Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếmma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan một mình tĩnh tọa tại nơi thanh vắng, tâm khởi tư duy như vầy: “Pháp duyên khởi này thật là kỳ diệu, thật là sâu xa, rõ ràng mà lại thâm thúy! Thế nhưng ta quán sát thấy pháp này hết sức đơn giản, cực kỳ đơn giản!”
Thế rồi, vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
Bạch Thế Tôn! Hôm nay con một mình tĩnh tọa tại nơi thanh vắng, tâm khởi tư duy như vầy: “Pháp duyên khởi này thật là kỳ diệu, thật là sâu xa, rõ ràng mà lại thâm thúy! Thế nhưng ta quán sát thấy pháp ấy hết sức đơn giản, cực kỳ đơn giản!”
Đức Thế Tôn bảo:
Này A-nan! Thầy chớ nghĩ rằng: “Pháp duyên khởi này hết sức đơn giản, cực kỳ đơn giản!” Vì sao như thế? Vì pháp duyên khởi này thật là kỳ diệu, thật là sâu xa, rõ ràng mà lại thâm thúy! Này A-nan! Chính vì không biết như thật, không thấy như thật, không giác ngộ, không thông đạt pháp duyên khởi này, nên khiến cho chúng sinh bị dính mắc với nhau như đan trên khung cửi,[2] như dây cỏ dại ràng rịt quấn nhau,[3] thường xuyên rối loạn, tấp nập ồn ào, trôi lăn từ đời này sang đời khác, từ kiếp nọ đến kiếp kia, cứ qua lại như vậy không thể ra khỏi vòng sanh tử. Này A-nan! Thế nên phải biết, pháp duyên khởi này thật là kỳ diệu, thật là sâu xa, rõ ràng mà lại thâm thúy!
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Già và chết có do duyên không?” Hãy trả lời như vầy: “Già-chết có do duyên.” Nếu lại hỏi: “Già-chết do duyên gì?” Nên đáp: “Do duyên sanh.”4
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Sanh có do duyên không?” Nên đáp: “Sanh cũng do duyên.” Nếu lại hỏi: “Sanh do duyên gì?” Nên đáp: “Do duyên nơi hữu.”[4]
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Hữu có do duyên không?” Nên đáp: “Hữu cũng do duyên.” Nếu lại hỏi: “Hữu có duyên gì?” Nên đáp: “Do duyên nơi thủ.”[5]
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Thủ có do duyên không?” Nên đáp: “Thủ cũng do duyên.” Nếu lại hỏi: “Do duyên gì?” Nên đáp: “Do duyên nơi ái.”7
Này A-nan! Đó là do duyên ái nên có thủ, do duyên thủ nên có hữu, do duyên hữu nên có sanh, do duyên sanh nên có già và chết, do duyên già-chết nên có buồn lo, khóc than, khổ não… Như vậy là toàn bộ khối khổ đau lớn sanh khởi.
[0578c06] Này A-nan! Do duyên sanh nên có già-chết. Ở đây nói do duyên sanh nên có già-chết, nên biết, vì do duyên sanh nên có già-chết. Này A-nan! Nếu không có sự sanh ra của các loài như cá và các loài cá, chim và các loài chim, muỗi và các loài muỗi, rồng và các loài rồng, thần và các loài thần, quỷ và các loài quỷ, trời và các loài trời, người và các loài người thì này A-nan, các loài chúng sanh như thế này hay như thế kia, ở bất cứ nơi này hay nơi kia, nếu không có sự sanh ra của bất cứ loài nào, giả sử đã xa lìa sự sanh ra thì có giàchết chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Nên biết rằng nguyên nhân của già-chết, sự tập khởi của già-chết, gốc rễ của già-chết, duyên của già-chết, đều từ sanh mà ra. Vì sao như thế? Vì do duyên sanh nên có già-chết.
Này A-nan! Do duyên hữu nên có sanh. Ở đây nói do duyên hữu nên có sanh, nên biết, vì do duyên hữu mà có sanh. A-nan! Nếu không có sự hữu của các loài như cá và các loài cá, chim và các loài chim, muỗi và các loài muỗi, rồng và các loài rồng, thần và các loài thần, quỷ và các loài quỷ, trời và các loài trời, người và các loài người thì này A-nan, các loài chúng sanh như thế này hay như thế kia, ở bất cứ nơi này hay nơi kia, nếu không có sự hữu của bất cứ loài nào, giả sử đã xa lìa sự hữu thì có sanh chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của sanh, sự tập khởi của sanh, gốc rễ của sanh, duyên của sanh chính là hữu. Vì sao như thế? Vì do duyên hữu nên có sanh.
Này A-nan! Do duyên thủ nên có hữu. Ở đây nói do duyên thủ nên có hữu, nên biết, vì do duyên thủ mà có hữu. A-nan! Nếu không có thủ, bất cứ loài nào cũng không có thủ, giả sử đã xa lìa thủ thì sẽ có hữu chăng? Có thể dựng lập hữu chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của hữu, sự tập khởi của hữu, gốc rễ của hữu, duyên của hữu chính là thủ. Vì sao như thế? Vì do duyên thủ nên có hữu.
