Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến trú xứ Kiền-ni,2 ở làng A-hòa-na,3 thuộc nước Ương-kỳ.4
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y ôm bát vào làng A-hòa-na khất thực. Sau khi thọ thực xong, vào khoảng xế trưa, Ngài thu dọn y bát, rửa sạch tay chân, vắt tọa cụ lên vai đi vào rừng, đến bên một gốc cây rồi trải tọa cụ ngồi kiết-già.
Cũng thời gian ấy, số đông Tỳ-kheo sau giờ thọ thực đã nhóm họp tại giảng đường rồi cùng nhau bàn luận việc này: “Chư Hiền! Thế Tôn thật kỳ diệu, thật hy hữu! Pháp tu tập niệm thân5 được giải thích rộng rãi, được hiểu biết tột cùng, được quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng, được giữ gìn và đối trị tột cùng, làm cho sung mãn, khéo léo thực hành, an trú nhất tâm. Thế Tôn tuyên bố niệm thân có phước quả lớn, mở con mắt pháp, thấy được đệ nhất nghĩa.”
Bấy giờ, từ nơi tĩnh tọa, bằng thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn người thường, đức Phật nghe các Tỳ-kheo sau giờ thọ thực nhóm họp tại giảng đường cùng bàn luận vấn đề này: “Chư Hiền! Thế Tôn thật kỳ diệu, thật hy hữu! Pháp tu tập niệm thân được giải thích rộng rãi, được hiểu biết tột cùng, được quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị tột cùng, làm cho sung mãn, khéo léo thực hành, an trú nhất tâm. Thế Tôn tuyên bố niệm thân có phước quả lớn, mở con mắt pháp, thấy đệ nhất nghĩa.” Sau khi nghe như vậy, vào lúc xế chiều, đức Phật rời nơi tĩnh tọa đi đến giảng đường, trải toạ cụ rồi ngồi trước chúng Tỳ-kheo.
Bấy giờ, Thế Tôn hỏi các thầy Tỳ-kheo:
– Các thầy vừa cùng nhau bàn luận việc gì? Vì việc gì mà nhóm họp tại giảng đường này?
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Sau giờ thọ thực, Tỳ-kheo chúng con nhóm họp tại giảng đường cùng bàn luận vấn đề này: “Chư Hiền! Thế Tôn thật kỳ diệu, thật hy hữu! Pháp tu tập niệm thân được giải thích rộng rãi, được hiểu biết tột cùng, được quán sát tột cùng, được tu tập tột cùng, được thủ hộ và đối trị tột cùng, làm cho sung mãn, khéo léo thực hành, an trú nhất tâm. Thế Tôn tuyên bố niệm thân có phước quả lớn, mở con mắt pháp, thấy đệ nhất nghĩa.” Bạch Thế Tôn! Chúng con cùng nhau bàn luận vấn đề như trên, vì vấn đề này nên mới nhóm họp ở đây.
[0555a06] Thế Tôn lại hỏi các Tỳ-kheo:
– Ta đã nói về pháp tu tập niệm thân, được giải thích rộng rãi, được phước quả báo như thế nào?
Lúc ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật dạy:
– Các thầy hãy lắng nghe và hãy khéo suy nghĩ, Như Lai sẽ phân biệt nghĩa ấy cho các thầy!
Các Tỳ-kheo vâng lời và lắng nghe.
