Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếmma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.
Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Có một con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt khỏi lo sợ, diệt trừ khổ não, chấm dứt khóc than, chứng được Chánh pháp, đó là bốn niệm xứ.[2] Các đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở quá khứ đều đoạn trừ năm loại ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi[3] mà thành tựu giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.[4] Các đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở vị lai cũng đều đoạn trừ năm loại ngăn che, những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi mà thành tựu giác ngộ Vô Thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nay trong hiện tại, Ta là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng đều nhờ đoạn trừ năm loại ngăn che, là những thứ làm tâm ô uế, làm tuệ yếu kém, tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ, tu tập bảy giác chi mà thành tựu giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bốn niệm xứ là những gì? Đó là niệm xứ quán thân đúng như thân,[5] quán thọ[6] đúng như thọ, quán tâm đúng như tâm và quán pháp đúng như pháp.
Thế nào là niệm xứ quán thân đúng như thân? Nghĩa là Tỳ-kheo khi đi thì biết mình đi, khi đứng thì biết mình đứng, khi ngồi thì biết mình ngồi, khi nằm thì biết mình nằm, khi ngủ thì biết mình ngủ, khi thức thì biết mình thức, khi ngủ chập chờn thì biết mình ngủ chập chờn. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt.[7] Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo biết rõ lúc ra lúc vào, khéo quán sát và phân biệt; khi co, khi duỗi, lúc cúi, lúc ngước, dung mạo khoan thai, khoác y chỉnh tề, cầm bát ngay thẳng; đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ, thức, nói năng, im lặng thảy đều nhận biết rõ ràng. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo khi sanh khởi niệm xấu ác, bất thiện, liền dùng niệm thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định. Ví như thầy trò thợ mộc căng dây mực, búng lên khúc gỗ rồi dùng rìu bén mà đẽo cho thẳng; Tỳ-kheo khi sanh khởi niệm xấu ác, bất thiện liền dùng niệm thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định cũng giống như vậy. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo ngậm răng khít lại, lưỡi ấn lên vòm họng, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định.[8] Ví như hai lực sĩ giữ chặt một người gầy yếu, xoay chuyển bốn hướng, tùy ý đánh đập. Cũng vậy, Tỳ-kheo ngậm răng khít lại, lưỡi ấn lên vòm họng, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
[0582c12] Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo niệm hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào; niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra; thở vào dài thì biết thở vào dài; thở ra dài thì biết thở ra dài; thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn; thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn; cảm giác toàn thân, thở vào; cảm giác toàn thân, thở ra; an tịnh thân hành, thở vào; an tịnh thân hành, thở ra. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục sanh, thấm nhuần vào thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân này, hỷ lạc do ly dục sanh, không đâu không có. Ví như người khéo tắm, cho bột tắm vào chậu nước, nước bột tắm thấm vào thân, phủ khắp toàn thân, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do ly dục sanh thấm nhuần vào thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân này, hỷ lạc do ly dục sanh, không đâu không có. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh, thấm nhuần toàn thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không có. Giống như nguồn suối trên núi, trong sạch không nhơ, đầy ắp, chảy tràn; nước từ bốn phương chảy đến nhưng không thể đổ vào được mà chính từ lòng suối, nước tự phun trào, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi, phủ khắp tràn đầy, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh, thấm nhuần toàn thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân thể, hỷ lạc do định sanh không đâu không có. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
[0583a07] Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ sanh, thấm nhuần toàn thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân thể, lạc do ly hỷ sanh không đâu không có. Giống như các loại sen xanh, sen hồng, sen đỏ, sen trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước, ở dưới đáy nước, gốc rễ, hoa, lá, cọng thảy đều thấm nước, tràn đầy khắp cả, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do ly hỷ sanh, thấm nhuần toàn thân, tràn đầy khắp cả. Khắp trong thân thể, lạc do ly hỷ sanh không đâu không có. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, ở trong thân này, Tỳkheo với tâm thanh tịnh, ý cởi mở làm cho trùm khắp, thành tựu an trụ; ở trong thân này với tâm thanh tịnh không đâu không cùng khắp. Giống như người trùm một cái áo rộng bảy hoặc tám khuỷu tay, từ đầu cho đến chân, khắp cả thân đều được phủ kín. Cũng vậy, ở trong thân này, Tỳ-kheo với tâm thanh tịnh không đâu không cùng khắp. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo luôn nhớ nghĩ ánh sáng, khéo léo thọ trì, khéo ghi nhớ điều đang niệm, như phía trước, phía sau cũng như vậy; như ở phía sau, phía trước cũng như vậy, ngày cũng như đêm, đêm cũng như ngày, dưới cũng như trên, trên cũng như dưới. Nhờ như vậy, tâm không điên đảo, không bị ràng buộc, tâm nhớ nghĩ ánh sáng nên không bao giờ bị bóng tối che lấp. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo khéo giữ đối tượng quán tưởng, khéo ghi nhớ điều đang niệm. Giống như người ngồi quán sát kẻ nằm, người nằm quán sát kẻ ngồi. Cũng vậy, Tỳ-kheo khéo giữ đối tượng quán tưởng, khéo ghi nhớ điều đang niệm. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
