Viện Nghiên Cứu Phật Học

93. KINH PHẠM CHÍ THỦY TỊNH1


Tôi nghe như vầy:
Một thời, lúc mới thành Chánh giác, đức Phật đến Uất-tỳ-la,2 bên bờ sông Ni-liên-nhiên3 và ngồi bên cội cây A-da-hòa-la Ni-câu-loại.4

Bấy giờ, sau buổi trưa, có Phạm chí Thủy Tịnh5 thong thả đi đến chỗ Phật. Từ xa trông thấy Phạm chí Thủy Tịnh đang đến, Thế Tôn nhân vì Phạm chí Thủy Tịnh mà bảo các Tỳ-kheo:6
– Nếu người nào có hai mươi mốt thứ cấu uế trong tâm7 thì chắc chắn đi đến cõi ác, đọa vào địa ngục.

Hai mươi mốt thứ cấu uế ấy là những gì? Đó là tâm cấu uế do tà kiến, tâm cấu uế do dục vọng bất chánh,8 tâm cấu uế do tham muốn lệch lạc,9 tâm cấu uế do tà pháp,10 tâm cấu uế do dục tham,11 tâm cấu uế do sân hận,12 tâm cấu uế do mê ngủ,13 tâm cấu uế do loạn động,14 tâm cấu uế do nghi hoặc,15 tâm cấu uế do phẫn nộ,16 tâm cấu uế do che giấu,17 tâm cấu uế do bỏn xẻn,18 tâm cấu uế do ganh ghét,19 tâm cấu uế do dối gạt,20 tâm cấu uế do dua nịnh,21 tâm cấu uế do không tự thẹn,22 tâm cấu uế do không xấu hổ,23 tâm cấu uế do mạn,24 tâm cấu uế do đại mạn,25 tâm cấu uế do ngạo mạn26 và tâm cấu uế do buông lung.27 Nếu người nào có hai mươi mốt thứ cấu uế28 trong tâm thì chắc chắn đi đến cõi ác, đọa vào địa ngục.

Ví như đem chiếc áo dính đầy bụi bẩn đến nhà thợ nhuộm, người thợ kia nhận áo rồi, hoặc dùng tro sạch,29 hoặc dùng bột đậu,30 hoặc dùng nước vỏ cây31 giặt thật kỹ, muốn cho chiếc áo này sạch hết bụi bẩn. Cho dù người thợ nhuộm đã dùng nhiều cách, hoặc bằng tro sạch, hoặc bằng bột đậu, hoặc bằng nước vỏ cây giặt cho thật kỹ, nhưng chiếc áo bẩn này vẫn còn vết dơ.32 Cũng vậy, nếu người nào có hai mươi mốt thứ cấu uế này trong tâm thì chắc chắn đi đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Hai mươi mốt thứ cấu uế ấy là những gì? Đó là tâm cấu uế do tà kiến, tâm cấu uế do dục vọng bất chánh, tâm cấu uế do tham muốn lệch lạc, tâm cấu uế do tà pháp, tâm cấu uế do dục tham, tâm cấu uế do sân hận, tâm cấu uế do mê ngủ, tâm cấu uế do loạn động, tâm cấu uế do nghi hoặc, tâm cấu uế do phẫn nộ, tâm cấu uế do che giấu, tâm cấu uế do bỏn xẻn, tâm cấu uế do ganh ghét, tâm cấu uế do dối gạt, tâm cấu uế do dua nịnh, tâm cấu uế do không tự thẹn, tâm cấu uế do không xấu hổ, tâm cấu uế do mạn, tâm cấu uế do đại mạn, tâm cấu uế do ngạo mạn và tâm cấu uế do buông lung. Nếu người nào có hai mươi mốt thứ cấu uế này trong tâm thì chắc chắn đi đến cõi ác, đọa vào địa ngục.

[0575b14] Nếu người nào mà tâm không bị ô nhiễm bởi hai mươi mốt thứ cấu uế này thì chắc chắn đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời. Những gì là hai mươi mốt thứ cấu uế? Đó là tâm cấu uế do tà kiến, tâm cấu uế do dục vọng bất chánh, tâm cấu uế do tham muốn lệch lạc, tâm cấu uế do tà pháp, tâm cấu uế do dục tham, tâm cấu uế do sân hận, tâm cấu uế do mê ngủ, tâm cấu uế do loạn động, tâm cấu uế do nghi hoặc, tâm cấu uế do phẫn nộ, tâm cấu uế do che giấu, tâm cấu uế do bỏn xẻn, tâm cấu uế do ganh ghét, tâm cấu uế do dối gạt, tâm cấu uế do dua nịnh, tâm cấu uế do không tự thẹn, tâm cấu uế do không xấu hổ, tâm cấu uế do mạn, tâm cấu uế do đại mạn, tâm cấu uế do ngạo mạn và tâm cấu uế do buông lung. Nếu người nào mà tâm không bị ô nhiễm bởi hai mươi mốt thứ cấu uế này thì chắc chắn đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời.

