Viện Nghiên Cứu Phật Học

86. KINH GIẢNG VỀ XỨ1

Tôi nghe như vầy:

Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.

Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa, dẫn các Tỳ-kheo trẻ đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên. Các Tỳ-kheo trẻ cũng lạy sát chân Phật rồi ngồi sang một bên.

Khi ấy, Tôn giả A-nan thưa:

– Kính bạch Thế Tôn! Với các Tỳ-kheo trẻ này, con nên dạy dỗ như thế nào, răn bảo làm sao và thuyết pháp gì cho họ?

Đức Phật bảo:

– Này A-nan! Thầy hãy nói về xứ2 và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy nói về xứ và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo trẻ thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0562b01] Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật và bạch:

– Kính bạch Thế Tôn, nay thật đúng lúc! Kính bạch Thiện Thệ, nay thật đúng thời! Nếu Ngài nói về xứ và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo trẻ thì con và các Tỳ-kheo trẻ sau khi nghe Thế Tôn dạy xong sẽ khéo thọ trì.

Đức Phật bảo:

– Này A-nan! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Như Lai sẽ vì thầy và các Tỳ-kheo trẻ mà giảng nói tường tận.

Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo trẻ vâng lời, lắng nghe.

Phật dạy:

– Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm thủ uẩn3 là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn,4 tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Này A-nan, với năm thủ uẩn này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm thủ uẩn này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu xứ bên trong5 là nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ và ý xứ. Này A-nan, với sáu xứ bên trong này, thầy hãy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu xứ bên trong này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu xứ bên ngoài6 là sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc xứ và pháp xứ. Này A-nan, với sáu xứ bên ngoài này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu xứ bên ngoài này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu thức thân7 là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Này A-nan, với sáu thức thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu thức thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như lai đã nói cho thầy nghe về sáu xúc thân8 là nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc. Này A-nan, với sáu xúc thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳkheo trẻ về sáu xúc thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu thọ thân9 là nhãn thọ, nhĩ thọ, tỷ thọ, thiệt thọ, thân thọ và ý thọ. Này A-nan, với sáu thọ thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳkheo trẻ về sáu thọ thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0562c04] Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu ưu nương vào vô dục10 là nhãn tưởng, nhĩ tưởng, tỷ tưởng, thiệt tưởng, thân tưởng và ý tưởng. Này A-nan, với sáu tưởng thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu tưởng thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu tư thân11 là nhãn tư, nhĩ tư, tỷ tư, thiệt tư, thân tư và ý tư. Này A-nan, với sáu tư thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu tư thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu ái thân12 là nhãn ái, nhĩ ái, tỷ ái, thiệt ái, thân ái và ý ái. Này A-nan, với sáu ái thân này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về sáu ái thân này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về sáu giới là địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Này A-nan, với sáu giới này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳkheo trẻ về sáu giới này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về duyên khởi và những pháp do duyên khởi sanh.13 Nghĩa là, nếu cái này có thì cái kia có, nếu cái này không thì cái kia không; nếu cái này sanh thì cái kia sanh, nếu cái này diệt thì cái kia diệt. Do duyên vô minh có hành, do duyên hành có thức, do duyên thức có danh sắc, do duyên danh sắc có sáu xứ, do duyên sáu xứ có xúc, do duyên xúc có thọ, do duyên thọ có ái, do duyên ái có thủ, do duyên thủ có hữu, do duyên hữu có sanh, do duyên sanh mà có già chết. Nếu vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì sáu xứ diệt, sáu xứ diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì già chết diệt. Này A-nan, với lý duyên khởi và pháp do duyên khởi sanh này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về lý duyên khởi và pháp do duyên khởi sinh này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0563a06] Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy về bốn niệm xứ là quán thân đúng như thân, quán thọ đúng như thọ, quán tâm đúng như tâm và quán pháp đúng như pháp.14 Này A-nan, với bốn niệm xứ này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn niệm xứ này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn chánh đoạn.15 Nghĩa là, vị Tỳ-kheo đối với pháp ác, bất thiện đã sanh, phải khởi ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng bị đoạn trừ.16

Đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, phải khởi tâm ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng không phát sanh.17

Đối với pháp thiện chưa sanh, phải khởi tâm ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng phát sinh.18

