Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

80. KINH CA-HY-NA1
 

Tôi nghe như vầy :
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.


Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật-đà2 cũng ở tại nước Xá-vệ, trong hang núi Ta-la-la.3 Lúc ấy, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Tôn giả A-na-luật-đà đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Vào buổi sáng đó, Tôn giả A-nan cũng đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực.


[0552a03] Tôn giả A-na-luật-đà trông thấy Tôn giả A-nan cũng đi khất thực, lúc gặp nhau, Tôn giả nói:
– Hiền giả A-nan biết cho, ba y vải thô của tôi đã rách hết. Hiền giả có thể nhờ các Tỳ-kheo may y giúp tôi chăng?


Tôn giả A-nan im lặng nhận lời giúp Tôn giả A-na-luật-đà.


Bấy giờ, sau khi vào thành Xá-vệ khất thực và thọ thực xong, sau buổi trưa, Tôn giả A-nan cất y bát, rửa tay chân, lấy tọa cụ vắt trên vai, tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng, gặp các Tỳ-kheo thưa rằng:
– Thưa các thầy! Hôm nay xin hãy đến hang núi Ta-la-la may y giúp cho Tôn giả A-na-luật-đà.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe lời Tôn giả A-nan, thảy đều đến hang núi Ta-la-la may y giúp cho Tôn giả A-na-luật-đà.


Lúc ấy, đức Phật trông thấy Tôn giả A-nan tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng, thấy vậy, Ngài hỏi:
– Này A-nan! Thầy vì việc gì mà tay cầm chìa khóa đến khắp các phòng?


Tôn giả A-nan bạch:
– Bạch Thế Tôn! Hôm nay con đến nhờ các thầy Tỳ-kheo may y cho Tôn giả A-na-luật-đà.


Đức Phật bảo:
– Này A-nan! Tại sao thầy không thỉnh Như Lai cùng giúp may y cho Tỳ-kheo A-na-luật-đà?


Khi ấy, Tôn giả A-nan liền chắp tay hướng về đức Phật, bạch rằng:
– Cúi mong Thế Tôn hãy đến hang núi Ta-la-la giúp may y cho Tôn giả A-na-luật-đà.


Đức Phật im lặng nhận lời Tôn giả A-nan. Bấy giờ, đức Phật cùng Tôn giả A-nan đến hang núi Ta-la-la, trải tòa ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Khi ấy, trong hang núi Ta-la-la có đến tám trăm Tỳ-kheo cùng với Phật ngồi may y cho Tôn giả A-na-luật-đà. Lúc này, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng có mặt trong hội chúng. Bấy giờ, đức Phật bảo:
– Này Mục-kiền-liên! Ta có thể vì A-na-luật-đà trải rộng tấm vải này ra, cắt rọc rồi may lại thành y.


Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y bày vai bên phải, chắp tay hướng Phật và bạch:
– Cúi mong đức Thế Tôn vì Hiền giả A-na-luật-đà mà trải rộng tấm vải, các Tỳ-kheo sẽ cùng nhau cắt rọc, khâu vá và may lại thành y.


[0552b01] Bấy giờ, đức Phật liền vì Tôn giả A-na-luật-đà, trải rộng tấm vải, các Tỳ-kheo cùng nhau cắt rọc, khâu vá, may chung lại. Ngay trong ngày hôm ấy, chư vị đã may xong cho Tôn giả A-na-luật-đà ba y.


Đức Phật biết ba y của Tôn giả A-na-luật-đà đã may xong, liền bảo rằng:
– Này A-na-luật-đà! Thầy hãy nói pháp Ca-hy-na cho các Tỳ-kheo nghe, Như Lai đau lưng, muốn nghỉ một lúc.


Tôn giả A-na-luật-đà bạch:
– Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Khi ấy, đức Phật xếp y Uất-đa-la-tăng thành bốn lớp rồi trải trên giường, gấp y Tăng-già-lê làm gối, nằm nghiêng mình bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, khởi Quang minh tưởng,4 giữ chánh niệm tỉnh giác và thường nghĩ đến việc thức dậy.


Lúc đó, Tôn giả A-na-luật-đà bảo các Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Trước kia, lúc tôi chưa xuất gia học đạo, đã nhàm chán cảnh sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não, buồn tủi, lo lắng, muốn đoạn trừ khối đau khổ lớn này. Này chư Hiền! Khi đã nhàm chán, tôi quán sát như vầy: “Đời sống tại gia hết sức chật hẹp, là chốn nhiễm ô phiền não, xuất gia học đạo thì rộng rãi thênh thang. Nay ta sống đời tại gia luôn bị trói buộc trong xiềng xích, không được trọn đời tu các Phạm hạnh. Ta nên từ bỏ một ít tài vật và nhiều. tài vật, từ bỏ một số thân tộc và nhiều thân tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.”


