Viện Nghiên Cứu Phật Học

89. KINH TỲ-KHEO THỈNH NGUYỆN1

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo du hóa thành Vương Xá, an cư mùa mưa tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.2

Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói với các Tỳ-kheo:

– Này chư Hiền! Có Tỳ-kheo thỉnh cầu3 các Tỳ-kheo khác rằng: “Xin các Tôn giả hãy chỉ bảo cho tôi, dạy dỗ tôi, khiển trách tôi, đừng ghét bỏ tôi.” Vì sao như vậy? Này chư Hiền, ví như có người nói năng ngang ngược, tập thành tính khí ngoan cố.4 Do tập thành tính khí ngoan cố nên khiến cho các vị Phạm hạnh không nói đến, không dạy dỗ, không khiển trách mà ghét bỏ người ấy.

Này chư Hiền! Những ai có tính khí ngoan cố? Nếu ai tập thành tính khí ngoan cố ấy, ắt bị các vị Phạm hạnh không nói đến, không dạy dỗ, không khiển trách và còn ghét bỏ nữa. Này chư Hiền, ở đây, có người ham muốn bất chánh, nghĩ tưởng tham dục.5 Này chư Hiền, nếu người nào ham muốn bất chánh và nghĩ tưởng tham dục thì người đó có tánh khí ngoan cố. Cũng như thế, với những ai tâm ý nhiễm ô, hành động nhiễm ô, cố ý che giấu lỗi lầm,6 dối trá,7 dua nịnh,8 keo kiệt,9 ganh tị,10 không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, sân giận ác ý,11 nói lời căm phẫn,12 mắng Tỳ-kheo khiển trách mình,13 mắng Tỳ-kheo khinh mạn mình,14 mắng Tỳ-kheo công khai lỗi mình,15 lãng sang chuyện khác khi bị khiển trách,16 im lặng giận dữ, oán ghét hừng hực, kết giao bạn xấu, tạo lập phe đảng, quên ơn, không biết ơn. Này chư Hiền, nếu có người quên ơn, không biết ơn thì người đó có tính khí ngoan cố. Này chư Hiền, đó là những người có tính khí ngoan cố. Nếu ai tập thành tính khí ngoan cố ấy thì các vị Phạm hạnh không nói đến, không dạy dỗ, không khiển trách mà còn ghét bỏ nữa. Này chư Hiền, là một Tỳ-kheo, hãy tự mình suy xét: “Này chư Hiền, nếu ai ham muốn bất chánh, nghĩ tưởng tham dục thì tôi không thích người đó. Nếu tôi ham muốn bất chánh, nghĩ tưởng tham dục thì người ấy cũng chẳng thích tôi.” Tỳ-kheo hãy quán xét như vậy. Không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục, hãy nên học tập như vậy. Cũng như thế, với những ai tâm ý nhiễm ô, hành động nhiễm ô, cố ý che giấu lỗi lầm, dối trá, dua nịnh, keo kiệt, ganh tị, không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, sân giận ác ý, nói lời căm phẫn, mắng Tỳ-kheo khiển trách mình, mắng Tỳ-kheo khinh mạn mình, mắng Tỳ-kheo công khai lỗi mình, lãng sang chuyện khác khi bị khiển trách, im lặng giận dữ, oán ghét hừng hực, kết giao bạn xấu, tạo lập phe đảng, quên ơn, không biết ơn: “Này chư Hiền, nếu ai quên ơn, không biết ơn thì tôi không thích người ấy. Nếu tôi quên ơn, không biết ơn thì người ấy cũng chẳng thích tôi.” Tỳ-kheo hãy quán xét như vậy, không quên ơn, luôn biết ơn, hãy nên học tập như vậy.

Này chư Hiền! Có Tỳ-kheo không phải thỉnh cầu các Tỳ-kheo rằng: “Xin các ngài hãy chỉ bảo cho tôi, dạy dỗ tôi, khiển trách tôi, đừng ghét bỏ tôi.” Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Vì một người nói năng hòa nhã, tập thành đức tính nhu thuận, do tập thành đức tính nhu thuận ấy nên các vị Phạm hạnh dễ nói chuyện, dễ dạy bảo, dễ nhắc nhở và không ghét bỏ người đó.

Này chư Hiền! Những ai có đức tính nhu thuận? Nếu ai tập thành đức tính nhu thuận ấy thì các vị Phạm hạnh dễ nói chuyện, dễ dạy bảo, dễ nhắc nhở và không ghét bỏ người đó. Này chư Hiền, có người không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục. Này chư Hiền, nếu người nào không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục thì người đó có đức tính nhu thuận. 

