Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo du hóa nước Câu-sa-la2 rồi đến ngụ tại rừng Thi-nhiếp-hòa, phía Bắc làng Ngũ Sa-la.3
Các vị đại đệ tử danh đức, trưởng thượng như Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật, Tôn giả Lệ-việt,4 Tôn giả A-nan và nhiều vị đại đệ tử danh đức, trưởng thượng khác nữa cũng có mặt tại làng Ngũ Sa-la, bên cạnh thất lá của Phật.
[0570a01] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Các thầy hãy cầu pháp,5 chớ nên cầu ẩm thực. Vì sao như vậy? Vì Như Lai thương tưởng các đệ tử, muốn các đệ tử nỗ lực cầu pháp, chớ nên cầu ẩm thực. Nếu các thầy chỉ cầu ẩm thực, không nỗ lực cầu pháp thì chẳng những các thầy tự làm xấu mình mà cũng khiến Như Lai mất đi thể diện. Nếu các thầy nỗ lực cầu pháp, không cố cầu ẩm thực thì không những chính các thầy tốt hơn mà cũng khiến Như Lai được hãnh diện.
Như thế nào là chúng đệ tử vì cầu ẩm thực mà nương theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu pháp? Sau khi Như Lai thọ thực vừa đủ, bữa ăn đã xong, còn lại một ít thức ăn. Khi ấy, có hai vị Tỳ-kheo đi đến, đói khát kiệt sức. Như Lai liền nói với họ rằng: “Ta đã thọ thực vừa đủ, bữa ăn đã xong, còn lại một ít thức ăn, các thầy muốn dùng thì lấy mà dùng, nếu không thì Ta sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc đổ trong nước không có trùng.” Trong hai Tỳ-kheo ấy, vị thứ nhất suy nghĩ như vầy: “Thế Tôn đã thọ thực vừa đủ, bữa ăn đã xong, thức ăn còn lại nếu ta không lấy, tất nhiên Ngài sẽ mang đổ nơi đất sạch, hoặc trong nước không có trùng, vậy ta hãy lấy mà dùng.”
Thế là, vị Tỳ-kheo ấy liền nhận lấy và dùng bữa, tuy được một ngày một đêm an ổn, vui thích, nhưng vì Tỳ-kheo ấy nhận lấy thức ăn như vậy nên đức Phật không vừa ý.6 Vì sao như vậy? Bởi vì vị Tỳ-kheo thứ nhất thọ nhận đồ ăn này, chứng tỏ vị ấy không thể ít muốn, không thể biết đủ, không dễ nuôi sống, ăn không biết vừa đủ,7 không thể biết thời, 8 không khéo tiết chế, không biết tinh tấn, không thể tĩnh tọa, không có tịnh hạnh, không thể sống viễn ly, không thể nhất tâm, không thể tinh cần, lại cũng không thể chứng đắc Niết-bàn. Bởi Tỳ-kheo ấy nhận thức ăn thừa như vậy nên Phật không hài lòng. Như thế gọi là chúng đệ tử vì cầu ẩm thực mà nương theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu pháp.
Thế nào là chúng đệ tử nỗ lực cầu pháp, chứ không cầu ẩm thực? Trong hai vị ấy, vị Tỳ-kheo thứ hai suy nghĩ như vầy: “Thế Tôn đã thọ thực vừa đủ, bữa ăn đã xong, còn lại một ít thức ăn, nếu ta không lấy thì tất nhiên Ngài sẽ mang đổ nơi đất sạch hoặc trong nước không có trùng. Nhưng Thế Tôn có dạy: ‘Điều thấp kém nhất trong việc ăn uống là ăn thức ăn dư thừa.’9 Vì vậy ta không nên nhận thức ăn đó.”10 Nghĩ như thế rồi, vị ấy không nhận lấy. Tỳ-kheo kia không nhận thức ăn đó, tuy suốt một ngày một đêm khổ sở bất ổn, nhưng vì Tỳ-kheo ấy không nhận thức ăn như vậy nên Phật hài lòng. Vì sao như vậy? Bởi vì Tỳ-kheo thứ hai không thọ nhận thức ăn thừa, chứng tỏ vị ấy có thể ít muốn, biết đủ, dễ nuôi sống, ăn biết vừa đủ, biết thời, biết tiết chế, có tinh tấn, có tĩnh tọa, có tịnh hạnh, biết sống viễn ly, được nhất tâm, được tinh cần và có thể chứng đắc Niết-bàn. Bởi Tỳ-kheo ấy không nhận thức ăn thừa như vậy nên Phật hài lòng. Như thế gọi là chúng đệ tử vì cầu pháp mà nương theo Phật tu hành, chứ không phải vì cầu ẩm thực.