Đối với pháp thiện đã sanh, phải khởi tâm ước muốn tìm cầu phương tiện, dõng mãnh tinh tấn, dốc lòng nỗ lực khiến chúng được tồn tại, không mất đi, không lui giảm, tăng trưởng thêm, phát triển rộng và hoàn toàn đầy đủ.19

Này A-nan, với bốn chánh đoạn này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn chánh đoạn này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn như ý túc.20 Nghĩa là, Tỳ-kheo thành tựu dục định, đốt cháy các hành, tu tập như ý túc bằng cách nương vào vô dục, nương vào viễn ly, nương vào tịch diệt, hướng đến xả ly.21 Tu tập tinh tấn định, tâm định cũng như vậy. Lại nữa, Tỳ-kheo thành tựu quán định, đốt cháy các hành, tu tập như ý túc bằng cách nương vào vô dục, nương vào viễn ly, nương vào diệt tận, hướng đến xả ly. Này A-nan, với bốn như ý túc này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn như ý túc này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn thiền, nghĩa là Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc bốn thiền, thành tựu an trú. Này A-nan, với bốn thiền này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn thiền này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0563b03] Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn Thánh đế. Đó là, khổ Thánh đế, tập Thánh đế, diệt Thánh đế và đạo Thánh đế. Này A-nan, thầy hãy đem bốn Thánh đế này dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn Thánh đế này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn tưởng. Đó là Tỳ-kheo có tiểu tưởng, đại tưởng, vô lượng tưởng và vô sở hữu tưởng.22 Này A-nan, với bốn tưởng này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn tưởng này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn vô lượng.23 Đó là, Tỳ-kheo có tâm tương ưng với từ, đầy khắp một phương, thành tựu an trú. Cứ như thế cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, đầy khắp tất cả. Tâm tương ứng với từ nên không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên, vô lượng, khéo tu tập, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Tâm bi, hỷ và xả cũng vậy. Khéo tu tập để tâm tương ưng với xả nên không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên, vô lượng, khéo tu tập, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Này A-nan, với bốn vô lượng này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn vô lượng này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn vô sắc.24 Nghĩa là Tỳ-kheo đoạn trừ tất cả sắc tưởng, cho đến chứng đắc Phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú. Này A-nan, với bốn vô sắc này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn vô sắc này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn Thánh chủng.25 Nghĩa là, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tuy được tấm y thô xấu nhưng biết vừa đủ, không vì y áo mà mong thỏa ý; nếu chưa được y thì không buồn rầu, không than khóc, không ấm ức, không si mê; nếu đã được y thì không đắm nhiễm, không vướng mắc, không khao khát, không tham lam, không dao động, không toan tính; thấy rõ tai họa và biết sự xuất ly khi sử dụng y phục; dù có tiện nghi như vậy nhưng vẫn không lười biếng mà nhận biết đúng đắn. Đây gọi là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni an trụ chân chánh nơi Thánh chủng ngàn xưa.26 Đối với việc ăn uống và chỗ ở cũng như vậy. Lại nữa, vị ấy muốn đoạn ác, thích đoạn ác, muốn tu thiện, thích tu thiện. Vì vị ấy muốn đoạn ác, thích đoạn ác, muốn tu thiện, thích tu thiện nên không tự khen mình, không khinh chê người, dù có tiện nghi như vậy nhưng không lười biếng mà nhận biết đúng đắn. Đây gọi là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni an trú chân chánh nơi Thánh chủng ngàn xưa. Này A-nan, với bốn Thánh chủng này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn Thánh chủng này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0563c11] Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về bốn quả Sa-môn27 là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán tối thượng. Này A-nan, với bốn quả Sa-môn này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bốn quả Sa-môn này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm tưởng giải thoát thuần thục.28 Đó là, tưởng về vô thường, tưởng về vô thường là khổ, tưởng về khổ là vô ngã, tưởng về chất bất tịnh tiết ra từ thân thể29 và tưởng hết thảy thế gian không có gì đáng ham muốn. Này A-nan, với năm tưởng giải thoát thuần thục này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm tưởng giải thoát thuần thục này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm xứ giải thoát, nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tâm chưa giải thoát thì nhờ đây được giải thoát, nếu chưa trừ sạch các lậu thì sẽ được trừ sạch hoàn toàn, nếu chưa chứng đắc Niết bàn vô thượng thì sẽ chứng đắc Niết-bàn vô thượng. Đó là năm xứ nào?

