Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với đất mà có ý nghĩ về đất như vầy: “Đất tức là ngã,2 đất là sở hữu của ngã, ngã là sở hữu của đất.” Vị ấy đã cho đất tức là ngã, cho nên không biết rõ về đất. Vị ấy cũng có ý nghĩ như vậy đối với nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ,3 Phạm thiên, Vô Phiền thiên,4 Vô Nhiệt thiên.5 Vị ấy cũng có ý nghĩ như vậy đối với Tịnh thiên,6 cho rằng: “Tịnh thiên tức là ngã, Tịnh thiên là sở hữu của ngã, ngã là sở hữu của Tịnh thiên.” Vị ấy đã cho Tịnh thiên tức là ngã, cho nên không biết rõ về Tịnh thiên. Vị ấy cũng có ý nghĩ như thế đối với Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, với đồng nhất, dị biệt, đa thù, điều được thấy, điều được nghe, điều được nhận biết, điều được hiểu rõ, điều được chứng đắc, điều được quán sát, điều được tác ý, điều được ý tư duy, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này. Vị ấy đối với cái tất cả có ý nghĩ về cái tất cả, cho rằng: “Tất cả tức là ngã, tất cả là sở hữu của ngã, ngã là sở hữu của tất cả.” Vị ấy đã cho tất cả tức là ngã, cho nên không biết rõ về tất cả.
Nếu có Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối với đất thì biết là đất, cho rằng: “Đất không phải là ngã, đất không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của đất.” Vị ấy đã không cho đất tức là ngã, cho nên vị ấy biết rõ về đất. Vị ấy cũng biết như vậy đối với nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên. Vị ấy cũng biết như vậy đối với Tịnh thiên, cho rằng: “Tịnh thiên không phải là ngã, Tịnh thiên không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của Tịnh thiên.” Vị ấy đã không cho Tịnh thiên tức là ngã, cho nên vị ấy biết rõ Tịnh thiên. Vị ấy cũng biết như vậy đối với Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, với đồng nhất, dị biệt, đa thù, điều được thấy, điều được nghe, điều được nhận biết, điều được hiểu rõ, điều được chứng đắc, điều được quán sát, điều được tác ý, điều được ý tư duy, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này. Vị ấy đối với cái tất cả thì biết là tất cả, cho rằng: “Tất cả không phải là ngã, tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của tất cả.” Vị ấy đã không cho tất cả chính là ngã, cho nên vị ấy biết rõ về tất cả.
[0596c03] Như Lai đối với đất thì biết rõ là đất, cho rằng: “Đất không phải là ngã, đất không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của đất.” Ta đã không cho đất chính là ngã, cho nên Ta biết rõ về đất. Ta cũng biết như vậy đối với nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên. Ta cũng biết như vậy đối với Tịnh thiên, cho rằng: “Tịnh thiên không phải là ngã, Tịnh thiên không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của Tịnh thiên.” Ta đã không cho Tịnh thiên chính là ngã, cho nên Ta biết rõ về Tịnh thiên. Ta cũng biết như vậy đối với Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, với đồng nhất, dị biệt, đa thù, điều được thấy, điều được nghe, điều được nhận biết, điều được hiểu rõ, điều được chứng đắc, điều được quán sát, điều được tác ý, điều được ý tư duy, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này. Ta đối với cái tất cả thì biết là tất cả, cho rằng: “Tất cả không phải là ngã, tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của tất cả.” Ta đã không cho cái tất cả chính là ngã, cho nên Ta biết rõ về cái tất cả.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.7
Ghi chú
1 Nguyên tác: Tưởng kinh 想經 (T.01. 0026.106. 0596b09). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.109. 0034a24); Tăng. 增 (T.02. 0125.44.6. 0766a04); M. 1, Mūlapariyāya Sutta (Kinh pháp môn căn bản).
2 Nguyên tác: Thần (神), tức thần ngã, bản ngã. Địa tức thị thần (地即是神). Tham chiếu: Tạp. 雜(T.02. 0099.109. 0034b16): Đất chính là ngã (地即是我); M. 1: Pathaviṃ meti (đất là ngã).
3 Sanh chủ (生主, Pajāpati): Chúa tể của muôn loài theo tín niệm Ấn giáo.
4 Vô Phiền thiên (無煩天), một trong 5 cõi trời thuộc Tịnh Cư thiên (淨居天). Cõi trời này không còn khổ, vui, không có tất cả phiền não.