Này A-nan! Do duyên ái nên có thủ. Ở đây nói do duyên ái nên có thủ, nên biết, vì do duyên ái mà có thủ. A-nan! Nếu không có ái, bất cứ loài nào cũng không có ái, giả sử đã xa lìa ái thì sẽ có thủ chăng? Có thể dựng lập thủ chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của thủ, sự tập khởi của thủ, gốc rễ của thủ, duyên của thủ chính là ái. Vì sao như thế? Vì do duyên ái nên có thủ.
[0579a01] Này A-nan! Đó là, do duyên ái nên có tìm cầu,[6] do duyên tìm cầu nên được lợi, do duyên được lợi nên có phân chia, do duyên phân chia nên có nhiễm dục, do duyên nhiễm dục nên có đắm trước, do duyên đắm trước nên có keo kiệt, do duyên keo kiệt nên có gia sản,[7] do duyên gia sản nên có canh giữ.[8] Này A-nan! Do duyên canh giữ nên có dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói dối, nói hai chiều, phát sanh vô lượng pháp ác, bất thiện. Như vậy là toàn bộ khối khổ đau lớn sanh khởi.
Này A-nan! Nếu không có canh giữ, tất cả chúng sanh đều không có sự canh giữ, giả sử đã xa lìa sự canh giữ thì có dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói dối, nói hai chiều và phát sanh vô lượng pháp xấu, bất thiện chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói dối, nói hai chiều, phát sanh vô lượng pháp ác, bất thiện thì nhân của chúng, sự tập khởi của chúng, gốc rễ của chúng và duyên của chúng đều là do canh giữ. Vì sao như thế? Vì do duyên canh giữ nên mới có dao gậy, đấu tranh, dua nịnh, lừa gạt, nói dối, nói hai chiều và sanh khởi vô lượng pháp ác, bất thiện. Như vậy là toàn bộ khối khổ đau lớn sanh khởi.
Này A-nan! Do duyên gia sản nên có canh giữ. Ở đây nói do duyên gia sản nên có canh giữ, nên biết, vì do duyên gia sản nên có canh giữ. A-nan! Nếu không có gia sản, tất cả chúng sanh đều không có gia sản, giả sử đã xa lìa gia sản thì có canh giữ chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của canh giữ, sự tập khởi của canh giữ, gốc rễ của của canh giữ, duyên của canh giữ chính là gia sản. Vì sao như thế? Vì do duyên gia sản nên có canh giữ.
Này A-nan! Do duyên keo kiệt nên có gia sản. Ở đây nói do duyên keo kiệt nên có gia sản, nên biết, vì do duyên keo kiệt nên có gia sản. A-nan, nếu không có keo kiệt, tất cả chúng sanh đều không keo kiệt, giả sử đã xa lìa keo kiệt thì có gia sản chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của gia sản, sự tập khởi của gia sản, gốc rễ của gia sản, duyên của gia sản chính là keo kiệt. Vì sao như thế? Vì duyên keo kiệt nên có gia sản.
Này A-nan! Do duyên đắm trước nên có keo kiệt. Ở đây nói do duyên đắm trước nên có keo kiệt, nên biết, vì do duyên đắm trước nên có keo kiệt. A-nan, nếu không có đắm trước, tất cả chúng sanh đều không đắm trước, giả sử đã xa lìa sự đắm trước thì có keo kiệt chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của keo kiệt, sự tập khởi của keo kiệt, gốc rễ của keo kiệt, duyên của keo kiệt chính là đắm trước. Vì sao như thế? Vì do duyên đắm trước nên có keo kiệt.
Này A-nan, do duyên nhiễm dục nên có đắm trước. Ở đây nói do duyên nhiễm dục nên có đắm trước, nên biết, vì do duyên nhiễm dục nên có đắm trước. A-nan! Nếu không có nhiễm dục, tất cả chúng sanh đều không có nhiễm dục, giả sử đã xa lìa nhiễm dục thì có đắm trước chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
[0579b01] – Thế nên, này A-nan, phải biết rằng nguyên nhân của đắm trước, sự tập khởi của đắm trước, gốc rễ của đắm trước, duyên của đắm trước chính là nhiễm dục. Vì sao như thế? Vì do duyên nhiễm dục nên có đắm trước.
Này A-nan! Do duyên phân chia nên có nhiễm dục. Ở đây nói do duyên phân chia nên có nhiễm dục, nên biết, vì do duyên phân chia nên có nhiễm dục. A-nan! Nếu không có phân chia, tất cả chúng sanh đều không có phân chia, giả sử đã xa lìa sự phân chia thì có nhiễm dục chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan, phải biết rằng nguyên nhân của nhiễm dục, sự tập khởi của nhiễm dục, gốc rễ của nhiễm dục, duyên của nhiễm dục chính là phân chia. Vì sao như thế? Vì duyên phân chia nên có nhiễm dục.
Này A-nan! Do duyên được lợi nên có phân chia. Ở đây nói do duyên được lợi nên có phân chia, nên biết, vì do duyên được lợi nên có phân chia. A-nan! Nếu không có sự được lợi, tất cả chúng sinh đều không màng đến được lợi, giả sử đã xa lìa sự được lợi thì có phân chia chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của phân chia, sự tập khởi của phân chia, gốc rễ của phân chia, duyên của phân chia chính là sự được lợi. Vì sao như thế? Vì do duyên được lợi nên có phân chia.
