Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Thích-ca,2 thuộc thành Ca-duyla-vệ.3
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, đức Thế Tôn đắp y, ôm bát vào Ca-duy-la-vệ khất thực. Sau khi thọ thực, vào khoảng xế trưa, Ngài thu dọn y bát, rửa tay chân, lấy tọa cụ vắt lên vai rồi đến tinh xá Thích-ca ở trong rừng trúc.4 Khi vào khu rừng lớn này,5 Ngài đến bên một gốc cây rồi trải tọa cụ và ngồi kiết-già.
Khi ấy, vào khoảng xế trưa, Chấp Trượng họ Thích6 chống gậy thong thả đi đến chỗ Phật. Cùng nhau chào hỏi xong, ông chống gậy đứng trước đức Phật rồi hỏi rằng:
– Sa-môn Cù-đàm! Ngài lấy gì làm tông chỉ và thuyết giảng những pháp gì?
Đức Thế Tôn đáp:
– Này người họ Thích! Nếu tất cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Samôn, Phạm chí, từ người cho đến trời trên thế gian này đều không đấu tranh, tu tập lìa dục, Phạm hạnh thanh tịnh, lìa bỏ dua nịnh, dứt trừ loạn động, không đắm trước hữu và phi hữu, cũng không có tưởng thì đó là tông chỉ của Như Lai. Pháp Như Lai thuyết giảng cũng như vậy.
Khi ấy, Chấp Trượng họ Thích nghe đức Phật nói, không cho là phải cũng không cho là trái, chỉ lắc đầu rồi bỏ đi.
Bấy giờ, sau khi Chấp Trượng họ Thích bỏ đi không lâu, vào lúc xế chiều, đức Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa, đi vào giảng đường, đến trước hội chúng Tỳ-kheo, trải tọa cụ và ngồi xuống rồi nói với các Tỳ-kheo:
– Hôm nay, vào lúc sáng sớm, Ta đắp y, ôm bát vào thành Ca-duy-la-vệ khất thực. Sau khi thọ thực, vào khoảng xế trưa, Ta thu dọn y bát, rửa tay chân, lấy tọa cụ vắt lên vai rồi đến tinh xá Thích-ca ở trong rừng trúc. Khi vào khu rừng lớn này, Ta đến bên một gốc cây rồi trải tọa cụ ngồi kiết-già. Khi ấy, có Chấp Trượng họ Thích, vào khoảng xế trưa, chống gậy thong thả đi đến chỗ Ta. Cùng nhau chào hỏi xong, ông ấy chống gậy đứng trước mặt Ta rồi hỏi rằng: “Sa-môn Cù-đàm! Ngài lấy gì làm tông chỉ và thuyết giảng những pháp gì?”
Ta đáp: “Này người họ Thích, nếu tất cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Phạm chí, từ người cho đến trời trên thế gian này đều không đấu tranh, tu tập lìa dục, Phạm hạnh thanh tịnh, lìa bỏ dua nịnh, dứt trừ loạn động, không đắm trước hữu và phi hữu, cũng không có tưởng thì đó là tông chỉ của Ta. Pháp Ta thuyết giảng cũng như vậy.”
Khi ấy, Chấp Trượng họ Thích nghe Ta nói rồi, không cho là phải cũng không cho là trái, chỉ lắc đầu rồi bỏ đi.
[0603c07] Bấy giờ, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai, chắp tay hướng Phật rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tất cả chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Samôn, Phạm chí, từ người cho đến trời trên thế gian này đều không đấu tranh? Sao gọi là tu tập lìa dục, được Phạm hạnh thanh tịnh? Sao gọi là lìa bỏ dua nịnh, dứt trừ loạn động, không đắm trước hữu và phi hữu, cũng không có tưởng?
Đức Thế Tôn dạy:
– Tỳ-kheo! Nếu có người nào do suy niệm của mình mà xuất gia học đạo, tu tập suy tầm,7 đối với pháp quá khứ, tương lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ]8 thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Nói như vậy rồi, đức Phật từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa.
Khi ấy, các Tỳ-kheo liền suy nghĩ: “Này chư Hiền! Nên biết đức Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt, không giải thích tường tận, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa: Nếu người do suy niệm của mình mà xuất gia học đạo, tu tập suy tầm, đối với pháp quá khứ, tương lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ] thì đó gọi là vượt thoát khổ đau.”