Ví như đem tấm vải trắng tinh được dệt ở thành Ba-la-nại đến nhà thợ nhuộm, người thợ kia nhận tấm vải rồi, hoặc dùng tro sạch, hoặc dùng bột đậu, hoặc dùng nước vỏ cây giặt cho thật kỹ vì muốn cho sạch. Tấm vải trắng được dệt ở thành Ba-la-nại này được người thợ nhuộm dùng nhiều cách, hoặc bằng tro sạch, hoặc bằng bột đậu, hoặc bằng nước vỏ cây giặt thật kỹ, muốn cho sạch nên tấm vải trắng được dệt ở thành Ba-la-nại vốn đã sạch rồi lại càng trắng sạch hơn. Cũng vậy, nếu người nào mà tâm không bị ô nhiễm bởi hai mươi mốt thứ cấu uế này thì chắc chắn đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời. Những gì là hai mươi mốt thứ cấu uế? Đó là tâm cấu uế do tà kiến, tâm cấu uế do dục vọng bất chánh, tâm cấu uế do tham muốn lệch lạc, tâm cấu uế do tà pháp, tâm cấu uế do dục tham, tâm cấu uế do sân hận, tâm cấu uế do mê ngủ, tâm cấu uế do loạn động, tâm cấu uế do nghi hoặc, tâm cấu uế do phẫn nộ, tâm cấu uế do che giấu, tâm cấu uế do bỏn xẻn, tâm cấu uế do ganh ghét, tâm cấu uế do dối gạt, tâm cấu uế do dua nịnh, tâm cấu uế do không tự thẹn, tâm cấu uế do không xấu hổ, tâm cấu uế do mạn, tâm cấu uế do đại mạn, tâm cấu uế do ngạo mạn và tâm cấu uế do buông lung. Nếu người nào mà tâm không bị ô nhiễm bởi hai mươi mốt thứ cấu uế này thì chắc chắn đi đến cõi lành, sanh lên cõi trời.

[0575c04] Nếu người nào biết được tà kiến là cấu uế của tâm, biết rồi liền đoạn trừ. Cũng vậy, nếu biết dục vọng bất chánh là cấu uế của tâm, tham muốn lệch lạc là cấu uế của tâm, tà pháp là cấu uế của tâm, dục tham là cấu uế của tâm, sân hận là cấu uế của tâm, mê ngủ là cấu uế của tâm, loạn động là cấu uế của tâm, phẫn nộ là cấu uế của tâm, nghi hoặc là cấu uế của tâm, che giấu là cấu uế của tâm, bỏn xẻn là cấu uế của tâm, ganh ghét là cấu uế của tâm, dối gạt là cấu uế của tâm, dua nịnh là cấu uế của tâm, không tự thẹn là cấu uế của tâm, không xấu hổ là cấu uế của tâm, mạn là cấu uế của tâm, đại mạn là cấu uế của tâm, ngạo mạn là cấu uế của tâm và nếu biết buông lung là cấu uế của tâm, người nào biết được rồi thì liền đoạn trừ.

Lại nữa, tâm vị ấy tương ưng với từ, đầy khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như vậy cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cũng đầy khắp tất cả, tâm vị ấy tương ưng với từ, không gây thù kết oán, không sân giận tổn hại, rộng lớn bao la, tu vô lượng thiện, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Cũng vậy, với bi, hỷ và xả, tâm vị ấy đều tương ưng, không gây thù kết oán, không sân giận tổn hại, rộng lớn bao la, tu vô lượng thiện, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Này Phạm chí! Đó là phương pháp gột rửa nội tâm, chớ không phải tẩy rửa ngoài thân.

Bấy giờ, Phạm chí thưa đức Thế Tôn:
– Thưa Cù-đàm! Hãy đến sông Đa Thủy33 tắm gội.

Thế Tôn hỏi:
– Này Phạm chí! Nếu đến tắm nơi sông Đa Thủy thì sẽ được những gì?

Phạm chí trả lời:
– Thưa Cù-đàm! Sông Đa Thủy ấy là nơi giúp thanh tịnh, giúp giải thoát, giúp phước đức cho thế gian. Nếu người nào đến sông Đa Thủy tắm rửa thì sẽ trừ sạch tất cả nghiệp ác.