Này A-nan! Do duyên tìm cầu nên có được lợi. Ở đây nói do duyên tìm cầu nên có được lợi, nên biết, vì do duyên tìm cầu nên có được lợi. A-nan! Nếu không có tìm cầu, tất cả chúng sinh đều không tìm cầu, giả sử đã xa lìa tìm cầu thì có sự được lợi chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan, phải biết rằng nguyên nhân của được lợi, sự tập khởi của được lợi, gốc rễ của được lợi, duyên của được lợi chính là tìm cầu. Vì sao như thế? Vì do duyên tìm cầu nên có được lợi.
Này A-nan! Do duyên ái nên có tìm cầu. Ở đây nói do duyên ái nên có tìm cầu, nên biết, vì do duyên ái nên có tìm cầu. A-nan! Nếu không có ái, tất cả chúng sinh đều không có ái, giả sử đã xa lìa ái thì có tìm cầu chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của tìm cầu, sự tập khởi của tìm cầu, gốc rễ của tìm cầu, duyên của tìm cầu chính là ái. Vì sao như thế? Vì do duyên ái nên có tìm cầu.
Này A-nan! Dục ái[9] và hữu ái,[10] hai pháp này đều nhân nơi thọ,[11] duyên nơi thọ mà sanh ra. A-nan! Nếu có người hỏi: “Thọ có do duyên không?” Hãy nên đáp: “Thọ cũng có do duyên.” Nếu lại hỏi: “Thọ duyên gì?” thì nên đáp: “Duyên nơi xúc.”14 Nên biết rằng, do duyên xúc nên có thọ. Này A-nan! Nếu không có sự tiếp nhận của mắt, tất cả chúng sanh đều không có sự tiếp nhận của mắt, giả sử đã xa lìa sự tiếp nhận của mắt thì sẽ có duyên sự tiếp nhận của mắt để sanh ra cảm thọ vui, cảm thọ khổ và cảm thọ không vui không khổ chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Nếu không có tai, mũi, lưỡi, thân và sự tiếp nhận của ý, tất cả chúng sanh đều không có sự tiếp nhận của ý, giả sử đã xa lìa sự tiếp nhận của ý thì sẽ có duyên sự tiếp nhận của ý để sanh ra cảm thọ vui, cảm thọ khổ và cảm thọ không vui không khổ chăng?
[0579c02] – Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của thọ, sự tập khởi của thọ, gốc rễ của thọ, duyên của thọ chính là xúc. Vì sao như thế? Vì duyên xúc nên có thọ.
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Xúc có do duyên không?” thì nên đáp: “Xúc có do duyên.” Nếu lại hỏi: “Xúc duyên gì?” thì nên đáp: “Duyên danh sắc.”15 Nên biết rằng, do duyên danh sắc mà có xúc. Này A-nan! Do sở hành, sở duyên16 mà có danh thân.[12] Nếu lìa hành, lìa duyên này thì có xúc hữu đối[13] chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Do sở hành, sở duyên mà có sắc thân. Nếu lìa hành, lìa duyên này thì có xúc tăng ngữ[14] chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Giả sử lìa danh thân và sắc thân thì sẽ có xúc hoặc xúc được dựng lập chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Thế nên, phải biết rằng nguyên nhân của xúc, sự tập khởi của xúc, gốc rễ của xúc, duyên của xúc chính là danh sắc. Vì sao như thế? Vì duyên danh sắc nên có xúc.
Danh sắc (名色, nāmarūpa).
Sở hành, sở duyên (所行, 所緣): Hành (行) ở đây chỉ cho hành tướng, tướng, tướng mạo (行相, 相貌); sở duyên (所緣) chỉ cho những dấu hiệu, đối tượng, sự biểu hiện. A-tỳ-đạt-ma Thuận chánh lý luận 阿毘達磨順正理論 (T.29. 1562.029. 0506a20) đã dẫn lại Đại duyên khởi kinh (大緣起經), tên khác của Đại nhân kinh 大因經. Bản dịch Việt giải thích: “Do có các hành tướng, do có các biểu hiện mà dựng lập danh thân” (諸有行相, 諸有摽舉施設名身). Cùng diễn đạt về nghĩa này, D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên) dùng 3 cụm từ ākāra (hành tướng, tướng mạo), liṅga (dấu, dấu hiệu), nimitta (tướng, hình tướng, tướng trạng, dấu hiệu).
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Danh sắc có do duyên chăng?” thì nên đáp: “Danh sắc có do duyên.” Nếu lại hỏi: “Danh sắc duyên gì?” thì nên đáp: “Duyên nơi thức.”[15] Nên biết rằng, do duyên thức mà có danh sắc. Này A-nan! Nếu thức không vào thai mẹ mà chỉ có danh sắc thì có thân này chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Nếu thức mới vào thai liền trở ra ngay thì danh sắc có kết hợp với tinh khí chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Nếu thức căn bản[16] của bé trai hoặc bé gái bị đoạn hoại và chẳng tồn tại[17] thì danh sắc có tăng trưởng dần lên chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng nguyên nhân của danh sắc, sự tập khởi của danh sắc, gốc rễ của danh sắc, duyên của danh sắc chính là thức. Vì sao như thế? Vì do duyên thức nên có danh sắc.