[0570b08] Bấy giờ, Thế Tôn bảo chúng đệ tử:
– Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó không có ích cho nhiều người, nhiều người không được lợi lạc, chẳng phải vì thương xót thế gian, chẳng phải mong cầu thiện lợi và hữu ích, cũng chẳng phải mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó không có ích cho nhiều người, nhiều người không được lợi lạc, chẳng phải vì thương xót thế gian, chẳng phải vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, cũng chẳng phải vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy cũng thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó có ích cho nhiều người, nhiều người được lợi lạc, chính là vì thương xót thế gian, vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó có ích cho nhiều người, nhiều người được lợi lạc, chính là vì thương xót thế gian, vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng hiện diện trong chúng, đức Phật liền bảo Xá-lợi-phất:
– Thầy hãy thuyết pháp như pháp11 cho các Tỳ-kheo nghe! Như Lai đau lưng, muốn nghỉ một lát. Tôn giả Xá-lợi-phất liền vâng lời Phật:
– Kính vâng, bạch Thế Tôn! Rồi đức Phật gấp y Ưu-đa-la-tăng12 làm bốn trải lên giường, cuộn y Tăng-già-lê làm gối, nằm nghiêng hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, tâm khởi tưởng nơi ánh sáng,13 chánh niệm tỉnh giác, luôn khởi tưởng muốn ngồi dậy.14
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Nên biết Thế Tôn vừa nói pháp một cách sơ lược rằng: Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó không có ích cho nhiều người, nhiều người không được lợi lạc, chẳng phải vì thương xót thế gian, chẳng phải vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, cũng chẳng phải vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ của vị ấy không thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó không có ích cho nhiều người, nhiều người không được lợi lạc, chẳng phải vì thương xót thế gian, chẳng phải vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, cũng chẳng phải vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy cũng thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó có ích cho nhiều người, nhiều người được lợi lạc, chính là vì thương xót thế gian, vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người.
Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ của vị ấy cũng thích đời sống viễn ly thì Pháp và Luật đó có ích cho nhiều người, nhiều người được lợi lạc, chính là vì thương xót thế gian, vì mong cầu thiện lợi và hữu ích, vì mong cầu an vui hạnh phúc cho chư thiên và loài người. Thế Tôn đã nói như trên, vô cùng tóm lược, thế thì các thầy hiểu nghĩa đó như thế nào và phân biệt rộng rãi ra sao?
[0570c14] Bấy giờ, trong chúng có Tỳ-kheo nói như vầy:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu các Trưởng lão thượng tôn khẳng định: “Ta đã đạt Trí cứu cánh, biết đúng như thật rằng: ‘Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa’” thì khi các vị Phạm hạnh nghe các ngài ấy tự khẳng định: “Ta đã đạt Trí cứu cánh”, họ liền được hoan hỷ.
Lại có Tỳ-kheo nói thế này:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ mong cầu Niết-bàn vô thượng thì khi các vị Phạm hạnh thấy các Tỳ-kheo kia tu hành như vậy, họ liền được hoan hỷ.
Các Tỳ-kheo đã giải nghĩa như thế, nhưng Tôn giả Xá-lợi-phất chưa hài lòng. Tôn giả liền nói với chúng Tỳ-kheo rằng:
– Này chư Hiền! Hãy lắng nghe, tôi sẽ giảng giải cho các thầy. Này chư Hiền! Nếu một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy không thích an trú viễn ly thì hàng đệ tử bậc thượng ấy có ba điều đáng chê trách. Là ba điều gì? Tôn sư thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc thượng không học hạnh xả ly, do vậy nên họ đáng bị chê trách. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ mà hàng đệ tử bậc thượng không đoạn trừ những pháp ấy, do vậy nên họ đáng bị chê trách. Với những pháp cần thọ lãnh để tu chứng15 mà hàng đệ tử bậc thượng lại từ bỏ pháp đó, 16 do vậy nên họ đáng bị chê trách. Một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử trưởng thượng của vị ấy lại không thích an trú viễn ly thì họ có ba điều đáng bị chê trách như vậy. Này chư Hiền! Nếu bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ không thích an trú viễn ly thì họ cũng có ba điều đáng chê trách. Là ba điều gì? Tôn sư thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ không học theo hạnh xả ly, do vậy nên họ đáng bị chê trách. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ không đoạn trừ những pháp ấy, do vậy nên họ đáng bị chê trách. Với những pháp cần thọ lãnh để tu chứng mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ lại từ bỏ pháp đó, do vậy nên họ đáng bị chê trách. Một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly mà hàng đệ tử bậc trung và bậc hạ lại không thích an trú viễn ly thì họ có ba điều đáng bị chê trách như vậy.