5 Vô Nhiệt thiên (無熱天), một trong 5 cõi trời thuộc Tịnh Cư thiên. Cõi trời này không có tất cả nhiệt não bức bách.
6 Tịnh thiên (淨天) chỉ cho 5 tầng trời trong Đệ tứ thiền thuộc cõi Sắc: 1. Vô Phiền thiên (無煩天); 2. Vô Nhiệt thiên (無熱天); 3. Thiện Kiến thiên (善見天); 4. Thiện Hiện thiên (善現天);5. Sắc Cứu Cánh thiên (色究竟天), là nơi sanh đến của các bậc Thánh A-na-hàm.
7 Bản Hán, hết quyển 26.
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể kham nhẫn được sự sợ hãi, nếu có sự sợ hãi thì luôn giữ tâm không dao động. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nếu tâm ta sanh khởi ba niệm ác, bất thiện là niệm dục, niệm sân và niệm hại thì nguyện ta không để tâm dính mắc vào ba niệm đó. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
[0596a08] Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện,… (cho đến) thành tựu và an trú Thiền thứ tư. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết ba thứ trói buộc,4 đắc quả Tu-đà-hoàn, không đọa nơi xấu ác, quyết định hướng đến quả vị Chánh giác, nhiều nhất là còn bảy lần sanh ở cõi trời hoặc cõi người. Sau bảy lần qua lại nơi đó thì vượt thoát khổ đau. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết ba thứ trói buộc, giảm thiểu tham dục, sân hận và si mê; chỉ còn một lần sanh lại ở cõi trời hoặc cõi người, sau một lần qua lại nơi đó thì vượt thoát khổ đau. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết năm hạ phần kiết,5 sanh vào cõi kia6 mà chứng đắc Niết-bàn, được pháp bất thoái, không trở lại thế gian này nữa. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta được tịch tịnh giải thoát, lìa sắc, chứng đắc Vô sắc, với sức định như vậy mà tự thân chứng ngộ, thành tựu và an trú, nhờ tuệ quán đoạn trừ lậu hoặc, biết rõ lậu hoặc. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta được như ý túc, Thiên nhĩ trí, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Sanh tử trí, dứt sạch các lậu hoặc, chứng đắc Vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú, rồi biết như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”
Bấy giờ, vị Tỳ-kheo kia sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ lãnh, khéo ghi nhớ, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra. Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời Phật dạy, ẩn dật nơi yên tĩnh, ngồi thiền tư duy, tu hành tinh cần, tâm không buông lung.
Nhờ ẩn dật nơi yên tĩnh, ngồi thiền tư duy, tu hành tinh cần, tâm không buông lung mà đạt được mục đích của một người thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, chỉ mong thành tựu Phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời này tự biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú, rồi biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Vị Tôn giả ấy sau khi biết pháp rồi,... (cho đến) chứng quả A-la-hán.
[0596b06] Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Ghi chú
1 Nguyên tác: Nguyện kinh 願經 (T.01. 0026.105. 0595c11). Tham chiếu: M. 6, Ākaṅkheyya Sutta (Kinh ước nguyện); A. 10.71 - V. 131.
2 Nguyên tác: Thành tựu quán hạnh (成就觀行, vipassanāya samannāgato): Thành tựu tuệ minh sát.
3 Nguyên tác: Đại quang minh (大光明).
4 Nguyên tác: Tam kiết (三結). Ba thứ trói buộc, gồm trói buộc bởi nhận thức chấp ngã (thân kiến kiết,身見結, sakkāyadiṭṭhi); trói buộc bởi giới luật cực đoan (giới cấm thủ, 戒禁取, sīlabbataparāmāsa) và trói buộc bởi sự nghi ngờ, do dự (nghi kiết, 疑結, vicikicchā).
5 Nguyên tác: Ngũ hạ phần kiết (五下分結). Năm thứ trói buộc, gồm có: (i) Dục tham (貪欲), (ii) Sân khuể (瞋恚), (iii) Hữu thân kiến (有身見), (iv) Giới cấm thủ kiến (戒禁取見), (v) Nghi (疑).
6 Nguyên tác: Sanh ư bỉ gian (生於彼間), chỉ cho “ngũ Bất Hoàn thiên” (五不還天), còn gọi là “ngũ Tịnh Cư thiên” (五淨居天).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.