Khi ấy, Thế Tôn vì Phạm chí mà nói kệ:
Phạm chí Diệu Hảo Thủ,34
Nếu xuống sông Đa Thủy,
Kẻ ngu thích bơi lặn,
Không thể sạch nghiệp ác.
Hảo Thủ đến sông nào?
Sông ấy ý nghĩa gì?
Nếu tạo nghiệp bất thiện,
Nước trong nào ích chi?
Người tịnh, không cấu uế,
Người tịnh, thường thuyết giới,
Người tịnh, nghiệp trắng tinh,
Thường được hạnh thanh tịnh.
Ông hãy dừng sát sanh,
Dừng lấy vật không cho,
Chân thật, không nói dối,
Thường chánh niệm, chánh trí.
Phạm chí học như vậy,
Tất cả chúng sanh an,
Sao ông lại về nhà?
Suối nhà đâu trong sạch!
Phạm chí, hãy nên học,
Tắm sạch trong pháp lành,
Cần gì nước bẩn kia?
Chỉ trừ dơ ngoài thân.
Phạm chí bạch Phật rằng:
Con cũng nghĩ như vậy,
Dùng pháp lành tẩy sạch,
Cần gì nước bẩn kia.
Phạm chí nghe Phật dạy,
Trong lòng rất hân hoan,
Liền lạy sát chân Phật,
Quy y Phật, Pháp, Tăng.

[0576a10] Rồi Phạm chí thưa rằng:
– Bạch Thế Tôn! Con đã biết. Bạch Thiện Thệ! Con đã hiểu. Hôm nay, con xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, ngưỡng mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc! Kể từ hôm nay, con nguyện quy y trọn đời cho đến lúc lâm chung!