Đức Phật dạy:
– Tỳ-kheo tu tập niệm thân như thế nào? Tỳ-kheo ấy, khi đi thì biết đi, đứng thì biết đứng, ngồi thì biết ngồi, nằm thì biết nằm, ngủ thì biết ngủ, thức thì biết thức, thức dậy thì biết thức dậy. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy biết rõ6 khi ra vào, khéo quán sát, phân biệt khi co, duỗi, cúi, ngước; dung mạo khoan thai, khoác Tăng-già-lê ngay ngắn, ôm bát chỉnh tề, đi đứng, ngồi nằm, ngủ thức, nói năng hay im lặng đều biết rõ. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, khi có niệm xấu ác, bất thiện sanh khởi, liền dùng niệm thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định.7 Như thầy trò thợ mộc kéo thẳng dây mực, búng thẳng lên gỗ, rồi dùng búa bén mà đẽo cho thẳng. Cũng vậy, Tỳ-kheo khi có niệm xấu ác, bất thiện sanh khởi, liền dùng niệm thiện pháp để đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
[0555b02] Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy dùng hai hàm răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên nóc họng, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định. Như hai lực sĩ tóm lấy một người gầy yếu xách đi khắp nơi, dễ dàng đấm đá. Cũng vậy, Tỳ-kheo dùng hai hàm răng ngậm khít lại, lưỡi ấn lên nóc họng, dùng tâm trị tâm, đối trị, đoạn trừ, diệt sạch, an định. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, niệm hơi thở vào thì biết niệm hơi thở vào, niệm hơi thở ra thì biết niệm hơi thở ra, thở vào dài thì biết thở vào dài, thở ra dài thì biết thở ra dài, thở vào ngắn thì biết thở vào ngắn, thở ra ngắn thì biết thở ra ngắn; cảm giác toàn thân, thở vào; cảm giác toàn thân, thở ra;8 cảm giác an tịnh thân hành, thở vào; cảm giác an tịnh thân hành, thở ra. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, có hỷ lạc do lìa dục sanh, thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm hỷ lạc do lìa dục sanh9 không đâu không có. Như người khéo biết tắm gội, lấy bột đậu10 bỏ vào trong chậu, hòa với nước rồi nhào nặn thành viên, nước thấm vào bột, thấm ướt hoàn toàn, không sót chỗ nào. Cũng vậy, Tỳ-kheo lìa dục, hỷ lạc
phát sanh thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm hỷ lạc do lìa dục sanh ra không đâu không có. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân, Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân. Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, có hỷ lạc do định sanh11 thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm hỷ lạc do định sanh ra không đâu không có. Như dòng suối trên núi lắng trong, sạch sẽ, tràn đầy, nước từ bốn phương chảy đến, đổ vào suối một cách tự nhiên và nước từ đáy suối phun lên, chảy tràn ra ngoài, thấm ướt cả núi, sung mãn tràn khắp, ở đâu cũng có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có hỷ lạc do định sanh, thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm hỷ lạc do định sanh ra không đâu không có. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
[0555c07] Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, có lạc do lìa hỷ sanh12 thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm an lạc do lìa hỷ sanh không đâu không có. Như các loài hoa sen xanh, sen hồng, sen đỏ và sen trắng sanh ra từ nước, lớn lên trong nước, mọc từ đáy nước nên rễ, cọng, hoa và lá đều được nước thấm nhuần, sung mãn khắp nơi, không đâu không có. Cũng vậy, Tỳ-kheo có lạc do lìa hỷ sanh, thấm nhuần cả thân, toàn thân sung mãn. Khắp trong thân thể, niềm an lạc do lìa hỷ sanh không đâu không có. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, ở trong thân này, với tâm thanh tịnh,13 ý giải thoát sung mãn toàn thân, thành tựu an trú. Ở trong thân này, tâm thanh tịnh ấy bao trùm khắp thân. Như có người trùm một cái áo dài bảy hay tám khuỷu tay từ đầu đến chân, không chỗ nào không phủ kín. Cũng vậy, Tỳ-kheo ở trong thân này, với tâm thanh tịnh, ý giải thoát sung mãn toàn thân, thành tựu an trú. Ở trong thân này, tâm thanh tịnh bao trùm khắp thân. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông
lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy niệm tưởng ánh sáng,14 khéo léo thọ trì, khéo léo ghi nhớ; như phía trước, phía sau cũng vậy; như phía sau, phía trước cũng vậy; như ban ngày, ban đêm cũng vậy; như ban đêm, ban ngày cũng vậy; như phía dưới, phía trên cũng vậy; như phía trên, phía dưới cũng vậy. Niệm tưởng như vậy thì không bị điên đảo, tâm không bị trói buộc. Tu tập niệm tưởng ánh sáng thì tâm vĩnh viễn không còn bị bóng tối che lấp. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
