh tấn và thưa: “Thưa chư Tôn! Xin hãy thọ nhận tài vật này, Ngài có thể mang đi rồi tùy ý thọ dụng để cho chúng tôi luôn được lợi ích, được an ổn và hân hoan.”
[0607b04] Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì dù cho mặt trời, mặt trăng này có như ý túc lớn, có oai đức lớn, phước đức lớn và có oai thần lớn, nhưng đối trước đức oai thần của vị Sa-môn tinh tấn vẫn không thể sánh bằng, huống nữa là đối với hàng ngoại đạo ốm yếu, non nớt ấy.
Này A-nan! Nếu người nữ không được ở trong giáo pháp này với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì Chánh pháp sẽ tồn tại đến nghìn năm, nhưng nay đã mất hết một nửa, chỉ còn lại năm trăm năm.
Này A-nan! Có năm việc mà người nữ không làm được. Nếu bảo rằng người nữ được thành Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, hoặc Chuyển Luân Vương, Thiên Đế-thích, Ma vương hay Đại Phạm thiên thì điều này nhất định không thể có. A-nan nên biết, có năm việc mà người nam làm được. Nếu bảo rằng người nam được thành Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, hoặc Chuyển Luân Vương, Thiên Đế-thích, Ma vương hay Đại Phạm thiên thì điều này chắc chắn xảy ra.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.14
Ghi chú
1 Nguyên tác: Cù-đàm-di kinh 瞿曇彌經 (T.01. 0026.116. 0605a08). Tham chiếu: Cù-đàm-di ký quả kinh 瞿曇彌記果經 (T.01. 0060. 0856a04); Ma-ha-tăng-kỳ luật 摩訶僧祇律 (T.22. 1425.30. 0471a25- 0476b11); Tứ phần luật 四分律 (T.22. 1428.48. 0922c06-0923c12); Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da tạp sự 根本說一切有部毘奈耶雜事 (T.24. 1451.29. 0350b10-0351a25); A. 8.51 - IV. 274; Cv. 10. Xem chú thích 4, kinh số 12, tr. 67.
3 Đại Ái Cù-đàm-di (瞿曇彌大愛, Mahāpajāpatī Gotamī).
4 Nguyên tác: Như thị (如是), ngoài nghĩa thông dụng là “như vậy”, “như thị” (如是) còn mang nghĩa “đúng như thế, thật sự, quả thực”, có từ Pāli tương đương là yathā (như, đúng như, giống như…).
5 Xá-di (舍彌). Tham chiếu: A. 8.51 - IV. 274: Sākiyānī (người nữ trong dòng họ Thích-ca).
6 Na-ma-đề (那摩提). Tham chiếu: A. 8.51 - IV. 274: Nādika, còn được viết là Ñātika hoặc Nātika, là một thị trấn nằm giữa Koṭigāma và Vesāli.
7 Kiền-ni tinh xá (揵尼精舍). MĀ. 185 ghi là Kiền-kỳ tinh xá (揵祁精舍); M. 31 ghi là Giñjakāvasatha.
Theo DPPN, tinh xá này được xây dựng bằng gạch (giñjakā), đức Phật đã thuyết giảng nhiều bài kinh quan trọng tại đây.
8 Theo Tứ phần luật 四分律 (T.22. 1428.48. 0922c19), Đại Ái Cù-đàm-di đi bộ theo đức Phật đến nỗi bị rách cả bàn chân (步涉破脚).
9 Nguyên tác: Bát tôn sư pháp (八尊師法), tức “tám pháp tôn kính.” Cù-đàm-di ký quả kinh 瞿曇彌記 果經 (T.01. 0060. 0856a04) ghi: Bát trọng pháp (八重法); A. 8.51 - IV. 274: Attha garudhamma (tám kính pháp).
10 Tăng-già-bà-thi-sa (僧伽婆尸娑, Saṅghādisesa), thường được dịch là “Tăng tàn” (僧殘), với 17 điều khoản dành cho Tỳ-kheo-ni.
11 Hành bất mạn (行不慢): Tứ phần luật danh nghĩa tiêu thích 四分律名義標釋 (X.44. 0744.11. 0485c15) gọi là “Ma-na-đỏa” (摩那埵, Mānatta), hoặc “Ý hỷ” (意喜), là “pháp sám hối tội Tăng-già- bà-thi-sa” (僧伽婆尸娑, Saṅghādisesa). Với Tỳ-kheo thì thực hành pháp này riêng với chúng Tỳ-kheo trong thời gian 6 ngày cộng với thời gian giấu tội, nhưng với Tỳ-kheo-ni theo kinh này phải thực hành giữa hai bộ Tăng Ni, với thời gian 15 ngày.
12 Xem chú thích 7-8, kinh số 5, tr. 25.
13 Trong “bát tôn sư pháp” (八尊師法) vừa lãnh thọ, yêu cầu này đã trái phạm với điều thứ 8. Cullavagga (Cv. 10.521) ghi lại việc này rõ hơn. Nghĩa là, bà Mahāpajāpati Gotamī thông qua ngài Ānanda xin Phật cho phép Tỳ-kheo-ni và Tỳ-kheo-tăng lễ kính nhau theo sự thâm niên (yathāvuḍḍhaṃ). Đức Phật dạy: Này Ānanda, việc đức Như Lai có thể cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến nữ nhân là điều không có cơ sở và không hợp lý. Này Ānanda, bởi vì các ngoại đạo có kỷ luật không nghiêm khắc còn không thực hành sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến nữ nhân; vậy điều gì khiến Như Lai lại cho phép sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến nữ nhân? Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy đã thuyết pháp thoại rồi bảo các Tỳ-khưu rằng: “Này các Tỳ-khưu, không nên thực hiện sự đảnh lễ, sự đứng dậy chào, sự chắp tay, (và) hành động thích hợp đến nữ nhân; vị nào thực hiện thì phạm tội Dukkaṭa (Ác tác)” (Tỳ-khưu Indacanda dịch).
14 Bản Hán, hết quyển 28.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.