Đức Phật dạy như vậy, Phạm chí Thủy Tịnh Diệu Hảo Thủ và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú thích:
1 Nguyên tác: Thủy Tịnh Phạm chí kinh 水淨梵志經 (T.01. 0026.93. 0575a19). Tham chiếu: Phạm chí Kế Thủy Tịnh kinh 梵志計水淨經 (T.01. 0051. 0843c13); Tạp. 雜 (T.02. 0099.1185. 0321a24); Biệt Tạp. 別雜 (T.02. 0100.98. 0408b25); Tăng. 增 (T.02. 0125.13.5. 0573c01); M. 7, Vatthūpama Sutta (Kinh ví dụ tấm vải).
2
Uất-tỳ-la (欝鞞羅, Uruvela).
3 Ni-liên-nhiên (尼連然, Nerañjarā) còn gọi Ni-liên-thiền (尼連禪).
4 A-da-hòa-la Ni-câu-loại (阿耶惒羅尼拘類, Ajapālanigrodha).
5 Nguyên tác: Thủy Tịnh Phạm chí (水淨梵志). Có những vị Bà-la-môn tu tập theo cách thường xuống những dòng sông linh thiêng tắm gội, với niềm tin sẽ trừ sạch được nghiệp ác của mình nên họ được gọi là Bà-la-môn Thủy Tịnh hay Phạm chí Thủy Tịnh.
6 Khi vừa thành đạo, đức Phật chưa có đệ tử xuất gia. Có khả năng phần mở đầu của bài kinh này được bổ sung theo quán lệ. Tham chiếu các kinh Pāli và các bản Hán dịch, nội dung kinh này được nói tại Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.
7
Nguyên tác: Uế ô ư tâm (穢污於心, cittassa upakkilesa): Tùy phiền não của tâm.
8
Nguyên tác: Phi pháp dục (非法欲, adhammarāga). Chuyển Luân Thánh Vương tu hành kinh 轉輪聖 王修行經 (T.01. 0001.6. 0041a09) ghi là “phi pháp dâm” (非法婬).
9
Nguyên tác: Ác tham (惡貪, visamalobha): Tham muốn phi lý, bất chánh, dị dạng, lệch lạc.
10 Nguyên tác: Tà pháp (邪法, micchādhamma). Tiểu duyên kinh 小緣經 (T. 01. 0001.5. 0037a07) ghi là tà kiến (邪見).
11 Nguyên tác: Tham (貪, kāmacchanda), chỉ cho dục tham. MNid. 1.1, Kāmasuttanidesa giải thích rộng về dục: Katame kilesakāmā? Chando kāmo, rāgo kāmo, chandarāgo kāmo, saṅkappo kāmo, rāgo kāmo, saṅkapparāgo kāmo, yo kāmesu kāmacchando, kāmarāgo, kāmanandi, kāmataṇhā, kāmasineho, kāmapariḷāho, kāmamucchā, kāmajjhosānaṃ, kāmogho, kāmayogo, kāmūpādānaṃ, kāmacchandanīvaraṇaṃ. (Ô nhiễm dục là các loại nào? Mong muốn là dục, luyến ái là dục, mong muốn và luyến ái là dục, suy tầm là dục, luyến ái là dục, suy tầm và luyến ái là dục, sự mong muốn về dục, sự luyến ái về dục, niềm vui về dục, sự ham muốn về dục, sự thương yêu về dục, sự nồng nhiệt về dục, sự mê mẩn về dục, sự ràng buộc của dục, sự lôi cuốn của dục, sự gắn bó của dục, sự chấp thủ ở dục, sự che lấp do mong muốn ở các dục), Tỳ-khưu Indacanda dịch.
12 Nguyên tác: Khuể (恚, vyāpāda): Sân hận (瞋恨).
13 Nguyên tác: Thụy miên (睡眠, thinamiddha), viết tắt của “hôn trầm thụy miên” (惛沈睡眠).
14 Nguyên tác: Trạo hối (掉悔, uddhacca), còn gọi là “trạo cử” (掉舉). Bộ Pháp tụ (Dhammasaṅgaṇī) giải thích: Tattha katamaṁ uddhaccaṁ? Yaṁ cittassa uddhaccaṁ avūpasamo cetaso vikkhepo bhantattaṁ cittassa, idaṁ vuccati uddhaccaṁ... (Thế nào gọi là “trạo cử”? Đó là trạng thái dao động, là trạo cử, là dấu hiệu tâm không tịch tĩnh, giống như nắm viên đá ném vào trong đống tro, gọi đó là trạo hối).
15 Nguyên tác: Nghi hoặc (疑惑, vicikicchā).
16 Nguyên tác: Sân triền (瞋纏, kodha).
17 Nguyên tác: Bất ngữ kiết (不語結, makkha). Xem chú thích 8, kinh số 92, tr. 618.
18 Nguyên tác: Xan (慳, macchara).
19 Nguyên tác: Tật (嫉, issā, usūyā).
20 Nguyên tác: Khi cuống (欺誑, māyā).
21 Nguyên tác: Du siểm (諛諂, sāṭheyya).
22 Nguyên tác: Vô tàm (無慚, ahirika).
23 Nguyên tác: Vô quý (無愧, anottappa).
24 Nguyên tác: Mạn (慢, māna): Sự ngã mạn, việc ỷ lại mình.
25 Nguyên tác: Đại mạn (大慢, atimāna): Cho mình là hơn. Điển Tôn kinh 典尊經 (T.01. 0001.3. 0032c20) ghi: Tăng thượng mạn (增上慢).
26 Nguyên tác: Kiêu ngạo (憍慠, mada): Kiêu hãnh, kiêu căng.
27 Nguyên tác: Phóng dật (放逸, pamāda): Buông lung, giải đãi.
28 Nguyên tác 21 tâm cấu uế gồm: Tà kiến, phi pháp dục, ác tham, tà pháp, tham, khuể, thụy miên, trạo hối, nghi hoặc, sân triền, bất ngữ kiết, san, tật, khi cuống, du siểm, vô tàm, vô quý, mạn, đại mạn, kiêu ngạo, phóng dật (邪見,非法欲,惡貪,邪法,貪,恚,睡眠,掉悔,疑惑,瞋纏,不語結,慳,嫉,欺 誑,諛諂,無慚,無愧,慢,大慢,憍慠,放逸).
29 Thuần hôi (淳灰): Tro sạch.
30 Nguyên tác: Tháo đậu (澡豆). Xem chú thích 10, kinh số 81, tr. 545.
31 Thổ tý (土漬): Nước chiết ra từ vỏ cây đặc biệt của Ấn Độ, Trung Hoa dịch là “thổ.” Thổ (土) là vỏ của cây dâu (桑根之皮也, 音杜). Ở Ấn Độ, có một loại cây được gọi là xà phòng Ấn Độ, thường gọi là cây neem. Trong A. 8.11 - IV. 172 ghi là pucimanda (cây xoan, cây sầu đâu), cũng gọi là cây nimba, cây xoan Ấn Độ, có tên khoa học là Azadirachta Indica. Ngành hóa dược phẩm của Ấn Độ ngày nay đã chiết xuất tinh chất loài cây này thành những dược phẩm chăm sóc sức khỏe, hiện được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ và xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.
32 Phạm chí Kế Thủy Tịnh kinh 梵志計水淨經 (T.01. 0051. 0843c13) cũng ghi không thể giặt sạch như vậy.
33 Nguyên tác: Đa Thủy hà (多水河). Tạp. 雜 (T.02. 0099.1105. 0321b04) gọi là Bà-hưu-đa (婆休多, Bāhukā).
34 Nguyên tác: Diệu Hảo Thủ Phạm chí (妙好首梵志), tên riêng của vị Phạm chí Thủy Tịnh, tên Pāli là Sundarika Bhāradvāja.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.