Này A-nan! Nếu có người hỏi: “Thức có do duyên chăng?” thì nên đáp: “Thức có do duyên.” Nếu lại hỏi: “Thức duyên gì?” thì nên đáp: “Duyên danh sắc.” Nên biết rằng do duyên danh sắc mà có thức. Này A-nan! Nếu thức không có danh sắc, nếu thức không an lập, không dựa vào danh sắc thì thức có sanh, có già, có bệnh, có chết, có khổ chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Thế nên, này A-nan! Phải biết rằng, nguyên nhân của thức, sự tập khởi của thức, gốc rễ của thức, duyên của thức chính là danh sắc. Vì sao như thế? Vì do duyên danh sắc nên có thức.
Này A-nan! Đó là, do duyên danh sắc nên có thức, do duyên thức nên cũng có danh sắc, từ đó mà có ngôn ngữ, có danh xưng và có sự diễn đạt về hiện hữu.[18] Nghĩa là thức và danh sắc cùng đi với nhau.
Này A-nan! Sao gọi là có một loại kiến chấp hữu ngã?
[0580a04] Tôn-giả A-nan thưa:
Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý.
Đức Phật dạy:
Này A-nan! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ giảng nói cho thầy nghe về nghĩa đó.
Tôn giả A-nan vâng lời và lắng nghe. Phật dạy:
Này A-nan! Có kiến chấp cho rằng thọ là ngã.[19] Lại có kiến chấp không cho thọ là ngã, nhưng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ. Hoặc lại có kiến chấp không cho rằng thọ là ngã và cũng không cho rằng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ cho rằng ngã không cảm thọ gì cả.
Này A-nan! Nếu có người cho rằng thọ là ngã thì nên hỏi người ấy rằng: “Ông có ba cảm thọ: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ và cảm thọ không lạc không khổ; trong ba cảm thọ này, ông cho thọ nào là ngã?” Này A-nan! Nên nói tiếp với người ấy: “Nếu lúc có cảm thọ về lạc thọ thì ngay lúc ấy, hai cảm thọ kia là cảm thọ khổ và cảm thọ không khổ không lạc diệt mất; lúc ấy, chỉ có cảm thọ về lạc thọ, nhưng lạc thọ là pháp vô thường, là pháp khổ, là pháp hoại diệt; nếu khi lạc thọ diệt rồi thì người kia không nghĩ rằng ‘chẳng phải là ngã diệt’ chăng?”
Này A-nan! Nếu chỉ có cảm thọ về khổ thọ thì lúc ấy hai cảm thọ kia là cảm thọ lạc và cảm thọ không khổ không lạc diệt mất; người ấy lúc đó chỉ có cảm thọ về khổ thọ, nhưng khổ thọ là pháp vô thường, là pháp khổ, là pháp hoại diệt; nếu khi khổ thọ diệt rồi thì người ấy không nghĩ rằng “chẳng phải là ngã diệt” chăng?
Này A-nan! Nếu người ấy chỉ có cảm thọ về không khổ không lạc thọ thì lúc ấy cả hai cảm thọ kia là lạc thọ và khổ thọ diệt mất, người ấy lúc đó chỉ có cảm giác về không khổ không lạc thọ, nhưng không khổ không lạc thọ là pháp vô thường, là pháp khổ, là pháp hoại diệt; nếu khi không khổ không lạc thọ diệt rồi thì người ấy không nghĩ rằng “chẳng phải là ngã diệt” chăng?
Này A-nan, thọ là pháp vô thường như thế, lại xen lẫn[20] cả khổ và lạc, lẽ nào lại còn chấp thọ là ngã chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Thọ là pháp vô thường như vậy, lại xen lẫn cả khổ và lạc, do đó không nên chấp thọ là ngã.
Này A-nan! Nếu lại có một loại kiến chấp không cho rằng thọ là ngã, nhưng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ thì nên nói với người ấy: “Nếu ông không cảm thọ thì thọ không thể có và không thể nói ‘cái này là sở hữu của tôi.’” Này A-nan! Thế thì người ấy có còn chấp “thọ không phải là ngã, nhưng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ” nữa chăng?
[0580b03] – Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Do đó người ấy không nên chấp như vầy: “Thọ không phải là ngã, nhưng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ.”
Này A-nan! Nếu lại có một loại kiến chấp không cho rằng thọ là ngã, cũng không cho rằng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ chấp rằng ngã không cảm thọ gì cả thì nên nói với người ấy: “Nếu ông không cảm thọ, hoàn toàn không có cảm thọ, nhưng nếu ngã ở ngoài cảm thọ thì không thể nói ngã thanh tịnh.” Này A-nan! Thế thì người kia có còn chấp thọ không phải là ngã, cũng không chấp ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ chấp ngã hoàn toàn không có cảm thọ nữa chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Do đó người kia không nên chấp như vầy: “Thọ không phải là ngã, cũng không chấp ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là khả năng cảm thọ, mà chỉ chấp ngã hoàn toàn không có cảm thọ.” Đó là một loại kiến chấp có ngã.