Cũng như thế, với những ai tâm ý thiện lành, hành động thiện lành, không cố ý che giấu lỗi lầm, không dối trá, không dua nịnh, không keo kiệt, không ganh tị, biết tự thẹn, biết xấu hổ, không sân giận ác ý, không nói lời căm phẫn, không mắng Tỳ-kheo khiển trách mình, không mắng Tỳ-kheo khinh mạn mình, không mắng Tỳ-kheo công khai lỗi mình, không lãng sang chuyện khác khi bị khiển trách, không im lặng giận dữ, không oán ghét hừng hực, không kết giao bạn xấu, không tạo lập phe đảng, không quên ơn, biết nhớ ơn. Này chư Hiền, nếu ai không quên ơn, biết nhớ ơn thì người đó có đức tính nhu thuận. Này chư Hiền, đó là những người có đức tính nhu thuận. Nếu ai tập thành đức tính nhu thuận ấy thì các vị Phạm hạnh dễ nói chuyện, dễ dạy bảo, dễ nhắc nhở và không ghét bỏ người đó. Này chư Hiền, là một Tỳ-kheo, hãy tự mình suy xét như vầy: “Này chư Hiền, nếu ai không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục thì tôi thích người đó. Nếu tôi không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục thì người đó cũng thích tôi.” Tỳ-kheo hãy quán xét như vậy, không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục, nên học tập như vậy. Cũng như thế, với những ai tâm ý thiện lành, hành động thiện lành, không cố ý che giấu lỗi lầm, không dối trá, không dua nịnh, không keo kiệt, không ganh tị, biết tự thẹn, biết xấu hổ, không sân giận ác ý, không nói lời căm phẫn, không mắng Tỳ-kheo khiển trách mình, không mắng Tỳ-kheo khinh mạn mình, không mắng Tỳ-kheo công khai lỗi mình, không lãng sang chuyện khác khi bị khiển trách, không im lặng giận dữ, không oán ghét hừng hực, không kết giao bạn xấu, không tạo lập phe đảng, không quên ơn, biết nhớ ơn: “Này chư Hiền, nếu có người không quên ơn, biết nhớ ơn thì tôi thích người đó. Nếu tôi không quên ơn, biết nhớ ơn thì người đó cũng thích tôi.” Tỳ-kheo hãy quán xét như vậy, không quên ơn, biết nhớ ơn, nên học tập như vậy.

Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo quán xét như vầy: “Ta có ham muốn bất chánh và nghĩ tưởng tham dục hay không?” thì nhất định được nhiều lợi ích. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo khi quán xét mà biết mình có ham muốn bất chánh, có nghĩ tưởng tham dục thì không thể vui, do đó mong muốn trừ bỏ chúng.

Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo khi quán xét mà biết mình không có ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục thì liền được hân hoan. “Ta được thanh tịnh nhờ cầu học pháp tôn quý”, nghĩ thế nên rất hân hoan. Này chư Hiền! Như người có mắt lấy gương tự soi thì thấy được mặt mình sạch hay dơ. Nếu người ấy thấy mặt mình có vết dơ thì không vui và mong muốn rửa sạch nó. Nếu người ấy thấy mặt mình không có vết dơ thì được hân hoan: “Mặt ta sạch sẽ”, nghĩ thế nên rất hân hoan.

[0572b07] Này chư Hiền! Cũng như vậy, nếu khi quán xét, Tỳ-kheo biết mình có ham muốn bất chánh, có nghĩ tưởng tham dục thì không vui và mong cầu đoạn trừ chúng. Này chư Hiền, nếu Tỳ-kheo lúc quán xét mà biết mình không ham muốn bất chánh, không nghĩ tưởng tham dục thì được hân hoan: “Ta được thanh tịnh nhờ cầu học pháp tôn quý”, nghĩ thế nên rất hân hoan. 

Cũng như thế, Tỳ-kheo tự mình thường quán xét thế này: “Ta có tâm ý thiện lành và hành động thiện lành hay không? Ta có cố ý che giấu lỗi lầm hay không? Ta có dối trá và có dua nịnh hay không? Ta có keo kiệt và có ganh tị hay không? Ta biết tự thẹn và biết xấu hổ hay không? Ta có sân giận ác ý hay không? Ta có nói lời căm phẫn hay không? Ta có mắng Tỳ-kheo khiển trách mình hay không? Ta có mắng Tỳ-kheo khinh mạn mình hay không? Ta có mắng Tỳ-kheo công khai lỗi mình hay không? Ta có lãng sang chuyện khác khi bị khiển trách hay không? Ta có im lặng giận dữ hay không? Ta có hừng hực oán ghét hay không? Ta có kết giao bạn xấu hay không? Ta có tạo lập phe đảng hay không? Ta có quên ơn không? Ta có biết ơn không?” Này chư Hiền, nếu khi quán xét, Tỳ-kheo biết mình quên ơn, không biết ơn thì không vui và mong muốn đoạn trừ những điều ấy. Nếu Tỳ-kheo lúc quán xét mà biết mình không quên ơn, luôn biết ơn thì được hân hoan. “Ta được thanh tịnh nhờ cầu học pháp tôn quý”, nghĩ thế nên rất hân hoan.

