Viện Nghiên Cứu Phật Học

105. KINH NGUYỆN1

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, có vị Tỳ-kheo sống một mình với hạnh xa lìa, ở nơi thanh vắng, tĩnh tọa tư duy, tâm khởi lên ý niệm: “Nếu ta được đức Thế Tôn thăm hỏi, nói chuyện, thuyết pháp cho nghe thì ta sẽ đắc giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán,2 ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Suy nghĩ vậy rồi nên vào lúc xế chiều, vị Tỳ-kheo ấy rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ đức Phật. Trông thấy vị Tỳ-kheo ấy từ xa đi đến, nhân đó Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo:

– Các thầy hãy nguyện được Thế Tôn thăm hỏi, cùng nói chuyện với mình, thuyết pháp cho mình nghe để được đắc giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Ta có thân tộc, nguyện cho họ nhân nơi ta mà khi qua đời được sanh đến chỗ lành, sanh lên cõi trời. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Các thí chủ đã cung cấp y phục, thức ăn, giường nệm, thuốc thang, đủ các vật dụng để ta tu hành; ta nguyện cho họ nhân đây mà được nhiều công đức, có trí tuệ lớn,3 được nhiều phước báu. Vậy ta hãy thành tựu giới cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể nhẫn chịu được sự đói, khát, lạnh, nóng, ruồi, muỗi châm chích, sự bức bách của nắng, gió; bị tiếng xấu, bị đánh đập cũng có thể kham nhẫn, bản thân tật bệnh đau đớn cùng cực cho đến mạng sống sắp tận và những điều không vừa ý ta cũng đều có thể kham nhẫn. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể kham nhẫn được những điều không vừa ý, nếu có điều không vừa ý thì luôn giữ tâm không dao động. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể kham nhẫn được sự sợ hãi, nếu có sự sợ hãi thì luôn giữ tâm không dao động. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nếu tâm ta sanh khởi ba niệm ác, bất thiện là niệm dục, niệm sân và niệm hại thì nguyện ta không để tâm dính mắc vào ba niệm đó. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

[0596a08] Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta có thể lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện,… (cho đến) thành tựu và an trú Thiền thứ tư. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết ba thứ trói buộc,4 đắc quả Tu-đà-hoàn, không đọa nơi xấu ác, quyết định hướng đến quả vị Chánh giác, nhiều nhất là còn bảy lần sanh ở cõi trời hoặc cõi người. Sau bảy lần qua lại nơi đó thì vượt thoát khổ đau. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết ba thứ trói buộc, giảm thiểu tham dục, sân hận và si mê; chỉ còn một lần sanh lại ở cõi trời hoặc cõi người, sau một lần qua lại nơi đó thì vượt thoát khổ đau. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta dứt hết năm hạ phần kiết,5 sanh vào cõi kia6 mà chứng đắc Niết-bàn, được pháp bất thoái, không trở lại thế gian này nữa. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta được tịch tịnh giải thoát, lìa sắc, chứng đắc Vô sắc, với sức định như vậy mà tự thân chứng ngộ, thành tựu và an trú, nhờ tuệ quán đoạn trừ lậu hoặc, biết rõ lậu hoặc. Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Này Tỳ-kheo! Hãy nguyện rằng: “Nguyện cho ta được như ý túc, Thiên nhĩ trí, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Sanh tử trí, dứt sạch các lậu hoặc, chứng đắc Vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này tự biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú, rồi biết như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.’ Vậy ta hãy thành tựu giới Cụ túc, không phế bỏ thiền định và thành tựu tuệ quán, ở nơi an tịnh vắng lặng.”

Bấy giờ, vị Tỳ-kheo kia sau khi nghe Phật thuyết giảng, khéo thọ lãnh, khéo ghi nhớ, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra. Tỳ-kheo ấy lãnh thọ lời Phật dạy, ẩn dật nơi yên tĩnh, ngồi thiền tư duy, tu hành tinh cần, tâm không buông lung.

Nhờ ẩn dật nơi yên tĩnh, ngồi thiền tư duy, tu hành tinh cần, tâm không buông lung mà đạt được mục đích của một người thiện nam cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, chỉ mong thành tựu Phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời này tự biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú, rồi biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”

Vị Tôn giả ấy sau khi biết pháp rồi,... (cho đến) chứng quả A-la-hán.

[0596b06] Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Ghi chú

1 Nguyên tác: Nguyện kinh 願經 (T.01. 0026.105. 0595c11). Tham chiếu: M. 6, Ākaṅkheyya Sutta (Kinh ước nguyện); A. 10.71 - V. 131.

2 Nguyên tác: Thành tựu quán hạnh (成就觀行, vipassanāya samannāgato): Thành tựu tuệ minh sát.

3 Nguyên tác: Đại quang minh (大光明).
4 Nguyên tác: Tam kiết (三結). Ba thứ trói buộc, gồm trói buộc bởi nhận thức chấp ngã (thân kiến kiết,身見結, sakkāyadiṭṭhi); trói buộc bởi giới luật cực đoan (giới cấm thủ, 戒禁取, sīlabbataparāmāsa) và trói buộc bởi sự nghi ngờ, do dự (nghi kiết, 疑結, vicikicchā).

5 Nguyên tác: Ngũ hạ phần kiết (五下分結). Năm thứ trói buộc, gồm có: (i) Dục tham (貪欲), (ii) Sân khuể (瞋恚), (iii) Hữu thân kiến (有身見), (iv) Giới cấm thủ kiến (戒禁取見), (v) Nghi (疑).

6 Nguyên tác: Sanh ư bỉ gian (生於彼間), chỉ cho “ngũ Bất Hoàn thiên” (五不還天), còn gọi là “ngũ Tịnh Cư thiên” (五淨居天).

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.