Này A-nan! Thế nào là một loại không kiến chấp rằng có ngã?
Tôn giả A-nan bạch Phật:
Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật liền bảo:
Này A-nan! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ giảng nói cho thầy nghe về nghĩa đó.
Tôn giả A-nan vâng lời và lắng nghe. Phật dạy:
Này A-nan! Có người không cho rằng thọ là ngã, cũng không cho rằng ngã có cảm thọ, vì tính cách của ngã là có khả năng cảm thọ, cũng không cho rằng ngã hoàn toàn không có cảm thọ. Người ấy do không chấp như vậy nên không còn thọ sanh ở thế gian này. Người ấy do không còn thọ sanh nên không còn phiền lụy, do không phiền lụy nên được Niết-bàn và biết một cách như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Này A-nan! Đó gọi là có ngôn ngữ, có danh xưng và có sự diễn đạt về hiện hữu. Người nào biết như vậy thì không còn gì để chấp thủ.
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo được giải thoát hoàn toàn như vậy thì không có kiến chấp Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết, Như Lai vừa tồn tại vừa không tồn tại, Như Lai cũng chẳng phải tồn tại cũng chẳng không tồn tại.
Đây là trường hợp không chấp có ngã.
Này A-nan! Thế nào gọi là có một loại quan niệm về hữu ngã được chủ trương?
Tôn giả A-nan bạch Phật:
Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
[0580c01] Phật dạy:
Này A-nan! Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ giảng nói cho thầy nghe về nghĩa đó.
Tôn giả A-nan vâng lời và lắng nghe. Phật dạy:
Này A-nan! Có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng.”[21]
Hoặc có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng.”
Hoặc có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng.”
Hoặc có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc không hạn lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.”
Này A-nan! Với trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng.” Người ấy chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là sắc có hạn lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng nói như vậy, cũng thấy như vậy. Nếu khi ngã lìa xa sắc có hạn lượng này thì người ấy cũng như thế, cũng suy niệm như vậy, tư duy như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là sắc có hạn lượng.”
Này A-nan! Lại có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng.” Người ấy chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là sắc vô lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng nói như vậy, cũng thấy như vậy. Nếu khi ngã lìa xa sắc vô lượng này thì người ấy cũng như thế, cũng suy niệm như vậy, tư duy như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là sắc vô lượng.”
Này A-nan! Lại có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng.” Người ấy chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là vô sắc có hạn lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng nói như vậy, cũng thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa vô sắc có hạn lượng này thì người ấy cũng như thế, cũng suy niệm như vậy, tư duy như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là vô sắc có hạn lượng.”
Này A-nan! Lại có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã không phải là sắc có hạn lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng” cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc không hạn lượng” nên đã chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.” Người ấy chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là vô sắc vô lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng nói như vậy, cũng thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa vô sắc vô lượng này thì người ấy cũng như thế, cũng suy niệm như vậy, tư duy như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.”
Như vậy, gọi là trường hợp kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là vô sắc vô lượng.” Đó là những trường hợp chủ trương và tuyên bố có một hữu ngã.
[0581a08] Này A-nan! Thế nào là những trường hợp không chủ trương và tuyên bố có một hữu ngã?
Tôn giả A-nan bạch Phật:
Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý.
Đức Phật liền bảo:
Này A-nan! hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ. Ta sẽ giảng nói cho thầy nghe về ý nghĩa đó.
Tôn giả A-nan vâng lời và lắng nghe. Phật dạy:
Này A-nan! Có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng”, cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng”, cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng”, cũng không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.”
Này A-nan! Trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng.” Người ấy không chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là sắc có hạn lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng không nói như vậy, cũng không thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa khỏi sắc có hạn lượng này thì người ấy cũng không nghĩ như vậy, như vậy, cũng không nhớ như vậy. Này A-nan! Thực tế là có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc có hạn lượng.” Như vậy gọi là trường hợp không kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là sắc có hạn lượng.”
Này A-nan! Lại có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng.” Người ấy không chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là sắc vô lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng không nói như vậy, cũng không thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa khỏi sắc vô lượng này thì người ấy cũng không nghĩ như vậy, như vậy, cũng không nhớ như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là sắc vô lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp không kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là sắc không vô lượng.”
Này A-nan! Lại có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng.” Người ấy không chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là vô sắc có hạn lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng không nói như vậy, cũng không thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa khỏi vô sắc có hạn lượng này thì người ấy cũng không nghĩ như vậy, như vậy, cũng không nhớ như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc có hạn lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp không kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là vô sắc có hạn lượng.”
[0581b05] Này A-nan! Lại có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.” Người ấy không chủ trương và tuyên bố trong hiện tại “ngã là vô sắc vô lượng” và đến khi lâm chung thì người ấy cũng không nói như vậy, cũng không thấy như vậy. Nếu khi ngã rời xa khỏi vô sắc vô lượng này thì người ấy cũng không nghĩ như vậy, như vậy, cũng không nhớ như vậy. Này A-nan! Thực tế là, có trường hợp không chủ trương và tuyên bố “ngã là vô sắc vô lượng.” Như vậy, gọi là trường hợp không kiến chấp rồi dính mắc về “ngã là vô sắc vô lượng.”