[0583b04] Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo tùy theo từng chỗ của thân này, tùy theo sự xấu đẹp của thân này mà quán sát từ đầu cho đến chân để thấy chúng thảy đều đầy dẫy các thứ bất tịnh. Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da mịn hoặc thô, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, mật, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não bộ, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đàm dãi, nước tiểu, v.v... Như một cái bồn chứa đủ loại hạt giống, người có mắt sáng thì thấy rõ ràng “đây là hạt lúa, hạt kê, kia là hạt cải, hạt cỏ, hạt rau…” Cũng vậy, Tỳ-kheo tùy theo từng chỗ của thân này, tùy theo sự xấu đẹp của thân này mà quán sát từ đầu cho đến chân để thấy chúng đầy dẫy các thứ bất tịnh. Trong thân này của ta có tóc, lông, móng, răng, da mịn hoặc thô, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, mật, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não và não bộ, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đàm dãi, nước tiểu, v.v... Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán sát các giới trong thân, thấy trong thân này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Ví như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu đoạn, Tỳ-kheo quán các giới trong thân, thấy trong thân này của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới, thức giới cũng giống như thế. Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán xác chết, xác chết mới một, hai ngày, cho đến sáu, bảy ngày, đang bị quạ diều bươi mổ, chó sói cấu xé, hoặc đã được hỏa thiêu hay đã được chôn lấp, hoặc đang bị rữa nát hư hoại. Quán sát rồi, vị ấy tự so sánh “thân ta ngày nay cũng lại như vậy, đều sẽ có trường hợp này, không thể tránh được.” Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán hài cốt bầm xanh, rữa nát gần hết, xương rơi vãi ngổn ngang trên đất, như đã thấy nơi nghĩa địa. Thấy rồi, vị ấy tự so sánh “thân ta ngày nay cũng lại như vậy, đều sẽ có trường hợp này, không thể tránh được.” Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán bộ xương người chết, không còn da thịt máu huyết, chỉ có xương và gân dính lại với nhau, như đã thấy nơi nghĩa địa. Quán sát rồi tự so sánh “thân ta ngày nay cũng lại như vậy, đều sẽ có trường hợp này, không thể tránh được.” Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
[0583c10] Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán xương người chết rời ra từng đốt, nằm rải rác khắp nơi như đã thấy nơi nghĩa địa, các xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi. Quán rồi, vị ấy tự so sánh “thân ta ngày nay cũng lại như vậy, đều sẽ có trường hợp này, không thể tránh được.” Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán thân đúng như thân nghĩa là, Tỳ-kheo quán xương người chết có màu trắng như vỏ ốc, hoặc xanh như lông chim bồ câu, hoặc đỏ như màu máu, hoặc mục nát, bể vụn… như đã thấy nơi nghĩa địa. Quán rồi, vị ấy tự so sánh “thân ta ngày nay cũng lại như vậy, đều sẽ có trường hợp này, không thể tránh được.” Cứ như vậy, Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán ngoại thân đúng như thân, lập niệm tại thân, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thân đúng như thân.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni quán thân đúng như thân với từng chi tiết như vậy, đó gọi là Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tu tập niệm xứ quán thân đúng như thân.
Thế nào là niệm xứ quán thọ đúng như thọ? Nghĩa là Tỳ-kheo khi thọ nhận cảm giác lạc liền biết đang thọ nhận cảm giác lạc; khi thọ nhận cảm giác khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác khổ; khi thọ nhận cảm giác không lạc không khổ liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ. Khi thân thọ nhận cảm giác lạc, thân thọ nhận cảm giác khổ, thân thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; khi tâm thọ nhận cảm giác lạc, tâm thọ nhận cảm giác khổ, tâm thọ nhận cảm giác không lạc không khổ; cảm giác lạc khi ăn, cảm giác khổ khi ăn, cảm giác không lạc không khổ khi ăn; cảm giác lạc khi không ăn, cảm giác khổ khi không ăn, cảm giác không lạc không khổ khi không ăn; cảm giác lạc khi có dục, cảm giác khổ khi có dục, cảm giác không lạc không khổ khi có dục; cảm giác lạc khi không có dục, cảm giác khổ khi không có dục, cảm giác không lạc không khổ khi không có dục liền biết đang thọ nhận cảm giác không lạc không khổ khi không có dục. Cứ như thế, Tỳ-kheo quán nội thọ đúng như thọ, quán ngoại thọ đúng như thọ, lập niệm tại thọ, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán thọ đúng như thọ.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni quán thọ đúng như thọ với từng chi tiết như vậy, đó gọi là Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tu tập niệm xứ quán thọ đúng như thọ.
