Viện Nghiên Cứu Phật Học

91. KINH CHÂU-NA HỎI VỀ CÁC KIẾN CHẤP[1]

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Câu-xá-di,[2] ngụ tại tinh xá Cù-sư-la.[3]

Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Đại Châu-na rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên và hỏi:

  • Bạch Thế Tôn! Trên đời này có nhiều kiến chấp[4] sanh khởi và hiện hành,5 như chủ trương có ngã, có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng và có thế giới.[5] Bạch Thế Tôn! Cần phải biết như thế nào, thấy như thế nào để những kiến chấp này được diệt trừ, được xả ly và cũng khiến cho những kiến chấp còn lại không còn kéo dài, không bị chấp thủ?

Lúc ấy, Thế Tôn bảo:

  • Này Châu-na, trên đời này đúng là có nhiều kiến chấp sanh khởi và hiện hành, như chủ trương có ngã, có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng và có thế giới. Này Châu-na, nếu muốn các pháp ấy diệt sạch không sót lại gì cần phải biết như vầy, thấy như vầy mới khiến cho các kiến chấp ấy được diệt trừ, được xả ly và cũng khiến cho những kiến chấp còn lại không còn kéo dài, không bị chấp thủ, đó là hãy nên học pháp đoạn giảm.[6]

Này Châu-na, thế nào là đoạn giảm trong giáo pháp của bậc Thánh? Tỳkheo lìa dục, lìa pháp xấu ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú, vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã thực hành pháp đoạn giảm.”

Này Châu-na! Trong giáo pháp của bậc Thánh không phải chỉ có pháp đoạn giảm này.[7]

Có bốn tâm tăng thượng, hiện pháp lạc trú,[8] hành giả từ đó xuất rồi nhập trở lại, vị ấy nghĩ thế này: “Ta đã thực hành pháp đoạn giảm.” Này Châu-na! Trong giáo pháp của bậc Thánh không phải chỉ có pháp đoạn giảm này.

Tỳ-kheo vượt khỏi mọi sắc tưởng,... (cho đến) chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú và vị ấy nghĩ thế này: “Ta đã thực hành pháp đoạn giảm.” Này Châu-na! Trong giáo pháp của bậc Thánh không chỉ có pháp đoạn giảm này.

Có bốn tịch tĩnh giải thoát,[9] lìa sắc, chứng đắc Vô sắc, hành giả từ đó khởi lên sẽ nói cho người khác biết. Vị ấy nghĩ như vầy: “Ta đã thực hành pháp đoạn giảm.”

[0573c06] Này Châu-na! Trong giáo pháp của bậc Thánh không chỉ có pháp đoạn giảm này.

Này Châu-na! Người khác ham muốn bất chánh, nghĩ tưởng tham dục, nhưng ta không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác sân hận với hại tâm,[10] nhưng ta không sân hận, không hại tâm; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác sát sanh, trộm cướp, phi Phạm hạnh, nhưng ta có Phạm hạnh; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác tham lam,[11] não hại,[12] ham mê ngủ nghỉ,[13] loạn động,[14] cống cao và nghi hoặc,[15] nhưng ta không có nghi hoặc; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác sân giận, dua nịnh, lừa gạt, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, nhưng ta biết tự thẹn, biết xấu hổ; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác khinh mạn, nhưng ta không khinh mạn; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác kiêu căng,[16] nhưng ta không kiêu căng; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác không học kinh nghe pháp, nhưng ta siêng học kinh nghe pháp;18 hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác không quán các pháp thiện, nhưng ta quán các pháp thiện; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác làm việc phi pháp, hạnh xấu, nhưng ta làm việc đúng pháp, diệu hạnh; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác nói dối, nói hai chiều, nói thô tháo, nói thêu dệt, thọ trì giới thấp kém, nhưng ta không thọ trì giới thấp kém; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Người khác không có niềm tin, biếng nhác, không chánh niệm, không chánh định, lại có tuệ thấp kém, nhưng ta không có tuệ thấp kém; hãy học pháp đoạn giảm như thế.

Này Châu-na! Chỉ cần phát tâm, nghĩ đến và mong cầu học các pháp thiện mà còn được nhiều lợi ích, huống là thân và miệng thực hành những pháp thiện ấy.

Này Châu-na! Người khác ham muốn bất chánh, nghĩ tưởng tham dục, nhưng ta không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục; hãy phát tâm như thế.

Người khác sân hận với hại tâm, nhưng ta không sân hận, không có hại tâm; hãy phát tâm như thế.

Người khác sát sanh, trộm cướp, phi Phạm hạnh, nhưng ta có Phạm hạnh; hãy phát tâm như thế.

Người khác tham lam, não hại, ham mê ngủ nghỉ, loạn động cống cao và nghi hoặc, nhưng ta không nghi hoặc; hãy phát tâm như thế.

Người khác sân giận, dua nịnh, lừa gạt, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, nhưng ta biết tự thẹn, biết xấu hổ; hãy phát tâm như thế.

Người khác khinh mạn, nhưng ta không khinh mạn; hãy phát tâm như thế.