Các Tỳ-kheo lại suy nghĩ: “Này chư Hiền! Ai có thể giải thích tường tận ý nghĩa mà đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy?” Rồi họ lại suy nghĩ: “Chỉ có Tôn giả Đại Ca-chiên-diên thường được đức Thế Tôn và các vị Phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể giải thích tường tận ý nghĩa mà đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy. Này chư Hiền! Hãy cùng nhau đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên để thỉnh Tôn giả giảng nói nghĩa này. Nếu được Tôn giả Đại Cachiên-diên giảng nói rộng rãi thì chúng ta sẽ khéo thọ trì.”
Khi ấy, các Tỳ-kheo liền đi đến chỗ Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, cùng nhau chào hỏi rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên! Xin Tôn giả biết cho, đức Thế Tôn nói nghĩa này một cách vắn tắt, không giải thích tường tận, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa: “Tỳ-kheo! Nếu người do suy niệm của mình mà xuất gia học đạo, tu tập suy tầm, đối với pháp quá khứ, vị lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ] thì đó gọi là vượt thoát khổ đau.” Chúng tôi liền suy nghĩ: “Này chư Hiền! Ai có thể giải thích tường tận ý nghĩa mà đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt?” Rồi chúng tôi lại suy nghĩ: “Chỉ có Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, thường được đức Thế Tôn và các vị Phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể giải thích tường tận ý nghĩa mà đức Thế Tôn nói vắn tắt ấy.” Ngưỡng mong Tôn giả Đại Ca-chiêndiên thương xót mà giảng nói rộng rãi cho!
[0604a13] Bấy giờ, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo:
– Này chư Hiền! Hãy nghe tôi nói ví dụ, người có trí tuệ nhờ nghe ví dụ sẽ hiểu rõ nghĩa lý.
Này chư Hiền! Ví như có người tìm lõi cây,9 vì muốn tìm lõi cây nên người ấy cầm búa vào rừng, tìm thấy cội cây lớn có rễ, thân, cành, nhánh, lá, hoa và
trái. Người ấy không chạm đến rễ, thân, cành, trái mà chỉ chạm đến nhánh và lá. Những điều chư Hiền nói cũng giống như vậy. Đức Thế Tôn đang ở đây mà chư Hiền lại bỏ Ngài để đến hỏi tôi về nghĩa này. Vì sao như vậy? Này chư Hiền, nên biết đức Thế Tôn là bậc có mắt, là bậc có trí. Ngài là nghĩa, là pháp, là bậc Pháp Chủ, là bậc Pháp tướng, là bậc nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa. Do đó, chư Hiền nên đi đến chỗ đức Thế Tôn mà hỏi nghĩa như vầy: “Bạch Thế Tôn, điều này là thế nào, điều này có nghĩa gì?” Nếu đức Thế Tôn có dạy bảo điều gì thì chư Hiền hãy khéo thọ trì.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo thưa:
– Đúng vậy, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên! Đức Thế Tôn là bậc có mắt, là bậc có trí. Ngài là nghĩa, là pháp, là bậc Pháp chủ, là bậc Pháp tướng, là bậc nói nghĩa chân đế, hiển hiện tất cả nghĩa. Do đó, chúng tôi nên đi đến chỗ đức Thế Tôn để hỏi nghĩa này: “Bạch Thế Tôn, điều này là thế nào, điều này có nghĩa gì?” Nếu như đức Thế Tôn có dạy bảo điều gì, chúng tôi sẽ khéo thọ trì. Nhưng thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, thầy thường được đức Thế Tôn và các vị Phạm hạnh có trí khen ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể giải thích tường tận ý nghĩa mà đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy. Ngưỡng mong Tôn giả Đại Ca-chiêndiên thương xót mà giảng nói rộng rãi.
[0604b01] Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo:
– Vậy này chư Hiền, xin hãy nghe tôi nói!
Này chư Hiền! Duyên mắt với sắc mà sanh ra nhãn thức. Ba yếu tố này cùng nhóm họp liền có xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ,10 có cảm thọ thì có tưởng, có tưởng thì có tư duy, có tư duy thì có suy niệm, có suy niệm thì có phân biệt.