Này chư Hiền! Như người có mắt lấy gương tự soi thì thấy được mặt mình sạch hay dơ. Này chư Hiền, nếu người ấy thấy mặt mình có vết dơ thì không vui và mong muốn rửa sạch nó. Nếu người ấy thấy mặt mình không có vết dơ thì được hân hoan: “Mặt ta sạch sẽ”, nghĩ thế nên rất hân hoan. Này chư Hiền, cũng vậy, nếu khi Tỳ-kheo quán xét và biết mình quên ơn, không biết ơn thì không vui và mong muốn đoạn trừ những điều ấy. Nếu khi Tỳ-kheo quán xét và biết được mình không quên ơn, luôn nhớ ơn thì được hân hoan: “Ta được thanh tịnh nhờ cầu học pháp tôn quý”, nghĩ thế nên rất hân hoan. Do hân hoan nên được hoan hỷ, do hoan hỷ nên thân an tịnh, do thân an tịnh nên có cảm thọ lạc, do có cảm thọ lạc nên được định tâm. Này chư Hiền! Thánh đệ tử đa văn nhờ định tâm nên thấy như thật và biết như thật, nhờ thấy như thật và biết như thật nên sanh tâm nhàm chán, nhờ nhàm chán nên được hạnh không tham dục, nhờ không tham dục nên được giải thoát, nhờ giải thoát nên được tri kiến giải thoát rồi biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”

[0572c11] Tôn giả Đại Mục-kiền-liên dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Tôn giả dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích

1 Quyển 23. Nguyên tác: Tỳ-kheo thỉnh kinh 比丘請經 (T.01. 0026.89. 0571b29). Tham chiếu: Thọ tuế kinh 受歲經 (T.01. 0050. 0842b03); M. 15, Anumāna Sutta (Kinh tư lượng).

2 Nguyên tác: Trúc lâm Ca-lan-đa viên (竹林加蘭哆園, Kāraṇḍa Veṇūvana).

3 Nguyên tác: Thỉnh (請, Pavāreti): Tự tứ.

4 Nguyên tác: Lệ ngữ (戾語). Tham chiếu: M. 15: Dubbaca (người cứng đầu, khó dạy bảo).

5 Nguyên tác: Ác dục, niệm dục (惡欲, 念欲). Tham chiếu: M. 15: Pāpiccho hoti pāpikānaṃ icchānaṃ vasaṃ gato (có ác dục, bị ác dục chi phối).

6 Nguyên tác: Bất ngữ kiết trụ (不語結住). Bất ngữ kiết (不語結, makkha), còn gọi là “bất ngữ triền” (不語纏), có nghĩa là che giấu. Theo Tỳ-bà-sa luận 鞞婆沙論 (T.28. 1547.02. 0426c06), “bất ngữ triền” nương tựa “ái” (愛, taṇhā) và cũng nương tựa “vô minh” (無明, avijjā). “Nương tựa ái” nghĩa là vì ái nên che giấu. “Nương vô minh” nghĩa là vì mê mờ nên che giấu (不語纏亦依愛亦依無明, 依愛者, 愛故覆藏. 依無明者, 無智故覆藏). Tham chiếu: M. 15: Makkhī (che giấu, gièm pha, đạo đức giả).

7 Khi cuống (欺誑). Tham chiếu: M. 15: Māyāvi (xảo trá).

8 Du siểm (諛諂). Tham chiếu: M. 3: Sāṭheyya (dua nịnh, bợ đỡ). Kinh M. 15 không đề cập.

9 Xan tham (慳貪). Tham chiếu: M. 15: Maccharī (bỏn xẻn, keo kiệt).

10 Tật đố (嫉妒). Tham chiếu: M. 15: Issukī (ganh tị). 

11 Sân tệ (瞋弊, upanāha); Ác ý (惡意, palāsa). Tham chiếu: M. 15: Kodhahetu upanāhī (vì phẫn nộ làm nhân trở thành người có hiềm hận).

12 Sân khuể ngữ ngôn (瞋恚語言). Tham chiếu: M. 15: Kodhasāmantā vācaṃ nicchāretā (thốt ra những lời liên hệ đến phẫn nộ).

13 Ha Tỳ-kheo ha (訶比丘訶). Tham chiếu: M. 15: Bhikkhu codito codakena codakaṃ paṭippharati (Tỳ-kheo bị buộc tội trở lại chống đối vị đã buộc tội mình).

14 Ha Tỳ-kheo khinh mạn (訶比丘輕慢). Tham chiếu: M. 15: Bhikkhu thaddho hoti atimānī (Tỳ-kheo ngoan mê và quá mạn).

15 Ha Tỳ-kheo phát lộ (訶比丘發露). Tham chiếu: M. 15: Bhikkhu codito codakena codakassa paccāropeti (Tỳ-kheo bị buộc tội trở lại chất vấn vị đã buộc tội mình).

16 Cánh hỗ tương tỵ nhi thuyết ngoại sự (更互相避而說外事). Tham chiếu: M. 15: Bhikkhu codito codakena aññenaññaṃ paṭicarati, bahiddhā kathaṃ apanāmeti (Tỳ-kheo bị buộc tội tránh né vấn đề với một vấn đề khác, trả lời ra ngoài vấn đề). 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.