Viện Nghiên Cứu Phật Học

111. KINH THẤY RÕ PHẠM HẠNH1
 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếmma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Ta sẽ thuyết pháp cho các thầy, phần đầu vi diệu, phần giữa vi diệu và phần cuối cũng vi diệu, có nghĩa có văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh, gọi là “Thấy rõ Phạm hạnh”,2 có thể diệt sạch các lậu. Các thầy hãy lắng nghe và hãy khéo suy nghĩ!

Khi ấy, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe. Đức Thế Tôn dạy:

– Các thầy nên biết về lậu,3 biết nhân sanh ra lậu, biết báo ứng của lậu, biết tánh sai biệt của lậu, biết sự diệt sạch lậu và biết phương pháp diệt sạch lậu.

Các thầy nên biết về thọ,4 biết nhân sanh ra thọ, biết báo ứng của thọ, biết tánh sai biệt của thọ, biết sự diệt sạch thọ và biết phương pháp diệt trừ thọ.

Các thầy nên biết về tưởng, biết nhân sanh ra tưởng, biết báo ứng của tưởng, biết tánh sai biệt của tưởng, biết sự diệt sạch tưởng và biết phương pháp diệt trừ tưởng.

Các thầy nên biết về dục, biết nhân sanh ra dục, biết báo ứng của dục, biết tánh sai biệt của dục, biết sự diệt sạch dục và biết phương pháp diệt trừ dục.

Các thầy nên biết về nghiệp, biết nhân sanh ra nghiệp, biết báo ứng của nghiệp, biết tánh sai biệt của nghiệp, biết sự diệt sạch nghiệp và biết phương pháp diệt trừ nghiệp.

Các thầy nên biết về khổ, biết nhân sanh ra khổ, biết báo ứng của khổ, biết tánh sai biệt của khổ, biết sự diệt sạch khổ và biết phương pháp diệt trừ khổ.

Thế nào là biết về lậu? Có ba lậu, gồm dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu;5 đó là biết về lậu. Thế nào là biết nhân sanh ra lậu? Là do vô minh, do có vô minh mà có lậu, đó là biết nhân sanh ra lậu. Thế nào là biết báo ứng của lậu? Đó là bị vô minh trói buộc, bị các lậu rỉ thấm hoen ố, vì thế mà lãnh thọ quả báo, hoặc đến cõi lành, hoặc đến cõi ác, đó là biết báo ứng của lậu. Thế nào là biết tánh sai biệt của lậu? Hoặc có lậu khiến sanh vào địa ngục, có lậu khiến sanh vào súc sanh, có lậu khiến sanh vào ngạ quỷ, có lậu khiến sanh vào cõi trời, hoặc có lậu khiến sanh vào cõi người, đó là biết tánh sai biệt của lậu. Thế nào là biết sự diệt sạch lậu? Khi vô minh diệt thì lậu diệt, đó là biết sự diệt sạch lậu. Thế nào là biết phương pháp diệt sạch lậu? Đó là tu tập Thánh đạo tám chi, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định, đó là biết phương pháp diệt sạch lậu.

Nếu Tỳ-kheo biết về lậu, biết nhân sanh ra lậu, biết báo ứng của lậu, biết tánh sai biệt của lậu, biết sự diệt sạch lậu và biết phương pháp diệt sạch lậu như vậy thì gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể trừ sạch tất cả phiền não.

[0599c09] Thế nào là biết về thọ? Có ba thọ là thọ lạc, thọ khổ và thọ không khổ không lạc, đó là biết về thọ. Thế nào là biết nhân sanh ra thọ? Đó là xúc,6 do có xúc nên liền có thọ, đó là biết nhân sanh ra thọ. Thế nào là biết báo ứng của thọ? Đó là ái, ái là báo ứng của thọ, đó là biết báo ứng của thọ. Thế nào là biết tánh sai biệt của thọ? Tỳ-kheo khi cảm nhận lạc thọ liền biết đang cảm nhận lạc thọ, khi cảm nhận khổ thọ liền biết đang cảm nhận khổ thọ, khi cảm nhận cảm thọ không khổ không lạc liền biết đang cảm nhận cảm thọ không khổ không lạc. Khi thân cảm nhận vui, thân cảm nhận khổ, thân cảm nhận không vui không không khổ, liền biết đúng như vậy. Khi tâm cảm nhận vui, tâm cảm nhận khổ, tâm cảm nhận không vui không khổ, liền biết đúng như vậy. Khi ăn cảm nhận ngon, khi ăn cảm nhận dở, khi ăn cảm nhận không ngon không dở, liền biết đúng như vậy. Khi không ăn cảm nhận vui, không ăn cảm nhận khổ, không ăn cảm nhận không vui không khổ, liền biết đúng như vậy. Khi tham muốn cảm nhận vui, khi tham muốn cảm nhận khổ, khi tham muốn cảm nhận không vui không khổ, liền biết đúng như vậy. Khi không tham muốn cảm nhận vui, khi không tham muốn cảm nhận khổ, khi không tham muốn cảm nhận không vui không khổ, liền biết đúng như vậy. Đó là biết tánh sai biệt của thọ. Thế nào là biết sự diệt sạch cảm thọ? Nếu xúc diệt thì thọ liền diệt, đó là biết sự diệt sạch cảm thọ. Thế nào là biết phương pháp diệt thọ? Tu tập Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, đó là biết phương pháp diệt thọ.

