Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo:
– Nếu Tỳ-kheo nào không thể khéo quán sát tâm của người khác thì hãy khéo tự quán sát tâm của mình. Hãy nên học tập như vậy. Tỳ-kheo khéo tự quán tâm như thế nào? Nếu Tỳ-kheo có quán như vầy tất sẽ được nhiều lợi ích: “Ta đã được nội tâm tịnh chỉ,2 nhưng chưa thành tựu được pháp quán tuệ tối thượng3 chăng? Ta đã được pháp quán tuệ tối thượng, nhưng nội tâm chưa được tịnh chỉ chăng? Ta chưa được nội tâm tịnh chỉ và cũng chưa được pháp quán tuệ tối thượng chăng? Tâm ta đã được nội tâm tịnh chỉ và cũng được pháp quán tuệ tối thượng chăng?”
Sau khi Tỳ-kheo quán như vậy thì biết rằng: “Ta đã được nội tâm tịnh chỉ, nhưng chưa được pháp quán tuệ tối thượng.” Vị Tỳ-kheo ấy đã được nội tâm tịnh chỉ rồi, hãy nên mong cầu thành tựu pháp quán tuệ tối thượng.
Sau đó vị ấy được nội tâm tịnh chỉ và cũng được pháp quán tuệ tối thượng. Sau khi Tỳ-kheo quán như vậy thì biết rằng: “Ta đã được pháp quán tuệ tối thượng, nhưng chưa được nội tâm tịnh chỉ.” Vị Tỳ-kheo ấy trụ nơi pháp quán tuệ tối thượng rồi, hãy nên mong cầu nội tâm tịnh chỉ. Sau đó vị ấy được pháp quán tuệ tối thượng và cũng được nội tâm tịnh chỉ.
Sau khi Tỳ-kheo quán như vậy thì biết rằng: “Ta chưa được nội tâm tịnh chỉ, cũng chưa được pháp quán tuệ tối thượng.” Như vậy, Tỳ-kheo ấy chưa được pháp lành này. Nếu muốn được pháp lành này, phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, tinh cần học tập, chánh niệm tỉnh giác, kham nhẫn, bất thoái. Ví như người bị lửa đốt cháy đầu, cháy áo, phải nhanh chóng tìm cách dập tắt lửa để khỏi bị cháy đầu, cháy áo; cũng vậy, Tỳ-kheo chưa được pháp lành này, vì muốn được nên nhanh chóng tìm cầu phương tiện, tinh cần học tập, chánh niệm tỉnh giác, kham nhẫn, bất thoái. Sau đó vị ấy được nội tâm tịnh chỉ và cũng được pháp quán tuệ tối thượng.
Sau khi Tỳ-kheo quán như vậy thì biết rằng: “Ta đã được nội tâm tịnh chỉ, cũng được pháp quán tuệ tối thượng.” Vị Tỳ-kheo ấy trụ nơi pháp lành này rồi, hãy nên mong cầu chứng đạt trí tuệ thấu suốt sạch hết phiền não lậu hoặc.4 Vì sao như vậy? Giống như Ta nói không được thọ dụng5 tất cả y, nhưng cũng nói được phép thọ dụng tất cả y. Loại y nào Ta nói không được thọ dụng? Nếu thọ dụng mà tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện, suy giảm pháp thiện thì loại y như vậy, Ta nói không được thọ dụng. Loại y nào Ta nói được phép thọ dụng? Nếu thọ dụng mà tăng trưởng pháp thiện, suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện thì loại y như vậy, Ta nói được phép thọ dụng. Cũng như y áo, về thức ăn, giường nệm, thôn ấp cũng giống như vậy.
Ta nói không được thân cận mọi người, nhưng cũng nói được phép thân cận mọi người. Hạng người nào Ta nói không được thân cận? Nếu thân cận mà tăng trưởng pháp xấu ác, pháp bất thiện, suy giảm pháp thiện thì người như vậy, Ta nói không được thân cận. Hạng người nào Ta nói được phép thân cận? Nếu thân cận mà tăng trưởng pháp thiện, suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện thì người như vậy, Ta nói được phép thân cận.
[0598c14] Vị ấy biết đúng như thật pháp nào nên tu tập, cũng biết đúng như thật pháp nào không nên tu tập. Vị ấy biết đúng như thật pháp nào nên tu tập và pháp nào không nên tu tập rồi, với pháp không nên tu tập thì không tu tập, với pháp nên tu tập liền tu tập. Sau khi vị ấy không tu tập pháp không nên tu tập và tu tập pháp nên tu tập rồi thì sẽ tăng trưởng pháp thiện, suy giảm pháp xấu ác, pháp bất thiện.
Như thế gọi là Tỳ-kheo khéo tự quán tâm, khéo tự biết tâm, khéo thủ hộ và khéo xả ly.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Tự quán tâm kinh, thượng 自觀心經,上 (T.01. 0026.109. 0598b07). Tham chiếu: M. 114, Sevitabbāsevitabba Sutta (Kinh nên hành trì và không nên hành trì); A. 10.54 - V. 98.
2 Nội chỉ (內止) tức “nội tâm tịnh chỉ.” Tham chiếu: A. 10.54 - V. 98: Ajjhattaṃ cetosamathassa (nội tâm tịnh chỉ).
3 Nguyên tác: Tối thượng tuệ quán pháp (最上慧觀法): Pháp quán bằng tuệ tối thượng. Tham chiếu: A. 10.54 - V. 98: Adhipaññādhammavipassanāya (Tăng thượng tuệ pháp quán).
4 Nguyên tác: Lậu tận trí thông (漏盡智通), tức “Lậu tận thông” (漏盡神), một trong 6 thông (六通), gồm: (i) Thần túc thông (神足通), (ii) Thiên nhãn thông (天眼通), (iii) Thiên nhĩ thông (天耳通), (iv) Túc mạng thông (宿命通), (v) Tha tâm thông (他心通), (vi) Lậu tận thông (漏盡通). Chứng Lậu tận thông tức đã đoạn sạch phiền não hoặc nghiệp, thoát khỏi sanh tử luân hồi. Tham chiếu: A. 10.54 - V. 98: Āsavānaṃ khayañāṇāya (Trí diệt tận phiền não).
5 Nguyên tác: Súc (畜), nghĩa giống chữ “hưởng” (亨), là thụ hưởng, tương đương Pāli: Sevitabba (sử dụng). Tham chiếu: A. 10.54 - V. 98: Cīvarampāhaṃ, bhikkhave, duvidhena vadāmi - sevitabbampi asevitabbampi (Này các Tỷ-kheo, Ta nói, y có 2 loại: Nên sử dụng và không nên sử dụng), HT. Thích Minh Châu dịch.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.