Tỳ-kheo do suy niệm như vậy nên xuất gia học đạo, tu tập suy tầm, đối với pháp quá khứ, vị lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ] thì đó gọi là vượt thoát khổ đau.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Duyên ý với pháp mà sanh ra ý thức. Ba yếu tố này cùng nhóm họp liền có xúc, do duyên xúc nên có cảm thọ, có cảm thọ thì có tưởng, có tưởng thì có tư duy, có tư duy thì có suy niệm, có suy niệm thì có phân biệt.
Tỳ-kheo do suy niệm như vậy nên xuất gia học đạo, tu tập suy tầm, đối với pháp quá khứ, vị lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ] thì đó gọi là vượt thoát khổ đau.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo loại trừ mắt, loại trừ sắc, loại trừ nhãn thức mà có xúc, hiển lộ xúc thì điều này không thể có. Nếu không hiển lộ xúc mà có cảm thọ, hiển lộ cảm thọ thì điều này không thể có. Nếu không hiển lộ cảm thọ mà có hiển lộ niệm, rồi xuất gia học đạo, tu tập suy tầm thì điều này không thể có. Đối với tai, mũi, lưỡi và thân cũng vậy. Loại trừ ý, loại trừ pháp, loại trừ ý thức mà có xúc, hiển lộ xúc thì điều này không thể có. Nếu không hiển lộ xúc mà có cảm thọ, hiển lộ cảm thọ thì điều này không thể có. Nếu không hiển lộ cảm thọ mà có hiển lộ niệm, rồi xuất gia học đạo, tu tập suy tầm thì điều này không thể có.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo do mắt, do sắc và do nhãn thức mà có xúc, hiển lộ xúc thì nhất định có điều này. Do hiển lộ xúc mà có thọ, hiển lộ thọ thì nhất định có điều này. Do hiển lộ thọ mà hiển lộ suy niệm, rồi xuất gia học đạo,tu tập suy tầm thì nhất định có điều này. Đối với tai, mũi, lưỡi và thân cũng vậy. Do ý, do pháp và do ý thức mà có xúc, hiển lộ xúc thì nhất định có điều này. Do hiển lộ xúc mà có thọ, hiển lộ thọ thì nhất định có điều này. Do hiển lộ thọ mà hiển lộ suy niệm, rồi xuất gia học đạo, tu tập suy tầm thì nhất định có điều này.
Này chư Hiền! Đức Thế Tôn giảng nói nghĩa này một cách vắn tắt, không giải thích tường tận, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Này Tỳ-kheo! Nếu người do suy niệm mà xuất gia học đạo, tu tập suy tầm, đối với pháp quá khứ, vị lai và hiện tại mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đối với những phiền não tiềm phục, sai khiến như dục, sân, tham, mạn, vô minh, kiến, nghi, tranh luận, ganh ghét, dua nịnh, lừa dối, nói láo, nói hai chiều cùng vô lượng những pháp ác, bất thiện khác [mà không yêu mến, không vui thích, không đắm trước, không chấp thủ] thì đó gọi là vượt thoát khổ đau. Đức Thế Tôn giảng nói nghĩa này một cách vắn tắt không giải thích tường tận. Tôi đã dùng câu cú và văn nghĩa này để trình bày rõ ràng như vậy.
Này chư Hiền! Các vị có thể đi đến chỗ Phật để tường trình lại đầy đủ. Nếu đúng như nghĩa mà đức Thế Tôn muốn giảng nói thì chư Hiền hãy nhận lãnh và ghi nhớ.
[0604c12] Khi ấy, các Tỳ-kheo nghe những điều Tôn giả Đại Ca-chiên-diên giảng nói, khéo ghi nhớ, tụng đọc rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Tôn giả Đại Ca-chiên-diên ba vòng và đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Vừa rồi Thế Tôn giảng nói nghĩa này một cách vắn tắt, không giải thích tường tận, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên đã dùng câu cú và văn nghĩa này để trình bày rõ ràng ý nghĩa đó.