Này A-nan! Đó gọi là những trường hợp không chủ trương và tuyên bố có một hữu ngã.
Lại nữa, này A-nan! Có bảy trú xứ của thức và hai xứ. Bảy trú xứ của thức gồm những gì? Chúng sanh hữu sắc có bao nhiêu thân thì có bấy nhiêu tưởng, đó là loài người và chư thiên cõi Dục. Đây là trú xứ thứ nhất của thức.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh hữu sắc với nhiều thân nhưng chỉ có một loại tưởng, đó là Phạm thiên lúc mới sanh ra và không yểu thọ. Đây là trú xứ thứ hai của thức.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh hữu sắc với một loại thân nhưng nhiều loại tưởng, đó là Hoảng Dục thiên.[22] Đây là trú xứ thứ ba của thức.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh hữu sắc với một loại thân và một loại tưởng, đó là Biến Tịnh thiên.[23] Đây là trú xứ thứ tư của thức.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào Không vô biên xứ, thành tựu an trú Không vô biên xứ,[24] đó là Không Vô Biên Xứ thiên. Đây là trú xứ thứ năm của thức.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu an trú Thức vô biên xứ,[25] đó là Thức Vô Biên Xứ thiên. Đây là trú xứ thứ sáu của thức.
Lại nữa! Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trú Vô sở hữu xứ,[26] đó là Vô Sở Hữu Xứ thiên. Đây là trú xứ thứ bảy của thức.
Thế nào là có hai xứ? Chúng sanh hữu sắc không có tưởng, không có thọ, đó là Vô Tưởng thiên,[27] đây là xứ thứ nhất.
Lại nữa, A-nan! Chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ,[28] đó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên, đây là xứ thứ hai.
[0581c02] Này A-nan! Đối với trú xứ thứ nhất của thức, chúng sanh hữu sắc với các loại thân và các loại tưởng, đó là loài người và chư thiên cõi Dục. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan! Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan, đối với trú xứ thứ hai của thức, chúng sanh hữu sắc với các loại thân nhưng chỉ một loại tưởng, đó là chúng Phạm thiên mới sanh ra và không yểu thọ. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với trú xứ thứ ba của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại thân nhưng nhiều loại tưởng, đó là Hoảng Dục thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với trú xứ thứ tư của thức, chúng sanh hữu sắc với một loại thân, với một loại tưởng, đó là Biến Tịnh thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với trú xứ thứ năm của thức, chúng sanh vô sắc, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào Không vô biên xứ, thành tựu an trú Không vô biên xứ, đó là Không Vô Biên Xứ thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với trú xứ thứ sáu của thức, chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu an trú Thức vô biên xứ, đó là Thức Vô Biên Xứ thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với trú xứ thứ bảy của thức, chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trú Vô sở hữu xứ, đó là Vô Sở Hữu Xứ thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật trú xứ ấy của thức, biết sự tập khởi trú xứ của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
[0582a05] – Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với xứ thứ nhất, các chúng sanh hữu sắc không có tưởng, không có thọ, đó là Vô Tưởng thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật xứ ấy của thức, biết sự tập khởi xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng?
Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Đối với xứ thứ hai của thức, chúng sanh vô sắc vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ thiên. Nếu Tỳ-kheo biết như thật xứ ấy của thức, biết sự tập khởi xứ ấy của thức, biết sự diệt tận, biết vị ngọt, biết sự tai hại và biết sự xuất ly thì này A-nan, Tỳ-kheo kia có thể vui thích nơi trú xứ của thức ấy, chấp trước và an trụ nơi trú xứ ấy của thức chăng? – Thưa không, bạch Thế Tôn!
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo biết như thật về bảy trú xứ của thức và hai xứ kia, tâm không nhiễm trước, được giải thoát, đó gọi là Tỳ-kheo A-la-hán thành tựu Tuệ giải thoát.
Lại nữa, này A-nan! Có tám pháp giải thoát. Là tám pháp nào? Có sắc, quán sắc, đó là giải thoát thứ nhất.
Lại nữa, bên trong không sắc tưởng, bên ngoài quán sắc, đó là giải thoát thứ hai.
Lại nữa, với tịnh giải thoát, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ, đó là giải thoát thứ ba.
Lại nữa, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy các loại tưởng, vào Không vô biên xứ, thành tựu an trụ Không vô biên xứ, đó là giải thoát thứ tư.
Lại nữa, vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành tựu an trụ Thức vô biên xứ, đó là giải thoát thứ năm.
Lại nữa, vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu an trụ Vô sở hữu xứ, đó là giải thoát thứ sáu.
Lại nữa, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trụ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thoát thứ bảy.
Lại nữa, vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ Tưởng thọ diệt giải thoát và biết do tuệ quán mà trừ sạch các lậu, đó là giải thoát thứ tám.
