Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Tỳ-xá-ly, ngụ tại giảng đường Trùng Các, bên ao Di Hầu.
Bấy giờ, có các vị đệ tử lớn, danh đức và trưởng thượng như các ngài Giàla,2 Ưu-bá-già-la,3 Hiền Thiện,4 Hiền Hoạn,5 Vô Hoạn6 và ngài Da-xá Thượng Xưng7 cũng đến giảng đường bên ao Di Hầu, nước Tỳ-xá-ly và đều ở bên cạnh ngôi nhà lá của đức Phật.
Khi ấy, nghe tin đức Phật du hóa Tỳ-xá-ly, đang trú ở giảng đường Trùng Các, bên ao Di Hầu, các vị Lệ-xế8 ở thành Tỳ-xá-ly liền nghĩ: “Chúng ta hãy sử dụng năng lực tự tại,9 thể hiện oai đức của bậc vương hầu, lớn tiếng loan truyền rồi ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đi đến chỗ đức Phật để kính lễ và cúng dường.”
[0560c03] Bấy giờ, các đệ tử lớn, danh đức và trưởng thượng nghe những người Lệ-xế thành Tỳ-xá-ly sử dụng năng lực tự tại, thể hiện oai đức của bậc vương hầu, lớn tiếng loan truyền rồi ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đi đến chỗ đức Phật để lễ kính cúng dường, liền nghĩ: “Âm thanh chướng ngại10 tu thiền. Thế Tôn cũng từng dạy: ‘Âm thanh chướng ngại tu thiền.’ Vậy thì chúng ta hãy qua rừng Ngưu Giác Sa-la,11 nơi ấy không bị quấy nhiễu, sống một mình với hạnh viễn ly, ẩn dật nơi thanh vắng mà tĩnh tọa tư duy.”
Rồi các đệ tử lớn, danh đức và trưởng thượng đi qua rừng Ngưu Giác Sa-la, nơi ấy không bị quấy nhiễu, sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng mà tĩnh tọa tư duy.
Bấy giờ, rất nhiều người Lệ-xế ở thành Tỳ-xá-ly sử dụng năng lực tự tại, thể hiện oai đức của bậc vương hầu, lớn tiếng loan truyền rồi ra khỏi thành Tỳ-xály, đi đến chỗ Phật để kính lễ cúng dường. Khi đã đến nơi, hoặc có người đảnh lễ đức Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người thăm hỏi đức Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người chắp tay hướng Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người từ xa thấy Phật rồi lặng lẽ ngồi xuống.
Khi tất cả những người Lệ-xế ở thành Tỳ-xá-ly đã ổn định chỗ ngồi, đức Phật liền thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho họ nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ rồi, Ngài ngồi yên lặng. Những người Lệ-xế ở thành Tỳ- xá-ly ấy, sau khi được nghe Phật thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh đức Phật ba vòng rồi ra về.
Sau khi những người Lệ-xế ở thành Tỳ-xá-ly ra về không lâu, Thế Tôn hỏi các thầy Tỳ-kheo:
– Các vị đệ tử lớn, trưởng thượng đã đến nơi nào rồi?
Các Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn! Các bậc đệ tử lớn, trưởng thượng khi nghe những người Lệ-xế ở thành Tỳ-xá-ly sử dụng năng lực tự tại, thể hiện oai đức của bậc vương hầu, lớn tiếng loan truyền, ra khỏi thành Tỳ-xá-ly, đến chỗ Phật kính lễ cúng dường thì các vị ấy nghĩ rằng: “Âm thanh chướng ngại tu thiền. Chính Thế Tôn cũng từng dạy: ‘Âm thanh chướng ngại tu thiền.’ Vậy thì chúng ta hãy đi qua rừng Ngưu Giác Sa-la, ở đó không bị quấy nhiễu, sống một mình với hạnh viễn ly, ẩn dật nơi thanh vắng mà tĩnh tọa tư duy.” Bạch Thế Tôn! Các bậc đệ tử lớn, trưởng thượng đều đã đến nơi đó rồi.