Thứ nhất, này A-nan, Thế Tôn thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe; các bậc trí Phạm hạnh cũng thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe. Này A-nan, Thế Tôn vì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà thuyết pháp; các bậc trí Phạm hạnh cũng vì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà thuyết pháp. Họ nghe pháp rồi thấu hiểu pháp và rõ nghĩa pháp, nhờ thấu hiểu pháp và rõ nghĩa pháp nên được hân hoan; nhờ hân hoan mà được hoan hỷ; nhờ hoan hỷ mà được thân khinh an;30 nhờ thân khinh an nên được cảm thọ lạc; nhờ cảm thọ lạc nên được tâm định. Này A-nan, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nhờ tâm định nên có được sự thấy như thật, biết như thật. Do thấy như thật, biết như thật nên phát khởi nhàm chán; do nhàm chán nên không còn tham dục; do không còn tham dục nên được giải thoát; nhờ giải thoát mà biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Này A-nan, đây là giải thoát xứ thứ nhất. Nhờ đây mà Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni tâm chưa giải thoát thì được giải thoát, chưa trừ sạch các lậu thì trừ sạch hoàn toàn, chưa chứng đắc Niết-bàn vô thượng thì chứng đắc Niết-bàn vô thượng.

Thứ hai, lại nữa, này A-nan, nếu trường hợp Thế Tôn không thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe; các bậc trí Phạm hạnh cũng không thuyết pháp cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nghe thì họ hãy nương theo những pháp đã nghe, đã học tập mà đọc tụng rõ ràng.

Thứ ba, nếu không đọc tụng rõ ràng những pháp đã nghe, đã học tập thì hãy y theo pháp đã nghe, đã học tập mà nói lại kỹ càng cho người khác nghe.

Thứ tư, nếu không nói lại kỹ càng cho người khác nghe những pháp đã nghe, đã học tập thì hãy y theo pháp đã nghe, đã học tập mà tư duy, phân biệt.

Và thứ năm, nếu không tư duy, phân biệt những pháp đã nghe, đã học tập thì hãy thọ trì các tướng tam-muội.31 Này A-nan, nếu Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni khéo thọ trì các tướng tam-muội thì thấu hiểu pháp và rõ nghĩa pháp, nhờ thấu hiểu pháp và rõ nghĩa pháp nên được hân hoan; nhờ hân hoan mà được hoan hỷ; nhờ hoan hỷ mà được thân khinh an; nhờ thân khinh an nên có cảm thọ lạc; nhờ có cảm thọ lạc nên được tâm định. Này A-nan, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nhờ tâm định nên có được sự thấy như thật, biết như thật; nhờ có được sự thấy như thật, biết như thật nên phát khởi nhàm chán; nhờ nhàm chán nên không còn tham dục; nhờ không còn tham dục nên được giải thoát; nhờ giải thoát mà biết rõ là đã giải thoát, đồng thời biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Này A-nan, đó là giải thoát xứ thứ năm. Nhờ đây mà Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni tâm chưa giải thoát thì được tâm giải thoát, chưa trừ sạch các lậu thì được trừ sạch hoàn toàn, chưa chứng đắc Niết-bàn vô thượng thì chứng đắc Niết-bàn vô thượng. Này A-nan, với năm giải thoát xứ này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm xứ giải thoát này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0564b03] Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm căn là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn và tuệ căn. Này A-nan, với năm căn này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm căn này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh. Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm lực là tín lực, tinh tấn lực, niệm lực, định lực và tuệ lực. Này A-nan, với năm lực này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm lực này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về năm yếu tố cần phải xa lìa.32 Là năm yếu tố nào? Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn tận lực quán sát tham dục. Vị ấy nhờ tận lực quán sát tham dục nên tâm không hướng theo dục, không thích thú dục, không gần gũi dục, không buông thả theo dục. Nếu tâm dục vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không bám trụ nơi dục, nhàm chán, nhờm tởm dục. Này A-nan, giống như lông gà và gân gà bị ném vào trong lửa liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn cũng vậy, tận lực quán sát tham dục, nhờ tận lực quán sát tham dục nên tâm không hướng theo dục, không thích thú dục, không gần gũi dục, không buông thả theo dục; nếu tâm dục vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại. Vị ấy xa lìa, không trụ nơi dục, nhàm chán, nhờm tởm dục. Vị ấy quán sát về không tham dục, tâm hướng về không tham dục, vui thích với không tham dục, thân cận với không tham dục, hòa hợp với không tham dục, tâm không chướng ngại, tâm không ô trược, tâm được an lạc, an lạc vô cùng, xa lìa tất cả tham dục và tất cả lậu hoặc, phiền não buồn lo do tham dục sanh. Lìa khỏi chúng, thoát khỏi chúng, giải thoát khỏi chúng, vị ấy không còn nhận chịu các cảm thọ này nữa, nghĩa là các cảm thọ do tham dục sanh, như vậy gọi là xa lìa tham dục. Này A-nan, đây là yếu tố thứ nhất cần phải xa lìa.

Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn tận lực quán sát sân hận. Vị ấy do tận lực quán sát sân hận nên tâm không hướng theo sân, không thích thú sân, không gần gũi sân, không buông thả theo sân. Nếu tâm sân vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xả ly, không bám trụ nơi sân, nhàm chán, nhờm tởm sân. Này A-nan, giống như lông gà và gân gà bị ném vào trong lửa, liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn cũng vậy, tận lực quán sát sân hận, nhờ tận lực quán sát sân hận nên tâm không hướng theo sân, không thích thú sân, không gần gũi sân, không buông thả theo sân. Nếu tâm sân vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không trụ nơi sân, nhàm chán, nhờm tởm sân. Vị ấy quán sát về không sân hận, tâm hướng về không sân hận, vui thích với không sân hận, gần gũi với không sân hận, hòa hợp với không sân hận, tâm không chướng ngại, tâm không ô trược, tâm được an lạc, an lạc vô cùng, xa lìa tất cả sân hận, cho đến xa lìa tất cả lậu hoặc và phiền não sầu lo do sân sanh ra. Lìa khỏi chúng, thoát khỏi chúng, giải thoát khỏi chúng, vị ấy không còn nhận chịu các cảm thọ ấy nữa, nghĩa là các cảm thọ do sân hận sanh, như vậy gọi là xa lìa sân hận. Này A-nan, đây là yếu tố thứ hai cần phải xa lìa.

[0564c12] Lại nữa, này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn tận lực quán sát sự não hại. Vị ấy nhờ tận lực quán sát sự não hại nên tâm không hướng theo não hại, không thích thú với não hại, không gần gũi với não hại, không buông thả theo não hại; nếu tâm não hại vừa sinh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không bám trụ nơi não hại, nhàm chán nhờm tởm tâm não hại. Này A-nan, giống như lông gà và gân gà bị ném vào trong lửa, liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn cũng vậy, tận lực quán sát não hại, nhờ tận lực quán sát não hại nên tâm không hướng theo não hại, không thích thú não hại, không gần gũi não hại, không buông thả theo não hại. Nếu tâm não hại vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không trụ nơi não hại, nhàm chán nhờm tởm não hại. Vị ấy quán sát về không não hại, tâm hướng về không não hại, vui thích với không não hại, thân cận với không não hại, hòa hợp với không não hại, tâm không chướng ngại, tâm không ô trược, tâm được an lạc, an lạc vô cùng, xa lìa tất cả não hại, cho đến xa lìa tất cả lậu hoặc và phiền não sầu lo do não hại sanh ra. Lìa khỏi chúng, thoát khỏi chúng, giải thoát khỏi chúng, vị ấy không còn nhận chịu các cảm thọ ấy nữa, nghĩa là các cảm thọ do não hại sanh ra, như vậy gọi là xa lìa khỏi não hại. Này A-nan, đây là yếu tố thứ ba cần phải xa lìa.