A-nan! Nếu có Tỳ-kheo biết như thật về bảy trú xứ của thức và hai xứ kia, tâm không nhiễm trước, được giải thoát với tám giải thoát này, tự thân tác chứng, thành tựu an trụ trong chiều thuận và nghịch, cũng do tuệ quán mà trừ sạch các lậu, đó gọi là Tỳ-kheo A-la-hán thành tựu Câu giải thoát.34
[0582b04] Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

34 Câu giải thoát (俱解脫, Ubhatobhāgavimutta) còn gọi là “Câu phần giải thoát.” A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.10. 0436a06-a07) giải thích: Bậc thành tựu và an trú
8 giải thoát, sau đó dùng trí tuệ đoạn tận mọi phiền não thì được gọi là bậc Giải thoát cả 2 phần (若補特伽羅, 於八解脫身已證具足住, 而復以慧永盡諸漏, 是名俱解脫分補特伽羅). Xem thêm M. 70,
Kīṭāgiri Sutta (Kinh Kīṭāgiri): “Thế nào là bậc Câu phần giải thoát? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người, sau khi thân đã chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp và sau khi đã thấy với trí tuệ, các lậu hoặc của vị này được đoạn trừ hoàn toàn. Vị này, này các Tỷ-kheo, được gọi là hạng người Câu phần giải thoát” HT. Thích Minh Châu dịch.
[1] Nguyên tác: Đại nhân kinh 大因經 (T.01. 0026.97. 0578b07). Tham chiếu: Đại duyên phương tiện kinh 大緣方便經 (T.01. 0001.13. 0060a29); Nhân bổn dục sanh kinh 人本欲生經 (T.01. 0014. 0241c23); Đại sanh nghĩa kinh 大生義經 (T.01. 0052. 0844b09); D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên).
[2] Nguyên tác: Như chức cơ tương tỏa (如織機相鎖). D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên): Tantākulakajāta (rối như cuộn chỉ).
[3] Nguyên tác: Như uẩn mạn thảo (如蘊蔓草). “Uẩn” (蘊) dùng như chữ “uẩn” (縕): Dây gai rối (亂麻). Mạn thảo (蔓草): Loài cỏ dại (雜草) mà thân của chúng ràng rịt quấn lấy nhau (莖能纏繞攀緣). D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên): Muñjapabbajabhūtā (các loài lau sậy). 4 Sanh (生, jāti).
[4] Hữu (有, bhava).
[5] Thọ (受, upādāna). 7 Ái (愛, taṇhā).
[6] Nguyên tác: Cầu (求,pariyesanā): Sự tầm cầu.
[7] Nguyên tác: Gia (家): Gia nghiệp hay gia sản (家產,家業).
[8] Nguyên tác: Thủ (守, ārakkha): Canh giữ. Những yếu tố làm duyên cho nhau như: Ái, cầu, lợi, phân, nhiễm dục, trước, xan, gia, thủ (愛,求,利,分,染欲,著,慳,家,守). Tham chiếu: Đại duyên phương tiện kinh 大緣方便經 (T.01. 0001.13. 0060c12-c21): Ái (愛), cầu (求), lợi (利), dụng (用), dục (欲), trước (著), tật (嫉), thủ (守), hộ (護); D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên): Taṇhā (tham ái), pariyesanā (tầm cầu), labho (lợi lộc), vinicchayo (quyết định, sử dụng), chandarāgo (ham muốn), ajjhosānaṃ (tham chấp), pariggaho (ôm giữ chặt), macchariyaṃ (keo lẫn), ārakkho (canh giữ).
[9] Dục ái (欲愛, kāmataṇhā).
[10] Hữu ái (有愛, bhavataṇhā).
[11] Giác (覺) tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna. 14 Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
[12] Danh thân (名身, nāmakāya). Theo Du-già sư địa luận 瑜伽師地論 (T.30. 1579.03. 0293c04), “danh thân” (名身) là một trong 24 loại “tâm bất tương ưng hành”, gồm: đắc, vô tưởng định, diệt tận định, vô tưởng dị thục, mạng căn, chúng đồng phận, dị sanh tánh, sanh, lão, trụ, vô thường, danh thân, cú thân, văn thân, lưu chuyển, định dị, tương ưng, thế tốc, thứ đệ, thời, phương, số, hòa hợp, bất hòa hợp (得, 無想定, 滅盡定, 無想異熟, 命根, 眾同分, 異生性, 生, 老, 住, 無常, 名身, 句身, 文身, 流轉, 定異, 相應, 勢速, 次第, 時, 方, 數, 和合, 不和合). Trong Sn. v. 1274 cũng xuất hiện cú ngữ này: Evaṃ munī nāmakāyā vimutto, Atthaṃ paleti na upeti saṅkhaṃ (Cũng vậy, vị ẩn sĩ, được giải thoát danh thân, đi đến chỗ tận cùng, không có thể ước lượng), HT. Thích Minh Châu dịch. “Danh thân” trong Kinh tạng Nikāya được hiểu là một nhóm các tâm và tâm sở của chúng.