[0571a09] Này chư Hiền! Nếu bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc thượng của vị ấy cũng thích an trú viễn ly thì họ có ba điều đáng được khen ngợi. Là ba điều gì? Tôn sư thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc thượng cũng học hạnh xả ly, vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ và hàng đệ tử bậc thượng đoạn trừ những pháp ấy, vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Với những pháp cần thọ nhận để tu chứng và hàng đệ tử bậc thượng đã khéo tinh tấn tu học, không bỏ pháp đó, vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc thượng cũng thích an trú viễn ly thì họ có ba điều đáng được khen ngợi như vậy.
Này chư Hiền! Nếu bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ cũng thích an trú viễn ly thì họ có ba điều đáng được khen ngợi. Là ba điều gì? Tôn sư thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ cũng học hạnh xả ly, vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Nếu Tôn sư dạy những pháp phải đoạn trừ và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ khéo đoạn trừ những pháp ấy vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Với những pháp cần thọ lãnh để tu chứng thì hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ biết siêng năng tu học, không từ bỏ pháp đó, vì vậy nên họ đáng được khen ngợi. Một bậc Tôn sư có Pháp, có Luật, thích an trú viễn ly và hàng đệ tử bậc trung, bậc hạ cũng thích học hạnh xả ly thì họ có ba điều đáng được khen ngợi như vậy.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại bảo các vị Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Có con đường trung đạo giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, 17 được thông đạt, giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn. Này chư Hiền! Thế nào là con đường trung đạo giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, được thông đạt, giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn? Này chư Hiền! Khởi niệm tham dục là xấu ác, ghét niệm tham dục18 cũng là xấu ác; không khởi niệm tham dục và cũng không ghét niệm tham dục, đó là con đường trung đạo. Cũng như vậy đối với sân hận,19 oán kết,20 xan tham,21 tật đố,22 dối gạt,23 dua nịnh,24 không biết tự thẹn, không biết xấu hổ, ngã mạn, tăng thượng mạn, cống cao, buông lung, kiêu hãnh,25 ganh ghét.26 Này chư Hiền! Tham là xấu ác, chấp trước cũng là xấu ác; đoạn trừ tham và cũng đoạn trừ chấp trước, đó là con đường trung đạo có thể giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, thông đạt giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn.
[0571b05] Này chư Hiền! Lại có con đường trung đạo có thể giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, thông đạt, giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn. Chư Hiền! Đâu là con đường trung đạo có thể giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, thông đạt, giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn? Đó là Thánh đạo tám chi, gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Này chư Hiền! Thánh đạo tám chi chính là con đường trung đạo có thể giúp tâm được an trú, được định tĩnh, an lạc, thuận theo giáo pháp và thứ lớp giáo pháp, thông đạt giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn.
Bấy giờ, cơn đau lưng đã khỏi và cơ thể an ổn, đức Phật liền trở mình ngồi dậy, kiết-già tĩnh tọa rồi khen ngợi Tôn giả Xá-lợi-phất:
– Lành thay! Lành thay! Xá-lợi-phất đã vì chúng Tỳ-kheo mà thuyết pháp như pháp. Này Xá-lợi-phất! Thầy hãy lại vì chúng Tỳ-kheo mà thuyết pháp như pháp. Này Xá-lợi-phất! Thầy nên thường xuyên thuyết pháp như pháp cho chúng Tỳ-kheo nghe.
Rồi Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Các thầy phải cùng nhau thọ lãnh pháp như pháp, hãy tụng đọc, tu tập và giữ gìn. Vì sao như vậy? Vì pháp như pháp này có pháp có nghĩa, là căn bản Phạm hạnh, giúp hành giả thông đạt, giác ngộ và chứng đắc Niết-bàn. Những người thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì phải khéo léo thọ trì pháp như pháp này.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả Xá-lợi-phất và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.27
Chú thích:
1 Nguyên tác: Cầu pháp kinh 求法經 (T.01. 0026.88. 0569c23). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.18.3. 0587c16); M. 3, Dhammadāyāda Sutta (Kinh thừa tự pháp).
2 Câu-sa-la (拘娑羅, Kosala) còn gọi là Kiêu-tát-la (憍薩羅).
3 Ngũ Sa-la (五娑羅, Pañcasāla).
4 Lệ-việt (麗越, Revata) còn được phiên âm là Ly-việt-đa (離越多).
5 Nguyên tác: Hành cầu pháp (行求法). Tham chiếu: M. 3: Dhammadāyādā me bhavatha mā āmisadāyādā (Hãy là người thừa tự pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật), HT. Thích Minh Châu dịch.