[0584a05] Thế nào là niệm xứ quán tâm đúng như tâm? Tỳ-kheo có tâm tham dục thì biết đúng như thật có tâm tham dục, có tâm không tham dục thì biết đúng như thật là có tâm không tham dục. Khi có sân hay không sân, có si hay không si, có nhiễm ô hay không nhiễm ô, có hợp hay có tan, có thấp hay có cao, có nhỏ hay có lớn, có tu hay không tu, có định hay không định, không có tâm giải thoát thì biết đúng như thật là không có tâm giải thoát, có tâm giải thoát thì biết đúng như thật có tâm giải thoát. Cứ như thế, Tỳ-kheo quán nội tâm đúng như tâm, quán ngoại tâm đúng như tâm, lập niệm tại tâm, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán tâm đúng như tâm.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni quán tâm đúng như tâm với từng chi tiết như vậy, đó gọi là Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tu tập niệm xứ quán tâm đúng như tâm.
Thế nào là niệm xứ quán pháp đúng như pháp? Khi con mắt duyên sắc, sanh nội kết, nếu bên trong thật có kết thì Tỳ-kheo biết đúng như thật bên trong có kết, bên trong thật không có kết cũng biết đúng như thật bên trong không có kết. Nếu nội kết chưa sanh, bây giờ sanh, cũng biết đúng như thật. Nếu nội kết đã sinh và được đoạn trừ, không sinh trở lại nữa, cũng đều biết đúng như thật. Với các căn tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng giống như thế. Khi ý duyên pháp, sanh nội kết, nếu Tỳ-kheo bên trong thật có kết thì biết đúng như thật là bên trong có kết, bên trong không có kết thì biết đúng như thật là bên trong không có kết, nội kết chưa sanh, bây giờ sanh khởi, cũng biết đúng như thật. Nội kết đã sanh và đã được đoạn trừ, không sanh lại nữa, cũng đều biết đúng như thật. Cứ như thế, Tỳ-kheo quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó gọi là Tỳ-kheo quán pháp đúng như pháp, tức là quán sáu xứ bên trong.
Lại nữa, Tỳ-kheo quán pháp đúng như pháp, nghĩa là khi trong tâm thật có tham dục thì Tỳ-kheo biết như thật là có tham dục, trong tâm thật không có tham dục thì biết như thật là không có tham dục; tham dục chưa sanh, bây giờ sanh khởi, cũng biết như thật; tham dục đã sanh và được đoạn trừ, không còn sanh trở lại nữa, cũng đều biết đúng như thật. Đối với sân hận, thụy miên, trạo cử cũng giống như thế. Bên trong thật có nghi, biết đúng như thật là đang có nghi; bên trong thật không có nghi, biết đúng như thật là không có nghi. Nghi chưa sanh, bây giờ sanh khởi, cũng biết đúng như thật. Nghi đã sanh và đã được đoạn trừ, không sanh lại nữa, cũng đều biết đúng như thật. Cứ như thế, Tỳ-kheo quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó gọi là Tỳ-kheo quán pháp đúng như pháp, tức là quán về năm loại ngăn che.