Lại nữa, này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn tận lực quán sát về sắc. Vị ấy nhờ tận lực quán sát về sắc nên tâm không hướng theo sắc, không thích thú sắc, không gần gũi sắc, không buông thả theo sắc. Nếu tâm ái sắc vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không bám trụ nơi sắc, nhàm chán sắc. Này A-nan, giống như lông gà và gân gà bị ném vào trong lửa liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn cũng vậy, tận lực quán sát sắc, nhờ tận lực quán sát sắc nên tâm không hướng theo sắc, không thích thú sắc, không gần gũi sắc, không buông thả theo sắc. Nếu tâm đắm sắc vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không trụ nơi sắc, nhờm tởm nhàm chán sắc. Vị ấy quán sát về vô sắc, tâm hướng về vô sắc, ưa thích vô sắc, thân cận vô sắc, hòa hợp với vô sắc, tâm không chướng ngại, tâm không ô trược, tâm được an lạc, an lạc vô cùng, xa lìa tất cả sắc và tất cả lậu hoặc, phiền não sầu lo do sắc sanh ra. Lìa khỏi chúng, thoát khỏi chúng, giải thoát khỏi chúng, vị ấy không còn nhận chịu các cảm thọ ấy nữa, nghĩa là các cảm thọ sanh ra bởi sắc, như vậy gọi là xa lìa sắc. Này A-nan, đây là yếu tố thứ tư cần phải xa lìa.

[0565a12] Lại nữa, này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn tận lực quán sát thân mình. Vị ấy nhờ tận lực quán sát về thân mình nên tâm không hướng theo thân, không ưa thích thân, không mê đắm thân, không buông thả theo thân. Nếu tâm ái thân vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không bám trụ nơi thân, nhàm chán thân. Này A-nan, giống như lông gà và gân gà bị ném vào trong lửa liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn cũng vậy, tận lực quán sát thân, nhờ tận lực quán sát thân nên tâm không hướng theo thân, không thích thú thân, không mê đắm thân, không buông thả theo thân. Nếu tâm ái thân vừa sanh khởi liền bị đốt cháy, bị co rút lại, bị cuộn tròn lại, không giãn nở ra được. Vị ấy xa lìa, không trụ nơi thân, nhàm chán thân mình. Vị ấy quán sát thân này không thật, tâm hướng về thân này không thật, vui thích với thân này không thật, hoan hỷ với thân này không thật, hòa hợp với thân này không thật, tâm không chướng ngại, tâm không ô trược, tâm được an lạc, an lạc vô cùng, xa lìa chấp thân và tất cả lậu hoặc, phiền não sầu lo do thân mà có. Lìa khỏi chúng, thoát khỏi chúng, giải thoát khỏi chúng, vị ấy không còn nhận chịu các cảm thọ ấy nữa, nghĩa là các cảm thọ sanh ra bởi chấp thân, như vậy gọi là xa lìa thân. Này A-nan, đây là yếu tố thứ năm cần phải xa lìa.

Này A-nan, với năm yếu tố cần phải xa lìa này, thầy hãy dạy cho các Tỳkheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về năm yếu tố cần phải xa lìa này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0565b02] Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về bảy tài sản.33 Đó là niềm tin, trì giới, biết hổ, biết thẹn, đa văn, bố thí và trí tuệ. Này A-nan, với bảy tài sản này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bảy tài sản này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về bảy sức mạnh.34 Đó là sức mạnh của niềm tin, tinh tấn, biết hổ, biết thẹn, niệm, định và tuệ. Này A-nan, với bảy sức mạnh này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bảy sức mạnh này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước kia Như Lai đã nói cho thầy nghe về bảy giác chi. Đó là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an,35 định và xả. Này A-nan, với bảy giác chi này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về bảy giác chi này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Này A-nan! Trước đây Như Lai đã nói cho thầy nghe về Thánh đạo tám chi. Đó là chánh kiến, chánh tư duy,36 chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Này A-nan, với Thánh đạo tám chi này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về Thánh đạo tám chi này thì họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật thưa:

– Kính bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Thế Tôn đã vì các Tỳ-kheo trẻ mà nói về xứ và dạy về xứ.

Đức Phật bảo:

– Này A-nan! Đúng vậy, đúng vậy, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Như Lai đã nói về xứ và dạy về xứ cho các Tỳ-kheo trẻ. Này A-nan! Nếu thầy lại hỏi Như Lai về pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút37 thì thầy sẽ sanh khởi hoan hỷ và tín tâm tột cùng đối với Như Lai.