[0561a01] Đức Phật nghe xong, khen rằng:
– Lành thay, lành thay! Nếu là bậc đệ tử lớn, trưởng thượng thì nên nói như vầy: “Âm thanh chướng ngại tu thiền. Thế Tôn cũng từng dạy: ‘Âm thanh chướng ngại tu thiền.’ Vì sao như vậy? Vì quả thật Như Lai có nói như vầy: ‘Âm thanh chướng ngại tu thiền.’ Đối với người trì giới thì phạm giới là chướng ngại; đối với người giữ gìn các căn thì trang sức thân thể là chướng ngại; đối với người tu tập bất tịnh thì tịnh tướng là chướng ngại; đối với người tu tập tâm từ thì sân hận là chướng ngại; đối với người xa lìa uống rượu thì uống rượu là chướng ngại; đối với người tu tập Phạm hạnh thì nhìn ngắm nữ sắc là chướng ngại; đối với người vào Thiền thứ nhất thì tiếng ồn là chướng ngại; đối với người vào Thiền thứ hai thì giác và quán là chướng ngại; đối với người vào
Thiền thứ ba thì hỷ là chướng ngại; đối với người vào Thiền thứ tư thì hơi thở ra vào là chướng ngại; đối với người vào Không vô biên xứ thì sắc tưởng là chướng ngại; đối với người vào Thức vô biên xứ thì Không xứ tưởng là chướng ngại; đối với người vào Vô sở hữu xứ thì Thức xứ tưởng là chướng ngại; đối với người vào Tưởng tri diệt định thì Tưởng tri là chướng ngại.
Lại nữa, còn có ba chướng ngại khác, đó là tham dục, sân hận và ngu si. Về ba chướng ngại này, bậc A-la-hán sạch hết phiền não, đã đoạn trừ, đã biết rõ, đã nhổ sạch cội rễ khiến chúng không thể sanh trở lại. Đó là bậc A-la-hán không còn chướng ngại, bậc A-la-hán xa lìa chướng ngại, bậc A-la-hán tự do tự tại.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích
1 Quyển 21. Nguyên tác: Vô thích kinh 無刺經 (T.01. 0026.84. 0560b22). Tham chiếu: A. 10.72 - V. 133.
2 Già-la (遮羅, Cāla).
3 Ưu-bá-già-la (優簸遮羅, Upacāla).
4 Hiền Thiện (賢善, Kukkuṭa).
5 Hiền Hoạn (賢患, Kaḷimbha).
6 Vô Hoạn (無患, Nikaṭa).
7 Da-xá Thượng Xưng (耶舍上稱, Katissaha).
8 Lệ-xế (麗掣, Licchavī) còn gọi Ly-xa (離車). Theo D. 16, Mahāparinibbāna Sutta (Kinh Ðại Bát- niết-bàn), tên gọi Licchavī chỉ cho một bộ tộc rất có thế lực trong thời Phật, là những người Khattiya tướng mạo đẹp đẽ, phục sức rực rỡ, cưỡi những cỗ xe lộng lẫy. Đức Phật đã từng so sánh họ với chư thiên cõi trời Ba Mươi Ba (Tāvatiṃsa).
9 Nguyên tác: Như ý túc (如意足), tức “Như ý túc thông” (如意足通) hay “Thần túc thông” (神足通), một trong 6 loại thần thông (thần lực phi hành tự tại, như ý). Ở đây, có lẽ chỉ cho việc sử dụng phương tiện đi lại nhanh chóng, tiện nghi. Bản Pāli dịch là “cưỡi các cỗ xe lộng lẫy.”
10 Nguyên tác: Thích (刺): Gai nhọn, chướng ngại, gây khó chịu.
11 Ngưu Giác Sa-la lâm (牛角娑羅林, Gosiṅgasālavana).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.