Người khác kiêu căng, nhưng ta không kiêu căng; hãy phát tâm như thế.

Người khác không học kinh nghe pháp, nhưng ta siêng học kinh nghe pháp; hãy phát tâm như thế.

Người khác không quán các pháp thiện, nhưng ta quán các pháp thiện; hãy phát tâm như thế.

Người khác làm việc phi pháp, hạnh xấu, nhưng ta làm việc đúng pháp, diệu hạnh; hãy phát tâm như thế.

Người khác nói dối, nói hai chiều, nói thô tháo, nói thêu dệt, thọ trì giới thấp kém, nhưng ta không thọ trì giới thấp kém; hãy phát tâm như thế.

Người khác không có niềm tin, biếng nhác, không chánh niệm, không chánh định, lại có tuệ thấp kém, nhưng ta không có tuệ thấp kém; hãy phát tâm như thế.

[0574a08] Này Châu-na! Ví như con đường xấu thì có con đường tốt đối trị; bến đò xấu thì có bến đò tốt đối trị. Cũng vậy, ham muốn bất chánh thì có không ham muốn bất chánh đối trị; sân hận với hại tâm thì có không sân hận và không hại tâm đối trị; sát sanh, trộm cướp, phi Phạm hạnh thì có Phạm hạnh đối trị; tham lam, não hại, ham mê ngủ nghỉ, loạn động, cống cao, nghi hoặc thì có không nghi hoặc đối trị; sân giận, dua nịnh, lừa gạt, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ thì có biết tự thẹn, biết xấu hổ đối trị; khinh mạn thì có không khinh mạn đối trị; kiêu căng thì có không kiêu căng đối trị; không học kinh nghe pháp thì có siêng học kinh nghe pháp đối trị; không quán các pháp thiện thì có quán các pháp thiện đối trị; hành phi pháp, hạnh xấu thì có hành đúng pháp, diệu hạnh đối trị; nói dối, nói hai chiều, nói thô tháo, nói thêu dệt, thọ trì giới thấp kém thì có thủ hộ giới cao đẹp đối trị; không có niềm tin, biếng nhác, không chánh niệm, không chánh định, lại có tuệ thấp kém thì có tuệ cao đẹp đối trị.

Này Châu-na! Nếu hành pháp ác thì có quả báo xấu, dẫn đến chốn bất thiện; nếu hành pháp thiện thì có quả báo tốt và được hướng thượng. Cũng như thế, người ham muốn bất chánh thì dùng không ham muốn bất chánh để hướng thượng; người sân hận với hại tâm thì dùng không sân hận và không hại tâm để hướng thượng; người sát sanh, trộm cướp, phi Phạm hạnh thì dùng Phạm hạnh để hướng thượng; người tham lam, não hại, ham mê ngủ nghỉ, loạn động, cống cao, nghi hoặc thì dùng không nghi hoặc để hướng thượng; người sân giận, dua nịnh, lừa gạt, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ thì dùng biết tự thẹn, biết xấu hổ để hướng thượng; người khinh mạn thì dùng không khinh mạn để hướng thượng; người kiêu căng thì dùng không kiêu căng để hướng thượng; người không học kinh nghe pháp thì dùng siêng học kinh nghe pháp để hướng thượng; người không quán các pháp thiện thì dùng quán các pháp thiện để hướng thượng; người hành phi pháp, hạnh xấu thì dùng hành đúng pháp, diệu hạnh để hướng thượng; người nói dối, nói gây chia rẽ, nói thô tháo, nói thêu dệt, thọ trì giới thấp kém thì dùng giới cao đẹp để hướng thượng; người không có niềm tin, biếng nhác, không chánh niệm, không chánh định, có tuệ thấp kém thì dùng tuệ cao đẹp để hướng thượng.

[0574b02] Này Châu-na! Nếu có người không tự mình điều phục mà muốn giúp người khác điều phục thì điều này không thể xảy ra. Nếu có người đang bị chết chìm mà muốn cứu vớt người khác, việc ấy không thể được. Nếu có người không giải thoát mà muốn giúp người khác giải thoát, việc ấy không thể được. Này Châu-na, nếu có người tự mình điều phục và muốn giúp người khác điều phục thì điều này có thể xảy ra. Nếu có người không bị chết chìm mà muốn cứu vớt người khác, việc ấy có thể được. Nếu có người đã được giải thoát và muốn giúp người khác giải thoát, việc ấy có thể được. Cũng như thế, này Châu-na, người ham muốn bất chánh thì nhờ không ham muốn bất chánh mà được giải thoát. Người sân hận với hại tâm thì nhờ không sân hận và không hại tâm mà được giải thoát. Người sát sanh, trộm cướp, phi Phạm hạnh thì nhờ Phạm hạnh mà được giải thoát. Người tham lam, não hại, ham mê ngủ nghỉ, loạn động, cống cao, nghi hoặc thì nhờ không nghi hoặc mà được giải thoát. Người sân giận, dua nịnh, lừa gạt, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ thì nhờ biết tự thẹn, biết xấu hổ mà được giải thoát. Người khinh mạn thì nhờ không khinh mạn mà được giải thoát. Người kiêu căng thì nhờ không kiêu căng mà được giải thoát. Người không học kinh nghe pháp thì nhờ siêng học kinh nghe pháp mà được giải thoát. Người không quán các pháp thiện thì nhờ quán các pháp thiện mà được giải thoát. Người hành phi pháp, hạnh xấu thì nhờ hành đúng pháp, diệu hạnh mà được giải thoát. Người nói dối, nói lời chia rẽ, nói thô tháo, nói thêu dệt, thọ trì giới thấp kém thì nhờ thủ hộ giới cao đẹp mà được giải thoát. Người không có niềm tin, biếng nhác, không chánh niệm, không chánh định, lại có tuệ thấp kém thì nhờ tuệ cao đẹp mà được giải thoát.