Bấy giờ, Tôn giả A-nan chắp tay hướng Phật rồi thưa: – Bạch Thế Tôn, nay thật đúng thời, bạch Thiện Thệ, nay thật đúng lúc! Nếu Thế Tôn dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút thì con và các Tỳ-kheo trẻ sau khi nghe xong sẽ khéo thọ trì.

[0565c01] Phật bảo:

– Này A-nan! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Như Lai sẽ nói cho thầy và các Tỳ-kheo trẻ nghe về pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút.

Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo trẻ vâng lời lắng nghe.

Thế Tôn bảo:

– Này A-nan! Vị Thánh đệ tử đa văn chân thật nương vào tâm để tư duy, suy xét, khéo léo quán sát, phân biệt về vô thường, khổ, không và vô ngã. Vị ấy tư duy như vậy, suy xét như vậy, khéo léo quán sát, phân biệt như vậy cho nên sanh khởi nhẫn, sanh khởi an lạc, sanh khởi mong muốn, nghĩa là muốn nghe hiểu, muốn nhớ nghĩ và muốn quán sát. Này A-nan, ấy gọi là pháp cao tột.

Này A-nan, nếu đã được pháp cao tột này rồi nhưng lại để mất đi, để giảm sút, không khéo gìn giữ, không thường tinh tấn, thì này A-nan, đó gọi là pháp cao tột bị giảm sút. Cũng như vậy đối với thức xứ bên trong, thức xứ bên ngoài, xúc, thọ, tưởng, tư, ái, giới, nhân duyên khởi và pháp do nhân duyên khởi. Này A-nan, vị Thánh đệ tử đa văn đối với nhân duyên khởi và nhân pháp do duyên khởi này biết tư duy, suy xét, khéo quán sát phân biệt về vô thường, khổ, không và vô ngã. Vị ấy tư duy như vậy, suy xét như vậy, khéo quán sát phân biệt như vậy cho nên sanh khởi nhẫn, sanh khởi lạc. Này A-nan, đây gọi là pháp cao tột.

Này A-nan, nếu được pháp cao tột này rồi nhưng lại để mất đi, để giảm sút, không khéo gìn giữ, không thường tinh tấn, thì này A-nan, đó gọi là pháp cao tột bị giảm sút. Này A-nan, với pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút này, thầy hãy dạy cho các Tỳ-kheo trẻ. Nếu thầy giảng dạy cho các Tỳ-kheo trẻ về pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút này, họ sẽ được an ổn, được mạnh mẽ, được an lạc, thân tâm không phiền muộn, trọn đời tu hành Phạm hạnh.

[0565c19] Này A-nan! Như Lai đã vì các thầy mà giảng nói về xứ, dạy về xứ, về pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút. Giống như vị Tôn sư vì đệ tử mà khởi lòng từ ái rộng lớn, quan tâm thương xót, luôn mong muốn họ có được ý nghĩa và lợi ích, được an ổn và hân hoan, Như Lai đã thực hiện như vậy. Các thầy cũng nên tự mình thực hành, hãy đến nơi thanh vắng, bên gốc cây trong chốn núi rừng, ở chỗ yên tịnh vắng vẻ mà tĩnh tọa tư duy, chớ có buông lung, hãy chuyên cần tinh tấn, đừng để hối tiếc về sau. Đó là lời giáo huấn của Như Lai, đó là lời khuyên bảo của Như Lai.

Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo trẻ nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

***

Ấm, nội, ngoại, thức, xúc,         
Thọ, tưởng, tư, ái giới,
Nhân duyên, niệm, chánh đoạn,   
Như ý, thiền, đế, tưởng
Vô lượng, vô sắc, chủng,           
Sa-môn quả, giải thoát,
Xứ, căn, lực, xuất yếu,                 
Tài, lực, giác, đạo, đảnh.38

Chú Thích

1 Nguyên tác: Thuyết xứ kinh 說處經 (T.01. 0026.86. 0562a19). Tham chiếu: M. 148, Chachakka Sutta (Kinh sáu sáu).

2 Xứ (處, āyatana), cựu dịch là “nhập” (入). VbhA. I. 2.1 giải thích: Iti nivāsaṭṭhānaṭṭhena, ākaraṭṭhena, samosaraṇaṭṭhānaṭṭhena, sañjātidesaṭṭhena, kāraṇaṭṭhenāti imehi kāraṇehi ete dhammā ‘āyatanaṃ āyatana’nti vuccanti… (Như vậy, các pháp được gọi là “xứ” (āyatana) được hiểu là nơi cư trú, là kho tàng, là chỗ hội họp, là nơi sanh khởi, là nguyên nhân, là đầu mối…). Vism. 14.7 cũng nêu định nghĩa tương tự.