6 Nguyên tác: Bất khả Phật ý (不可佛意).
7 Theo Tứ phần luật sao giản chánh ký 四分律鈔簡正記, số 737, phần 1 trong Đại tiểu thừa thích luật bộ lục 大小乘釋律部六, tập 43, thuộc Vạn tục tạng 卍續藏, tr. 0433b14-15: “Dị mãn dị dưỡng” nghĩa là ăn uống biết vừa đủ gọi là “dị mãn”, không chọn lựa tốt xấu gọi là “dị dưỡng” (易滿易養者. 食知 止足即易滿. 不擇善惡即易養).
8 “Biết thời” tức chỉ ăn ngày một bữa đúng ngọ theo Luật Phật chế.
9 Thực trung chi hạ cực giả, vị: Tàn dư thực dã (食中之下極者, 謂: 殘餘食也). 10 Theo Ngũ phần giới bổn 五分戒本 (T.22. 1422b. 0203b14-15): Nếu Tỳ-kheo không làm pháp tàn thực mà ăn thêm thì phạm Ba-dạ-đề. Nếu Tỳ-kheo biết Tỳ-kheo khác đã ăn xong mà không làm pháp tàn thực, vì muốn não hại, nài ép họ ăn nữa thì phạm Ba-dạ-đề (若比丘,不受殘食法, 更食者,波夜提. 若比丘, 知他比丘食竟, 不作殘食法, 為惱彼故強勸令食, 波夜提). Theo Luật tạng, Phật dạy Tỳkheo đã thọ trai đúng ngọ xong rồi, không được phép ăn thêm lần nữa. Nếu ăn, gọi là ăn thức ăn thừa (殘食), trái Luật Phật chế.
11 Thuyết pháp như pháp (說法如法): Thuyết pháp khế hợp với Chánh pháp.
12 Ưu-đa-la-tăng (優多羅僧, Uttarāsaṅga) còn gọi là “Uất-đa-la-tăng” (鬱多羅僧), tức là “y bảy điều.”
13 Nguyên tác: Tác quang minh tưởng (作光明想, ālokasaññā): Lấy các loại ánh sáng để làm đề mục, tập trung tư tưởng trên đó.
14 Nguyên tác: Thường dục khởi tưởng (常欲起想, uṭṭhānasaññā).
15 Nguyên tác: Sở khả thọ chứng (所可受證).
16 Nguyên tác: Xả phương tiện (捨方便).
17 Nguyên tác: Thuận pháp thứ pháp (順法次法). Điển Tôn kinh 典尊經 (T.01. 0001.3. 0031a05) ghi là “pháp pháp thành tựu” (法法成就); Tạp. 雜 (T.02. 0099.27. 0005c22) ghi là “pháp thứ, pháp hướng” (法次法向), nghĩa là thuận theo giáo pháp và thứ lớp của giáo pháp.
18 Nguyên tác: Niệm dục ác, ố niệm dục diệc ác (念欲惡,惡念欲亦惡). Tham chiếu: M. 3: Lobho ca pāpako doso ca pāpako, lobhassa ca pahānāya dosassa ca pahānāya atthi majjhimā paṭipadā (Tham là ác pháp và sân cũng là ác pháp, có một con đường trung đạo diệt trừ tham và diệt trừ sân), HT. Thích Minh Châu dịch.
19 Nguyên tác: Khuể (恚). Tham chiếu: M. 3: Kodha (sự giận dữ).
20 Oán kết (怨結). Tham chiếu: M. 3: Upanāha (sự oán hận, phẫn hận, thù hằn).
21 Xan (慳). Tham chiếu: M. 3: Macchara (keo kiệt, bủn xỉn, hà tiện).
22 Tật (嫉). Tham chiếu: M. 3: Issā (tật đố, ganh tị).
23 Khi cuống (欺誑). Tham chiếu: M. 3: Māyā (gạt gẫm, gian lận, xảo trá).
24 Du siểm (諛諂). Tham chiếu: M. 3: Sāṭheyya (dua nịnh, bợ đỡ).
25 Nguyên tác: Hào quý (豪貴, atimāna), viết tắt của cụm từ “tự thị hào quý” (自恃豪貴), nghĩa là ỷ lại dòng họ tôn quý của mình mà sanh ra kiêu mạn. Tham chiếu: M. 3: Mado (kiêu hãnh).
26 Nguyên tác: Tăng tránh (憎諍). Tham chiếu: M. 3: Sārambha (sự đấu tranh, sự ganh đua).
27 Bản Hán, hết quyển 22.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.