[0584b03] Lại nữa, Tỳ-kheo quán pháp đúng như pháp, nghĩa là khi bên trong thật có niệm giác chi, Tỳ-kheo biết như thật là có niệm giác chi, bên trong thật không có niệm giác chi thì biết như thật là không có niệm giác chi; niệm giác chi chưa sanh, bây giờ sanh khởi, cũng biết đúng như thật; niệm giác chi đã sanh thì ghi nhớ không quên, không để suy thoái, việc tu tập càng lúc càng tăng trưởng, cũng đều biết đúng như thật. Đối với các giác chi trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định và xả, cũng giống như vậy. Bên trong thật có xả giác chi thì biết đúng như thật là đang có xả giác chi, bên trong thật không có xả giác chi thì biết đúng như thật là không có xả giác chi. Xả giác chi chưa sanh, bây giờ sanh khởi, cũng biết đúng như thật; xả giác chi đã sanh thì ghi nhớ không quên, không để suy thoái, việc tu tập càng lúc càng tăng trưởng, đều biết đúng như thật. Cứ như thế, Tỳ-kheo quán nội pháp đúng như pháp, quán ngoại pháp đúng như pháp, lập niệm tại pháp, thấy biết rõ ràng, sáng suốt minh đạt. Đó là Tỳ-kheo quán pháp đúng như pháp, tức là quán về bảy giác chi.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni quán pháp đúng như pháp với từng chi tiết như vậy, đó gọi là Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tu tập niệm xứ quán pháp đúng như pháp.
Nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ này trong vòng bảy năm thì nhất định sẽ chứng được một trong hai quả vị: Hoặc là thành tựu Trí cứu cánh ngay trong hiện tại, hoặc là chứng đắc A-na-hàm nếu còn hữu dư. Thậm chí không cần phải đến bảy năm mà sáu năm, hay năm năm, bốn năm, ba năm, hai năm hoặc một năm, hoặc chỉ trong bảy tháng nếu Tỳkheo hay Tỳ-kheo-ni tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ cũng sẽ nhất định chứng được một trong hai quả vị ấy. Thậm chí không cần phải đến bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai hay một tháng mà chỉ trong bảy ngày bảy đêm nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ thì cũng sẽ nhất định chứng được một trong hai quả vị: Hoặc là thành tựu Trí cứu cánh ngay trong hiện tại, hoặc là chứng đắc A-na-hàm nếu còn hữu dư. Cho đến không cần phải đến bảy, sáu, năm, bốn, ba, hay hai ngày hai đêm, cũng không cần trong một ngày một đêm mà Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào trong từng khoảnh khắc tâm an trụ vững chãi nơi bốn niệm xứ, nếu buổi sáng thực hành như vậy thì nhất định buổi tối liền được thăng tiến, nếu buổi tối thực hành như vậy thì nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tiến.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.[9]
Chú thích:
[1] Nguyên tác: Niệm xứ kinh 念處經 (T.01. 0026.98. 0582b07). Tham chiếu: Phân biệt Thánh đế kinh 分別聖諦經 (T.01. 0026.31. 0467a28); Niệm thân kinh 念身經 (T.01. 0026.81. 0554c10); Tứ đế kinh 四諦經 (T.01. 0032. 0814b08); Tăng. 增 (T.02. 0125.12.1. 0568a01); D. 10, Mahāsatipaṭṭhāna Sutta (Kinh đại niệm xứ); M. 10, Satipaṭṭhāna Sutta (Kinh niệm xứ); M. 119, Kāyagatāsati Sutta (Kinh niệm thân).
[2] Bốn niệm xứ (四念處, cattāro satipaṭṭhāna).
[3] Thất giác chi (七覺支, saptabodhyaṅgāni).
[4] Nguyên tác: Vô thượng chánh tận chi giác (無上正盡之覺).
[5] Nguyên tác: Quán thân như thân (觀身如身). Như (如): Giống như, đúng như (如同). Tham chiếu: M. 10: Anupassī, có nghĩa là quán sát liên tục, từ sát-na này đến sát-na khác, chuyên chú quán sát. Ở một phương diện khác thì anu là tiếp đầu ngữ, có nghĩa tùy theo, dựa theo, đúng theo. Chính vì vậy mà anupassī, động từ là anupassati, còn được dịch là “tùy quán” (隨觀). Đoạn kinh giải thích tiếp theo cũng bổ nghĩa cho điều này.
[6] Nguyên tác: Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna.
[7] Nguyên tác: Lập niệm tại thân, hữu tri hữu kiến, hữu minh hữu đạt (立念在身, 有知有見, 有明有達). Tham chiếu: M. 10, Satipaṭṭhāna Sutta (Kinh niệm xứ): Ātāpī sampajāno satimā (nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm). Ở đây, MĀ. 98 không đề cập đến yếu tố tinh cần, nhiệt tâm (ātāpī) như M. 10.
[8] Tham chiếu: M. 20, Vitakkasanthāna Sutta (Kinh an trú tầm): Bhikkhunā dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhitabbaṁ abhinippīḷetabbaṁ abhisantāpetabbaṁ. Tassa dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti (Tỷ-kheo ấy phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong), HT. Thích Minh Châu dịch.
[9] Bản Hán, hết quyển 24.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.