3 Nguyên tác: Ngũ thạnh ấm (五盛陰). Xem chú thích 8, kinh số 13, tr. 75.

4 Nguyên tác: Giác (覺).

5 Nguyên tác: Lục nội xứ (六內處, cha ajjhattikāni āyatanāni), còn gọi “lục căn” (六根), gồm nhãn căn (眼根), nhĩ căn (耳根), tỷ căn (鼻根), thiệt căn (舌根), thân căn (身根) và ý căn (意根).

6 Nguyên tác: Lục ngoại xứ (六外處, cha bāhirāni āyatanāni), còn gọi “lục trần” (六塵), gồm sắc trần (色塵), thanh trần (聲塵), hương trần (香塵), vị trần (味塵), xúc trần (觸塵) và pháp trần (法塵).

7 Nguyên tác: Lục thức thân (六識身), còn gọi “lục thức” (六識).

8 Nguyên tác: Cánh lạc thân (更樂身), tức “xúc thân” (觸身, phassakāyā).

9 Nguyên tác: Giác thân (覺身, vedanākāya).

10 Tưởng thân (想身, saññākāya).

11 Tư thân (思身) đồng nghĩa với hành uẩn (行蘊). Tham chiếu: D. 33, Saṅgīti Sutta (Kinh phúng tụng): Sañcetanākāyā. 12 Ái thân (愛身, taṇhākāyā).

13 Nhân duyên khởi cập nhân duyên khởi sở sinh pháp (因緣起及因緣起所生法). Nhân duyên khởi (因緣起) còn gọi là “duyên khởi” (緣起), tức “lý duyên khởi.” Nhân duyên khởi sở sinh pháp (因緣 起所生法) còn gọi “duyên khởi pháp” (緣起法), tức pháp do duyên khởi, ở đây chỉ cho “Thập nhị duyên khởi” (十二緣起).

14 Nguyên tác: Quán thân như thân, quán giác,… tâm,… pháp như pháp (觀身如身, 觀觀,… 心,… 法 如法). Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272.

15 Nguyên tác: Tứ chánh đoạn (四正斷), tức Tứ chánh cần (四正勤, cattāri sammappadhānāni).

16 Dĩ sanh ác bất thiện pháp vị đoạn cố, khởi dục cầu phương tiện hành, tinh cần cử tâm đoạn (已生惡不 善法為斷故, 起欲求方便行, 精勤舉心斷). Ở đây, “đoạn” (斷) trong mệnh đề “tinh cần cử tâm đoạn” (精勤舉心斷) mang nghĩa “sự nỗ lực” (勤). Tham chiếu: SĀ. 876: Đoạn đoạn (斷斷); A. 4.69 - II. 74: Pahānappadhāna (tinh cần đoạn tận).

17 Tham chiếu: SĀ. 876: Luật nghi đoạn (律儀斷); A. 4.69 - II. 74: Saṃvarappadhāna (tinh cần chế ngự).

18 Tham chiếu: SĀ. 876: Tu đoạn (修斷); A. 4.69 - II. 74: Bhāvanāppadhāna (tinh cần tu tập).

19 Tham chiếu: SĀ. 876: Tùy hộ đoạn (隨護斷); A. 4.69 - II.74: Anurakkhaṇappadhāna (tinh cần hộ trì).

20 Nguyên tác: Tứ như ý túc (四如意足), còn gọi “tứ thần túc” (四神足), gồm dục thần túc (欲神足), tinh tấn thần túc (精進神足), tâm thần túc (心神足) và quán (tư duy) thần túc (觀神足). Pāli: Cattaro iddhipādā.

21 Nguyên tác: Nguyện chí phi phẩm (願至非品). A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論 (T.28. 1546.17. 0123a26) định nghĩa: Thế là phẩm pháp, pháp đó ly thế, nên gọi “phi phẩm” (世是品法; 彼 法離世, 名為非品); S. 50.45-54 - V. 251: Vossaggapariṇāmiṃ (hướng đến xả ly).