Này Châu-na! Như Lai đã vì thầy mà nói về pháp đoạn giảm, pháp phát tâm, pháp đối trị, pháp hướng thượng và pháp giải thoát rồi. Như bậc Tôn sư vì đệ tử mà khởi lòng từ ái, khởi lòng thương tưởng, mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan cho họ; Như Lai đã làm như vậy, các thầy cũng nên tự mình thực hành. Hãy đến nơi thanh vắng, ở bên gốc cây, hoặc nơi núi rừng, ở chỗ an ổn thanh vắng mà tĩnh tọa tư duy, chớ nên buông lung, hãy chuyên cần tinh tấn, đừng để hối tiếc về sau. Đó là lời giáo huấn của Như Lai, đó là lời khuyên bảo của Như Lai.

Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Đại Châu-na và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

 

Chú thích:

[1] Nguyên tác: Châu-na vấn kiến kinh 周那問見經 (T.01. 0026.91. 0573b13). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.47.9. 0784a06); M. 8, Sallekha Sutta (Kinh đoạn giảm).

[2] Câu-xá-di (拘舍彌,Kosambī) còn gọi là Kiêu-thưởng-di (憍賞彌), thủ đô của nước Bạt-sa (跋蹉, Vaṃsa), hiện nay cách Allahabad 45km về phía Tây Nam.

[3] Cù-sư-la viên (瞿師羅園, Ghositārāma). Xem chú thích 3, kinh số 72, tr. 465.

[4] Nguyên tác: Chư kiến (諸見). Ở đây chỉ kiến giải, chủ trương, luận thuyết của ngoại đạo. Dưới nhãn quang của một bậc Thánh giác ngộ, tư tưởng ấy bị rơi vào chấp đoạn hoặc chấp thường, không đưa đến giải thoát nên thường gọi “chư kiến” ấy là “kiến chấp” hay “tà kiến.” 5 Nguyên tác: Sanh nhi sanh (生而生).

[5] Các kiến chấp: Thần (神, attā), chúng sanh (眾生, satta), nhân (人, puggala), thọ (夀, āyu), mạng (命, jīva), thế (世, loka) đều có mối liên hệ đến Hữu ngã luận (Attavāda).

[6] Nguyên tác: Tiệm tổn (漸損, sallekha): Tổn giảm. Ở đây chỉ cho sự đoạn diệt, giảm bớt những tà kiến, pháp ác hay tâm ý bất thiện để sinh khởi và tăng thêm chánh kiến, cũng như những pháp thiện hay tâm ý thiện.

[7] M. 8, Sallekha Sutta (Kinh đoạn giảm): Na kho panete, cunda, ariyassa vinaye sallekhā vuccanti, diṭṭhadhamma-sukhavihārā ete ariyassa vinaye vuccanti (Này Cunda, các [quả chứng] ấy không gọi là đoạn giảm trong giới luật của bậc Thánh. Chúng được gọi là hiện tại lạc trú trong giới luật của bậc Thánh), HT. Thích Minh Châu dịch.

[8] Nguyên tác: Tứ tăng thượng tâm, hiện pháp lạc cư (四增上心, 現法樂居), chỉ cho tính chất của 4 định Sắc giới.

[9] Nguyên tác: Tức giải thoát (息解脫), chỉ cho tính chất của 4 định Vô sắc giới. Pāli: Santā vimokkhā.

[10] Nguyên tác: Hại ý sân (害意瞋).

[11] Nguyên tác: Tăng tứ (增伺). Xem chú thích 3, kinh số 75, tr. 497.

[12] Nguyên tác: Tránh ý (諍意, vyāpannacitta).

[13] Nguyên tác: Thụy miên sở triền (睡眠所纏): Bị trói buộc bởi ngủ nghỉ.

[14] Nguyên tác: Điệu cống cao (調貢高): Trạo cử (掉舉), trạo hối (掉悔).

[15] Năm triền cái (五纏蓋, pañca nīvaraṇā) gồm: tham dục (貪欲, kāmarāga), sân khuể (瞋恚, vyāpāda), thụy miên (睡眠, thinamiddha), trạo cử (掉舉, uddhacca) và nghi (疑, vicikicchā).

[16] Nguyên tác: Tăng mạn (增慢, atimāna): Ngã mạn, kiêu căng. 18 Nguyên tác: Đa văn (多聞).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.