Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu có ngoại đạo đến hỏi các thầy: “Tất cả các pháp lấy gì làm căn bản?” Các thầy nên trả lời họ như vầy: “Tất cả các pháp lấy dục làm căn bản.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm chỗ quy tụ?”2 Nên đáp như vầy: “Lấy xúc làm chỗ quy tụ.”3
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm dẫn khởi?” Nên đáp như vầy: “Lấy thọ4 làm dẫn khởi.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm hiện hữu?” Nên đáp như vầy: “Lấy tư tưởng làm hiện hữu.”5
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm dẫn đầu?” Nên đáp như vầy: “Lấy niệm làm dẫn đầu.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm tăng thượng?” Nên đáp như vầy: “Lấy định làm tăng thượng.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm tối thượng?” Nên đáp như vầy: “Lấy tuệ làm tối thượng.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm cốt lõi?” Nên đáp như vầy: “Lấy giải thoát làm cốt lõi.”
Nếu họ lại hỏi: “Lấy gì làm cứu cánh?” Nên đáp như vầy: “Lấy Niết-bàn làm cứu cánh.”
Này các Tỳ-kheo! Tất cả các pháp lấy dục làm căn bản, xúc làm chỗ quy tụ, thọ làm dẫn khởi, tư tưởng làm hiện hữu, niệm làm dẫn đầu, định làm tăng thượng, tuệ làm tối thượng, giải thoát làm cốt lõi và Niết-bàn làm cứu cánh.
Cho nên, Tỳ-kheo hãy học như vầy: Huân tập về tâm xuất gia học đạo, huân tập về tưởng vô thường, huân tập về tưởng vô thường là khổ, huân tập về tưởng khổ nên vô ngã, huân tập về tưởng bất tịnh, huân tập về tưởng thức ăn là ô uế, huân tập về tưởng tất cả thế gian không có gì vui và huân tập về tưởng sự chết.
Biết sự tốt xấu của thế gian,6 tâm được huân tập với tưởng như vậy.7 Biết tập khởi của thế gian,8 tâm được huân tập với tưởng như vậy. Biết như thật về sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai họa và sự xuất ly thế gian, tâm được huân tập với tưởng như vậy. Nếu Tỳ-kheo huân tập được tâm xuất gia học đạo, huân tập được về tưởng vô thường, huân tập được về tưởng vô thường là khổ, huân tập được về tưởng khổ nên vô ngã, huân tập được về tưởng bất tịnh, huân tập được về tưởng thức ăn ô uế, huân tập được về tưởng tất cả thế gian không có gì vui, huân tập được tưởng về sự chết; biết sự tốt xấu của thế gian, tâm đã được huân tập với tưởng như vậy; biết tập khởi của thế gian, tâm đã được huân tập với tưởng như vậy; biết như thật về sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai họa và sự xuất yếu của thế gian, tâm đã được huân tập với tưởng như vậy thì được gọi là Tỳ- kheo đoạn ái, trừ kiết, đã biết rõ và quán sát đúng đắn các pháp thì vượt thoát khổ đau.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Quyển 28. Nguyên tác: Chư pháp bổn kinh 諸法本經 (T.01. 0026.113. 0602b28). Tham chiếu: Chư pháp bổn kinh 諸法本經 (T.01. 0059. 0855c06); A. 8.83 - IV. 338; A. 10.58 - V. 106; A. 10.59 - V. 107.
2 Nguyên tác: Hòa (和): Sự tập khởi (samudaya).
3 Nguyên tác: Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
4 Nguyên tác: Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna.
5 Dĩ tư tưởng vi hữu (以思想為有). Tham chiếu: A. 8.83 - IV. 338: Manasikāra saṃbhavā (lấy tác ý làm sanh khởi).
6 Tri thế gian hảo ố (知世間好惡). Tham chiếu: A. 10.59 - V. 107: Lokassa samañca visamañca ñatvā (biết thế giới thăng bằng và không thăng bằng), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Tập như thị tưởng tâm (習如是想心). Tham chiếu: A. 10.59 - V. 107: Taṁsaññāparicitañca cittaṁ hoti (tâm được thực hành tích tập với tưởng ấy), HT. Thích Minh Châu dịch.
8 Tri thế gian tập hữu (知世間習有): Biết sự sanh khởi của thế gian.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.