[0556a05] Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy quán hình tướng,15 khéo léo thọ trì, khéo léo ghi nhớ. Như người ngồi quán sát kẻ nằm, người nằm quán sát kẻ ngồi. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán hình tướng, khéo léo thọ trì, khéo léo ghi nhớ. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo ấy, tùy vào bất kỳ nơi nào đó trong thân, bất luận đẹp hay xấu, từ đầu đến chân, quán thấy hết thảy đều đầy dẫy bất tịnh: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não bộ, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu.” Như một cái thùng chứa đủ loại hạt giống, ai có mắt sáng thì thấy rõ rằng: “Đây là hạt lúa, hạt kê; kia là hạt vừng, hạt đậu, hạt rau cải...” Cũng vậy, tùy vào bất kỳ nơi nào đó trong thân, bất luận đẹp hay xấu, từ đầu đến chân, Tỳ-kheo quán thấy hết thảy đều đầy dẫy bất tịnh: “Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da dày, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, ruột già, ruột non, lá lách, dạ dày, phân, não bộ, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, mỡ, tủy, đờm dãi, nước tiểu.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân. Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng, trong thân của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Như gã đồ tể mổ bò, lột hết bộ da, trải lên mặt đất, phân thành sáu đoạn. Cũng vậy, Tỳ-kheo quán các giới trong thân rằng, trong thân của ta có địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới và thức giới. Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
[0556b04] Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo quán tử thi mới chết từ một, hai ngày,... (cho đến) sáu, bảy ngày đang bị quạ diều bươi mổ, chó sói cắn xé, hoặc đã được hỏa thiêu hay đã được chôn lấp, đang bị phân hủy rữa nát. Vị ấy quán sát rồi tự so sánh: “Thân ta rồi cũng vậy, đều sẽ bị như thế, không thể nào tránh khỏi.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo từng thấy trong bãi tha ma thây chết rữa nát, sắc da xanh tím, bị chim thú cắn mổ một nửa, xương cốt vương vãi trên mặt đất, thấy rồi tự so sánh: “Thân ta rồi cũng vậy, đều sẽ bị như thế, không thể nào tránh khỏi.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳkheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để được tâm định tĩnh, khi đã được định tâm rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo từng thấy nơi bãi tha ma thây chết bị phân hủy hết da thịt máu mủ, chỉ còn trơ lại gân nối liền với xương. Thấy rồi tự so sánh: “Thân ta rồi cũng vậy, đều sẽ bị như thế, không thể nào tránh khỏi.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo từng thấy thây chết trong bãi tha ma xương rời từng đốt tản mác khắp nơi, xương chân, xương đùi, xương đầu gối, xương bắp vế, xương sống, xương vai, xương cổ, xương sọ, mỗi thứ một nơi. Thấy rồi tự so sánh: “Thân ta rồi cũng vậy, đều sẽ bị như thế, không thể nào tránh khỏi.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
[0556c02] Lại nữa, Tỳ-kheo tu tập niệm thân như sau: Tỳ-kheo từng thấy ở bãi tha ma xương trắng như vỏ ốc, xanh như lông chim bồ câu, đỏ như màu máu, mục nát bể vụn. Thấy rồi tự so sánh: “Thân ta rồi cũng vậy, đều sẽ bị như thế, không thể nào tránh khỏi.” Như vậy, tùy theo sự vận hành của thân mà Tỳ-kheo liền nhận biết đúng như thật. Cũng như thế, vị ấy sống một mình với hạnh xa lìa, tâm không buông lung, siêng năng tu hành, đoạn trừ mọi lo lắng trong tâm để tâm được định tĩnh, khi tâm đã định rồi thì biết đúng như thật. Đó là Tỳ-kheo tu tập niệm thân.
Nếu có vị nào tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy thì hết thảy pháp lành đều hội tụ ở trong đó, gọi là Đạo phẩm pháp.16 Nếu Tỳ-kheo ấy có tâm ý giải thoát hoàn toàn thì giống biển cả, các con sông nhỏ đều đổ về biển. Cũng vậy, nếu vị nào tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy thì các pháp lành đều hội tụ ở trong đó, gọi là Đạo phẩm pháp.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp;17 với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân. Giống như cái bình bên trong trống rỗng, không có nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất, nếu có người đem nước đến rót vào trong bình thì Tỳ-kheo nghĩ sao, bình như vậy có thể chứa nước được không?
Các Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, có thể được! Vì sao như vậy? Vì bình trống rỗng, không có nước, lại đặt ngay ngắn trên mặt đất cho nên chứa được nước.
– Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân. Giống như cái bình bên trong chứa đầy nước, đặt ngay ngắn trên mặt đất, nếu có người đem nước rót vào trong bình thì Tỳ-kheo nghĩ sao, bình như vậy có thể chứa được nước nữa không?
– Bạch Thế Tôn, không thể được! Vì sao như vậy? Vì bình ấy đã đầy nước rồi, dù được đặt ngay ngắn trên mặt đất cũng không thể chứa thêm nước được nữa.
– Cũng vậy, nếu Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định
không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân. Giống như lực sĩ khiêng hòn đá to lớn ném vào trong vũng bùn thì Tỳkheo nghĩ sao, hòn đá đó có bị lún xuống bùn hay không?
[0557a07] Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, hòn đá bị lún xuống bùn! Vì sao như vậy? Vì bùn lầy mà đá nặng, cho nên chắc chắn hòn đá đó phải bị lún xuống.
– Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân. Giống như lực sĩ cầm một quả cầu nhẹ bằng lông ném vào một cánh cửa đóng kín thì Tỳ-kheo nghĩ sao, cánh cửa kia có thể bung ra chăng?
Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, không thể được! Vì sao như vậy? Vì quả cầu thì nhẹ mà chạm vào cánh cửa đóng kín và vững chắc thì cánh cửa ấy không thể nào bung ra được.
– Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân. Giống như người tìm lửa, lấy củi khô làm mồi, rồi dùng dùi khô mà dùi thì Tỳ-kheo nghĩ sao, người kia làm như vậy có tìm thấy lửa không?
Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, người kia tìm thấy lửa! Vì sao như vậy? Vì người kia lấy dùi khô mà dùi củi khô, cho nên chắc chắn sẽ được lửa.
– Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm nhỏ hẹp; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì có thể lợi dụng được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia trống rỗng, không có niệm thân.
Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn hay Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân. Giống như người muốn tìm lửa, lấy củi ướt làm mồi, rồi dùng dùi ướt mà dùi thì Tỳ-kheo nghĩ sao, người kia làm như vậy có tìm thấy lửa không?
[0557b04] Tỳ-kheo đáp:
– Bạch Thế Tôn, người kia không tìm thấy lửa! Vì sao như vậy? Vì người kia lấy dùi ướt mà dùi gỗ ướt, cho nên không thể có lửa.
– Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chân chánh an trụ niệm thân, sống với tâm vô lượng; với vị ấy, nếu Ma Ba-tuần muốn lợi dụng thì nhất định không thể được. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn, Phạm chí kia không trống rỗng, có niệm thân.
Phải nên biết rằng, tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy thì có mười tám công đức.18 Là mười tám công đức nào?
Tỳ-kheo có thể nhẫn chịu với những bức bách do đói khát, nóng lạnh, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng; với gậy đánh, với tiếng dữ, vị ấy cũng có thể nhẫn nại; thân bị bệnh tật đau đớn cùng cực gần như tuyệt mạng, hoặc gặp phải những điều không xứng ý, vị ấy đều có thể kham nhẫn. Đây là công đức thứ nhất có được khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo kham nhẫn đối với những điều không vui, nếu có điều không vui xảy ra thì tâm vị ấy nhất định không lo buồn. Đây là công đức thứ hai khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo kham nhẫn sự sợ hãi, nếu có điều sợ hãi xảy đến thì tâm vị ấy nhất định không lo sợ. Đây là công đức thứ ba khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo có ba niệm xấu ác là tham dục, sân hận và tổn hại; nếu ba niệm xấu ác kia sanh khởi thì tâm vị ấy nhất định không dính mắc. Đây là công đức thứ tư, thứ năm, thứ sáu và thứ bảy19 khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp bất thiện, chứng đắc Thiền thứ nhất cho đến Thiền thứ tư, thành tựu an trú. Đây là công đức thứ tám20 khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo diệt tận ba kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa đường ác, nhất định đến Chánh giác, chỉ còn thọ sanh tối đa bảy đời nữa, sau bảy lần qua lại cõi trời, cõi người sẽ vượt thoát khổ đau. Đây là công đức thứ chín khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo diệt sạch ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chỉ còn qua lại một lần ở cõi trời, cõi người rồi sau đó sẽ vượt thoát khổ đau. Đây là công đức thứ mười khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo diệt sạch năm hạ phần kiết sử, sanh vào nơi kia21 rồi nhập Niết-bàn, được pháp bất thoái, không trở lại cõi này. Đây là công đức thứ mười một khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
[0557c02] Lại nữa, Tỳ-kheo đắc tịch tịnh giải thoát,22 lìa Sắc, chứng Vô sắc, nhập định Bất động,23 tự thân tác chứng, thành tựu an trú, rồi dùng trí tuệ mà quán sát, biết rõ các lậu và đoạn trừ các lậu. Đây là công đức thứ mười hai, mười ba, mười bốn, mười lăm, mười sáu và mười bảy24 khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy.
Lại nữa, Tỳ-kheo chứng đắc các thần thông: Thiên nhĩ trí, Tha tâm trí, Túc mạng trí, Sanh tử trí; các lậu đã tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ngay trong hiện đời, vị ấy tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú và biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Đây là công đức thứ mười tám25 khi tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy. Phải biết rằng, tu tập niệm thân như vậy, thực hành rộng rãi như vậy thì có mười tám công đức như trên.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích
1 Quyển 20. Nguyên tác: Niệm thân kinh 念身經 (T.01. 0026.81. 0554c10). Tham chiếu: Niệm xứ kinh 念處經 (T.01. 0026.98. 0582b07); Tăng. 增 (T.02. 0125.12.1. 0568a01); D. 22, Mahāsatipaṭṭhāna Sutta (Kinh đại niệm xứ); M. 119, Kāyagatāsatisutta (Kinh thân hành niệm).