[13] Nguyên tác: Hữu đối canh lạc (有對更樂, Paṭighasamphassa): Xúc chạm có đối ngại nên gọi là hữu đối xúc (有對觸). A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.10. 0052c05-06) giải thích: Năm loại xúc như nhãn xúc…, vì có sở y là các căn hữu đối nên gọi là hữu đối (眼等五觸說名有對, 以有對根為所依故). A-tỳ-đạt-ma Pháp uẩn túc luận 阿毘達磨法蘊足論 (T.26. 1537.012. 0509b20) dẫn lại Đại nhân duyên kinh (大因緣經) để giải thích về hữu đối xúc: “Nếu nương tựa tướng này để dựng lập sắc thân, nếu như tướng này không tồn tại thì có thể dựng lập xúc hữu đối chăng? Thưa không!
Bạch Thế Tôn.” (若依止此相施設色身. 此相若無為, 可施設有對觸不? 不也. 世尊).
[14] Nguyên tác: Tăng ngữ canh lạc (增語更樂), trực dịch từ Adhivacanasamphassa. A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.10. 0052c06-10) giải thích: Loại thứ 6 là ý xúc, tức là xúc của ý căn, có tên là “tăng ngữ” (abhivacana), [có nghĩa là loại xúc làm cho ngôn ngữ trở nên phong phú]. Bởi vì sao? Vì “tăng ngữ” là danh (tên gọi); mà danh là sở duyên tối hảo của loại xúc tương ưng với ý thức; như kinh luận từng nói: “Nhờ có nhãn thức nên biết được màu xanh nhưng không biết được đó là màu xanh; nhờ có ý thức nên biết được màu xanh và cũng biết được đó là màu xanh.” Vì vậy mới nói là tối hảo. Như vậy loại xúc thứ 6 được gọi tên theo sở duyên đặc thù của nó (Đạo Sinh dịch). Theo A-tỳ-đạtma Giới thân túc luận 阿毘達磨界身足論 (T.26. 1540.01. 0614b25), “tăng ngữ xúc” là một trong 5 loại xúc, gồm một là hữu đối xúc, hai là tăng ngữ xúc, ba là minh xúc, bốn là vô minh xúc và năm là
chẳng phải minh, chẳng phải vô minh xúc (一, 有對觸; 二, 增語觸; 三, 明觸; 四, 無明觸; 五, 非明非
無明觸). Và ở trang 0615b11, bộ luận này đã giải thích: Sao gọi là “tăng ngữ xúc”? Vì xúc tương ưng với ý thức nên gọi là “tăng ngữ xúc” (增語觸云何?謂意識相應觸).
[15] Thức (識, viññāna).
[16] Nguyên tác: Thức sơ (識初): Thức ban đầu, thức căn bản, cũng gọi là Đệ bát thức (第八識), thức A-lại-da (阿賴耶識).
[17] Nguyên tác: Nhược ấu đồng nam, đồng nữ thức sơ đoạn hoại bất hữu giả (若幼童男, 童女識初斷壞不有者). D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên): Viññāṇañca hi, ānanda, daharasseva sato vocchijjissatha kumārakassa vā kumārikāya vā (Này Ānanda, nếu thức bị đoạn trừ trong đứa con nít, hoặc là đồng nam hay đồng nữ...), HT. Thích Minh Châu dịch.
[18] Nguyên tác: Tăng ngữ thuyết truyền, truyền thuyết khả thi thiết (增語說傳, 傳說可施設). Tham chiếu: D. 15, Mahānidāna Sutta (Kinh đại duyên): Ettāvatā adhivacanapatho ettāvatā niruttipatho ettāvatā paññattipatho (trong giới hạn ấy có con đường danh ngôn, con đường truyền thuyết, con đường khái niệm). Theo S. 22.62 - III. 71: Niruttipathā adhivacanapathā paññattipathā (ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ), HT. Thích Minh Châu dịch. Đoạn Kinh Tương ưng bộ này, tiên sinh Trang Xuân Giang dịch ra Hán ngữ là: Ngôn ngữ đạo, danh xưng đạo, an lập đạo (言語道,名稱道,安立道) và
Tỳ-kheo Bodhi dịch sang Anh ngữ là: Pathways of language, pathways of designation, pathways of description (Con đường ngôn ngữ, con đường định danh và con đường mô tả).
[19] Nguyên tác: Giác thị thần (覺是神). Thần (神) chỉ cho tự ngã (attā).
[20] Nguyên tác: Ly (離). Nhưng các bản Tống, Nguyên, Minh đều ghi là “tạp” (雜).
[21] Nguyên tác: Thiểu sắc thị thần (少色是神). Thiểu (少) có tương đương Pāli là paritto, vừa có nghĩa là ít vừa mang nghĩa là giới hạn.
[22] Hoảng Dục thiên (晃昱天, Ābhassara).
[23] Biến Tịnh thiên (遍淨天, Subhakiṇṇā).
[24] Vô lượng không xứ (無量空處, Ākāsānañcāyatana).
[25] Vô lượng thức xứ (無量識處, Viññāṇañcāyatana).
[26] Vô sở hữu xứ (無所有處, Ākiñcaññāyatana).
[27] Vô Tưởng thiên (無想天, Asaññasattāyatana).
[28] Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ (非有想非無想處, Nevasaññānāsaññāyatana).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.