Nếu Tỳ-kheo biết thọ, biết nhân sanh ra thọ, biết báo ứng của thọ, biết tánh sai biệt của thọ, biết sự diệt tận của thọ, biết phương pháp diệt thọ như vậy, gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể diệt trừ tất cả thọ.

Thế nào là biết tưởng? Có bốn tưởng. Tỳ-kheo khi có tưởng nhỏ cũng biết, tưởng lớn cũng biết, tưởng vô lượng cũng biết, tưởng Vô sở hữu xứ cũng biết, đó gọi là biết tưởng. Thế nào là biết nhân sanh ra tưởng? Đó là xúc, do xúc nên có tưởng, đó là biết nhân sanh ra tưởng. Thế nào là biết báo ứng của tưởng? Đó là lời nói, tùy tưởng mà có lời nói, đó là biết báo ứng của tưởng. Thế nào là biết tánh sai biệt của tưởng? Đó là, hoặc có tưởng nghĩ về sắc, có tưởng nghĩ về thanh, có tưởng nghĩ về hương, có tưởng nghĩ về vị, hoặc có tưởng nghĩ về xúc, đó là biết tánh sai biệt của tưởng. Thế nào là biết sự diệt sạch tưởng? Xúc diệt thì tưởng liền diệt, đó là biết sự diệt sạch tưởng. Thế nào là biết phương pháp diệt tưởng? Tu tập Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, đó là biết phương pháp diệt tưởng.

Nếu Tỳ-kheo biết tưởng, biết nhân sanh ra tưởng, biết báo ứng của tưởng, biết tánh sai biệt của tưởng, biết sự diệt tận của tưởng, biết phương pháp diệt tưởng như vậy thì gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể trừ sạch tất cả tưởng.

[0600a09] Thế nào là biết về dục? Có năm loại dục7 đáng yêu, đáng thích, xinh đẹp, tương ưng với tham muốn và rất đáng ưa. Đó là mắt biết sắc, tai biết thanh, mũi biết hương, lưỡi biết vị và thân biết xúc chạm, đó là biết về dục. Thế nào là biết nhân sanh ra dục? Đó là xúc, do có xúc nên có dục, gọi là biết nhân sanh ra dục. Thế nào là biết báo ứng của dục? Tùy theo những loại dục mà sanh ưa thích, đắm trước rồi bám víu vào đó, do nhân duyên đó lãnh thọ quả báo, đến cõi có phước, đến cõi vô phước hay cõi bất động,8 đó là biết báo ứng của dục. Thế nào là biết tánh sai biệt của dục? Hoặc có dục ham muốn sắc, có dục ham muốn thanh, có dục ham muốn hương, có dục ham muốn vị, hoặc có dục ham muốn xúc chạm, đó là biết tánh sai biệt của dục. Thế nào là biết sự diệt sạch dục? Khi xúc diệt thì dục liền diệt, đó là biết sự diệt sạch dục. Thế nào là biết phương pháp diệt dục? Tu tập Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, đó là biết phương pháp diệt dục.

Nếu Tỳ-kheo biết dục, biết nhân sanh ra dục, biết báo ứng của dục, biết tánh sai biệt của dục, biết sự diệt tận của dục và biết phương pháp diệt dục như vậy thì gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể trừ sạch tất cả dục.

Thế nào là biết về nghiệp? Có hai loại nghiệp: Nghiệp do tư duy và nghiệp do thân và miệng,9 đó là biết về nghiệp. Thế nào là biết nhân sanh ra nghiệp? Là do xúc, do có xúc nên có nghiệp, đó là biết nhân sanh ra nghiệp. Thế nào là biết báo ứng của nghiệp? Đó là, nghiệp xấu có quả báo xấu, nghiệp tốt có quả báo tốt, nghiệp vừa xấu vừa tốt có quả báo vừa xấu vừa tốt, hoặc nghiệp không xấu không tốt thì không có quả báo và sạch nghiệp, đó là biết báo ứng của nghiệp. Thế nào là biết tánh sai biệt của nghiệp? Hoặc có nghiệp khiến sanh vào địa ngục, có nghiệp khiến sanh vào súc sanh, có nghiệp khiến sanh vào ngạ quỷ, có nghiệp khiến sanh vào cõi trời, có nghiệp khiến sanh vào cõi người, đó là biết tánh sai biệt của nghiệp. Thế nào là biết sự diệt sạch nghiệp? Khi xúc diệt thì nghiệp liền diệt, đó là biết sự diệt tận nghiệp. Thế nào là biết phương pháp diệt nghiệp? Tu tập Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, đó là biết phương pháp diệt nghiệp.