2 Kiền-ni (揵尼), tên của một vị đạo sĩ khổ hạnh (jaṭila) gọi là Keniya. Theo M. 92; Sn. 102-112, vị đạo sĩ này sống ở thị trấn Āpaṇa.
3 A-hòa-na (阿惒那 hoặc viết 阿和那) phiên âm từ chữ Āpaṇa. Theo Phiên Phạn ngữ 翻梵語 (T.54. 2130.8. 1035a12), A-hòa-na (阿和那) là tên gọi một nơi buôn bán sầm uất (市肆). Theo S. V. 225, Āpaṇa là một thị trấn thuộc vương quốc Aṅga (Ương-kỳ).
4 Ương-kỳ (鴦祇, Aṅga).
5 Niệm thân (念身, Kāyagatāsati): Rõ biết, tỉnh giác với mọi hành động diễn ra nơi thân.
6 Nguyên tác: Chánh tri (正知, sampajāna): Nhận biết rõ ràng, cụ thể.
7 Trị đoạn diệt chỉ (治斷滅止), viết tắt của “đối trị, đoạn trừ, diệt chỉ” (對治,斷除,滅止). Tham chiếu: M. 20: Tassa dantebhidantamādhāya jivhāya tāluṁ āhacca cetasā cittaṁ abhiniggaṇhato abhinippīḷayato abhisantāpayato ye pāpakā akusalā vitakkā chandūpasaṁhitāpi dosūpasaṁhitāpi mohūpasaṁhitāpi te pahīyanti te abbhatthaṁ gacchanti (Nhờ nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm, các ác bất thiện tầm liên hệ đến dục, liên hệ đến sân, liên hệ đến si được trừ diệt, đi đến diệt vong), HT. Thích Minh Châu dịch.
8 MĀ. 98 ghi: 學 hay 覺, theo bản Tống, Nguyên, Minh.
9 Nguyên tác: Ly sanh hỷ lạc (離生喜樂): Thể nhập cảnh giới Thiền thứ nhất. 10 Nguyên tác: Tháo đậu (澡豆): Vật phẩm dùng để tắm rửa thân thể hoặc giặt sạch áo quần. Theo Thập tụng luật 十誦律 (T.23. 1435.38. 0275c25), vật phẩm này được tổng hợp từ đậu nành, đậu đỏ, đậu ma- sa, cỏ ca-đề-bà-la và hạt lê-tần-đà (大豆小豆摩沙豆豌豆迦提婆羅草梨頻陀子作).
11 Nguyên tác: Định sanh hỷ lạc (定生喜樂): Thể nhập cảnh giới Thiền thứ hai.
12 Nguyên tác: Vô hỷ sanh lạc (無喜生樂): Có lạc do sự từ bỏ hỷ, thể nhập cảnh giới Thiền thứ ba.
13 Nguyên tác: Thanh tịnh tâm (清淨心): Xả niệm thanh tịnh, thể nhập cảnh giới Thiền thứ tư.
14 Nguyên tác: Niệm quang minh tưởng (念光明想, Ālokasaññaṃ): Niệm tưởng ánh sáng.
15 Quán tướng (觀相): Quán tưởng về các hình tướng.
16 Đạo phẩm pháp (道品法): Pháp dẫn đến Niết-bàn. M. 119: Dhamma vijjābhāgiyā (pháp đưa đến Minh).
17 Nguyên tác: Du hành thiểu tâm (遊行少心): Mang tâm nhỏ hẹp, sống với tâm nhỏ hẹp, tâm không trùm khắp, không tương ưng với thân hành niệm.
18 M. 119 chỉ nêu: Dasānisaṃsā (10 công đức).
19 Bản Minh không ghi 5, 6 và 7.
20 Bản Minh ghi “đây là công đức thứ 5 cho đến thứ 8.”
21 Tức trời Sắc giới, cụ thể là cõi trời Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha).
22 Nguyên tác: Tức giải thoát (息解脫, Santavimokkha).
23 Như kỳ tượng định (如其像定): Nhập định Bất động như bức tượng. Xem chú thích 3, kinh số 33, tr. 224.
24 Bản Minh không có 10 chữ: 十三,十四,十五,十六,十七.
25 Bản Minh: Từ 13 cho đến… (謂第十三至).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.