Nghe xong, đức Thế Tôn khen ngợi:
– Lành thay, lành thay! Trong hàng đệ tử của Ta, có vị là bậc có mắt, có trí,có pháp, có nghĩa. Vì sao như vậy? Vì khi Tôn sư giảng nói nghĩa này cho đệ tử một cách vắn tắt, không giải thích tường tận mà vị đệ tử kia đã diễn rộng ra những câu ấy, văn ấy. Đúng như những gì Tỳ-kheo Đại Ca-chiên-diên đã nói, các thầy hãy nên nhận lãnh rồi ghi nhớ như vậy. Vì sao như vậy? Vì nói hợp nghĩa, đúng theo chân lý.11
Này Tỳ-kheo! Ví như có người nhân đi đến nơi thanh vắng, trong rừng sâu, giữa những cây cối, bỗng nhiên gặp được bánh mật, vị ấy lấy ăn, thưởng thức vị ngọt. Người thiện nam cũng giống như vậy, ở trong giáo pháp này của Ta, tùy theo những gì được quán sát, vị ấy thưởng thức được vị ngọt của pháp; quán sát con mắt, thưởng thức được vị ngọt; quán sát tai, mũi, lưỡi, thân, quán sát ý, thưởng thức được vị ngọt.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật. Tôn giả A-nan liền chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn, pháp này tên gọi là gì? Chúng con phải phụng trì như thế nào?
Đức Thế Tôn dạy:
– Này A-nan! Pháp này có tên gọi là “Ví dụ về Bánh mật”,12 thầy hãy nên thọ trì.
Khi ấy, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Các thầy hãy nhận lãnh pháp “Ví dụ về Bánh mật” này, phải thường tụng đọc. Vì sao như vậy? Này các Tỳ-kheo! Pháp “Ví dụ về Bánh mật” này có pháp, có nghĩa, là gốc của Phạm hạnh, dẫn đến trí thông, dẫn đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Nếu người thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì hãy nên khéo nhận lãnh, ghi nhớ pháp “Ví dụ về Bánh mật” này.
[0605a04] Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.13
Ghi chú
1 Nguyên tác: Mật hoàn dụ kinh 蜜丸喻經 (T.01. 0026.115. 0603b09). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.40.10. 0743a04); M. 18, Madhupiṇḍika Sutta (Kinh mật hoàn).
2 Nguyên tác: Thích-ky-sấu (釋羇瘦, Sakkesu): Trong dân chúng họ Thích.
3 Ca-duy-la-vệ (迦維羅衛, Kapilavatthu), thường đọc Ca-tỳ-la-vệ (迦毗羅衛).
4 Nguyên tác: Thích-ca tự (釋迦寺), chỉ cho ngôi tinh xá của dòng họ Thích-ca trong vườn Ni-câu-loại (Nigrodhārāma).
5 Nguyên tác: Đại lâm (大林, Mahāvana). Theo DPPN, đó là khu rừng gần Kapilavatthu.
6 Chấp Trượng Thích (執杖釋, Daṇḍapāṇī Sakka). Theo DPPN, vị này là em của Vua Thiện Giác, anh của Hoàng hậu Māyā và bà Pajāpati, là cậu ruột của Thái tử Tất-đạt-đa. Tuy nhiên, theo Phật bổn hạnh kinh 本行經 (T.04. 0193.1. 0062b20-0063a11), Chấp Trượng Thích đã gả người con gái xinh đẹp cho Thái tử làm Vương phi. Do vậy, ông ta cũng là cha vợ của Thái tử Tất-đạt-đa.
7 Nguyên tác: Tư tưởng (思想), tức “suy tầm” (vitakka).
8 Có khả năng bản Hán tỉnh lược. Bản dịch bổ sung dựa theo vế trên
9 Nguyên tác: Thật (實): Rắn chắc (堅實). A. 10.115 - V. 224: Sāra (cốt lõi, lõi cây).
10 Nguyên tác: Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna.
11 Nguyên tác: Ứng như thị dã (應如是也). Như thị (如是) dùng trong nghĩa như thật, chân lý. Pāli: Yathā.
12 Nguyên tác: Mật hoàn dụ (蜜丸喻, Madhupiṇḍikapariyāya): Pháp môn mật hoàn.
13 Bản Hán, hết quyển 28.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.