Nếu Tỳ-kheo biết về nghiệp, biết nhân sanh ra nghiệp, biết báo ứng của nghiệp, biết tánh sai biệt của nghiệp, biết sự diệt sạch của nghiệp, biết phương pháp diệt nghiệp như vậy thì gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể trừ sạch tất cả nghiệp.

[0600b08] Thế nào là biết về khổ? Sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thương yêu xa lìa là khổ, mong cầu không được là khổ, tóm lại, năm thủ uẩn10 là khổ, đó là biết về khổ. Thế nào là biết nhân sanh ra khổ? Đó là ái, do ái sanh khổ, đó là biết nhân sanh ra khổ. Thế nào là biết báo ứng của khổ? Đó là biết có khổ diệt hơi chậm, có khổ diệt hơi nhanh, có khổ diệt rất chậm, hoặc có khổ diệt rất nhanh, đó là biết báo ứng của khổ. Thế nào là biết tánh sai biệt của khổ? Đó là biết phàm phu mê muội thiếu hiểu biết, không gặp được bạn tốt, không thân cận Thánh pháp nên khi có khổ thọ thì cảm thấy khổ cùng cực, khổ tuyệt vọng, khổ muốn chết, muốn thoát khổ lại đi tìm cầu đối tượng bên ngoài: Hoặc có Sa-môn hay Bà-la-môn trì một câu chú, hai, ba, bốn câu hay nhiều câu, hoặc trì loại chú một trăm câu, với mong muốn “chú thuật ấy trị dứt khổ cho ta.” Như vậy, do mong cầu mà sanh khổ, do tập khởi mà sanh khổ và mong muốn diệt khổ, đó là biết tánh sai biệt của khổ. Thế nào là biết sự diệt sạch khổ? Khi ái diệt thì khổ liền diệt, đó là biết sự diệt tận khổ. Thế nào là biết phương pháp diệt khổ? Tu tập Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến đến chánh định, đó là biết phương pháp diệt khổ.

Nếu Tỳ-kheo biết về khổ, biết nhân sanh ra khổ, biết báo ứng của khổ, biết tánh sai biệt của khổ, biết sự diệt tận của khổ và biết phương pháp diệt khổ như vậy thì gọi là thấy rõ Phạm hạnh, có thể trừ sạch tất cả khổ.

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.


Ghi chú

1 Nguyên tác: Đạt Phạm hạnh kinh 達梵行經 (T.01. 0026.111. 0599b08). Tham chiếu: Lậu phân bố kinh 漏分布經 (T.01. 0057. 0851b27); A. 6.63 - III. 410.

2 Đạt Phạm hạnh (達梵行). Đạt (達): Thông suốt, hiểu rõ (洞穿). A. 6.63 - III. 410: Nibbedhikapariyāya (洞察的梵行). Xuyên suốt cả bản kinh, cụm từ “tri… thắng như” (知...勝如) xuất hiện 24 lần. Trong A. 6.63 - III. 410, cụm từ pajānāti (hiểu rõ) xuất hiện 43 lần, đã bổ sung cho tựa đề của bản kinh.

3 Lậu (漏, āsava) tức phiền não.

4 Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna.

5 Tất cả phiền não trong cõi Dục, tất cả phiền não trong cõi Sắc và Vô sắc, tất cả vô minh trong 3 cõi.
6 Nguyên tác: Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
7 Nguyên tác: Ngũ dục công đức (五欲功德). Xem chú thích 5, kinh số 2, tr. 11.

8 Bất động xứ (不動處) tức các tầng trời Tứ thiền.

9 Nguyên tác: Dĩ tư nghiệp (已思業), nghĩa cụ thể là hành động được thực hiện sau khi tư duy. Theo Xá-lợi-phất A-tỳ-đàm luận 舍利弗阿毘曇論 (T.28. 1548.07. 0580a12): Thế nào gọi là nghiệp sau khi tư duy? Nghiệp của thân và miệng gọi là nghiệp sau khi tư duy (云何思已業?身業口業是名思已業).

10 Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.
 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.