22 Xem giải thích ở A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.6. 0392a23-b03).

23 Nguyên tác: Tứ vô lượng (四無量), gồm: từ (慈, mettā), bi (悲, karuṇā), hỷ (喜, muditā), xả (舍, upekkhā).

24 Không vô biên xứ (空無邊處), Thức vô biên xứ (識無邊處), Vô sở hữu xứ (無所有處), Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非想非非想處).

25 Nguyên tác: Tứ Thánh chủng (四聖種, cattāro Ariyavaṃsā): Bốn chủng tử có công năng sanh ra các bậc Thánh, đó là biết đủ với y phục, ăn uống, chỗ ở và ưa thích đoạn ác tu thiện.

26 Nguyên tác: Cựu Thánh chủng (舊聖種, porāṇe aggaññe Ariyavaṃse ṭhito): Đứng vững trong phả hệ Thánh từ ngàn xưa.

27 Nguyên tác: Tứ Sa-môn quả (四沙門果).

28 Nguyên tác: Ngũ thục giải thoát tưởng (五熟解脫想).

29 Nguyên tác: Bất tịnh ố lộ tưởng (不淨惡露想).

30 Nguyên tác: Chỉ thân (止身), còn được viết là 身猗息, 身止息, 身得止息, 身獲柔軟. Vism. 14.470: Kāyapassaddhi (thân khinh an).

31 Tam-muội tướng (三昧相, samādhinimitta): Trạng thái thiền định có đi kèm với một số dấu hiệu. Tham chiếu: A. 3.19 - I. 115: Evamevaṃ kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anadhigataṃ vā kusalaṃ dhammaṃ adhigantuṃ, adhigataṃ vā kusalaṃ dhammaṃ phātiṃ kātuṃ. Katamehi tīhi? Idha, bhikkhave, bhikkhu pubbaṇhasamayaṃ sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhāti, majjhanhikasamayaṃ…pe… sāyanhasamayaṃ sakkaccaṃ samādhinimittaṃ adhiṭṭhāti. Imehi kho, bhikkhave, tīhi dhammehi samannāgato bhikkhu bhabbo anadhigataṃ vā kusalaṃ dhammaṃ adhigantuṃ, adhigataṃ vā kusalaṃ dhammaṃ phātiṃ kātu’’nti. (Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, thành tựu ba pháp, Tỷ-kheo thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, tăng trưởng thiện pháp đã được thâu nhận. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ kheo vào buổi sáng có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi trưa có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng, vào buổi chiều có nhiệt tâm chăm chú vào định tướng. Thành tựu với ba pháp này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo thâu nhận được thiện pháp chưa được thâu nhận, và tăng trưởng thiện pháp đã được thâu nhận), HT. Thích Minh Châu dịch. Theo DĀ. 10, khó lý giải các tướng trong khi thiền định (三摩提相難解).

32 Nguyên tác: Ngũ xuất yếu giới (五出要界, pañca nissāraṇiyā dhātuyo): Năm thứ cần phải xa lìa, từ bỏ, đó là dục tâm (欲心), sân tâm (恚心), hại tâm (害心), sắc (色), thân kiến (身見).

33 Nguyên tác: Thất tài (七財), còn gọi là “thất Thánh tài” (七聖財), là 7 loại tài sản trong giáo pháp thuộc xuất thế gian, tất cả chúng sanh nhân thực hành 7 pháp này mà có thể thành tựu đạo quả.

34 Thất lực (七力).

35 Nguyên tác: Tức (息).

36 Nguyên tác: Chánh chí (正志).

37 Nguyên tác: Đảnh pháp cập đảnh pháp thoái (頂法及頂法退): Pháp cao tột và pháp cao tột bị giảm sút. Tham chiếu: A-tỳ-đàm Bát kiền-độ luận 阿毘曇八犍度論 (T.26. 1543.1. 0772b19-b27).

38 Bài kệ này tóm tắt các vấn đề được nói đến trong kinh. Nguyên tác: 陰,內,外,識,更;覺,想,思, 愛,界;因緣,念,正斷;如意,禪,諦,想;無量,無色,種;沙門果,解脫;處,根,力,出要;財,力,覺, 道,頂. Bản Hán, hết quyển 21.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.