   Này chư Hiền! Sau đó tôi đã từ bỏ một ít tài vật và nhiều tài vật, từ bỏ một số thân tộc và nhiều thân tộc, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Này chư Hiền! Khi tôi đã xuất gia học đạo, từ bỏ dòng họ rồi, thọ giới Tỳ-kheo, thực hành giới cấm, giữ gìn giới giải thoát. Tôi lại khéo nhiếp phục các oai nghi lễ tiết, thấy lỗi nhỏ nhặt cũng ôm lòng lo sợ, liền thọ trì học giới.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa giết hại, đoạn trừ sự giết hại, quăng bỏ dao gậy, biết xấu hổ, biết tự thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, dù là loài côn trùng nhỏ nhặt. Đối với việc sát sanh, tôi đã đoạn trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa trộm cướp, đoạn trừ việc trộm cướp, được cho mới lấy, vui nhận những gì được cho, thường ưa bố thí, tâm luôn hoan hỷ, không keo kiệt, không mong cầu báo đáp. Đối với việc trộm cướp, tôi đã đoạn trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa phi Phạm hạnh, đoạn trừ phi Phạm hạnh, siêng năng tu Phạm hạnh, tinh cần trong diệu hạnh, trong sạch không ô uế, lìa dục và đoạn dâm. Đối với việc phi Phạm hạnh, tôi đã đoạn trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, nói lời chân thật, ưa thích chân thật, an trụ nơi chân thật, không thay đổi lời nói,5 tất cả có thể tin theo, không dối gạt thế gian. Đối với việc nói dối, tôi đã đoạn trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nói hai chiều, dứt trừ việc nói hai chiều, thực hành không nói hai chiều, không phá hoại người khác, không đem lời người này nói với người kia để phá hoại người này, không đem lời người kia nói với người này để phá hoại người kia, với người chia rẽ thì làm cho hòa hợp, với người hòa hợp thì làm cho hoan hỷ, không kết bè lập đảng, không ham thích bè đảng, không khen ngợi bè đảng. Đối với việc nói hai chiều, tôi đã đoạn trừ sạch tâm ấy.
   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác. Nếu có lời nói mà ngôn từ thô ác, hung hăng, nặng nề, trái tai, mọi người không vui, mọi người không mến, khiến cho người khác khổ não, không được an định thì tôi đoạn trừ những lời nói như vậy. Nếu có lời nói trong trẻo, hòa thuận, mềm mỏng, xuôi tai, đáng vui, đáng mến, khiến cho người khác an lạc, ngôn từ đầy đủ, rõ ràng, không làm người sợ hãi, khiến họ được an định thì tôi nói lời ấy. Đối với việc nói lời thô ác, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa nói thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt, nói lời hợp thời, lời chân thật, đúng pháp, đúng nghĩa, lời nhẹ nhàng6 và ưa nói lời nhẹ nhàng, hợp theo việc, hợp theo thời, khéo léo dạy dỗ, khéo léo quở trách. Đối với việc nói lời thêu dệt, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
[0552c13] Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc mua bán,7 đoạn trừ việc mua bán, buông bỏ dụng cụ đo lường như cái đấu, cái hộc, không nhận lãnh hàng hóa, không ép giá người khác, không đong lường gian dối, không vì lợi nhỏ mà dối gạt hại người. Đối với việc mua bán, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc tiếp nhận góa phụ, thiếu nữ; đoạn trừ việc tiếp nhận góa phụ, thiếu nữ. Đối với việc tiếp nhận góa phụ, thiếu nữ; tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nhận nuôi tôi tớ, đoạn trừ việc nhận nuôi tôi tớ. Đối với việc nhận nuôi tôi tớ, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nhận lãnh voi, ngựa, trâu, dê; đoạn trừ việc nhận lãnh voi, ngựa, trâu, dê. Đối với việc nhận lãnh voi, ngựa, trâu, dê; tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nhận lãnh gà, heo; đoạn trừ việc nhận lãnh gà, heo. Đối với việc nhận lãnh gà, heo; tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã lìa việc nhận lãnh ruộng vườn, lầu đài; đoạn trừ việc nhận lãnh ruộng vườn, lầu đài. Đối với việc nhận lãnh ruộng vườn, lầu gác; tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nhận lãnh lúa, mì, đậu sống; đoạn trừ việc nhận lãnh lúa, mì, đậu sống. Đối với tâm nhận lãnh lúa, mì, đậu sống; tôi đã trừ sạch.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Đối với việc uống rượu, tôi đã trừ sạch tâm ấy.
   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nằm giường cao rộng, đoạn trừ việc nằm giường cao rộng. Đối với việc nằm giường cao rộng, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã lìa bỏ tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp; đoạn trừ tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp. Đối với việc đeo tràng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc ca múa, xướng hát, cho đến xem nghe; đoạn trừ việc ca múa, xướng hát, cho đến xem nghe. Đối với việc ca múa, xướng hát, cho đến xem nghe, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc nhận lãnh vàng bạc, của báu; đoạn trừ việc nhận lãnh vàng bạc, của báu. Đối với việc nhận lãnh vàng bạc, của báu; tôi đã trừ sạch tâm ấy.

   Này chư Hiền! Tôi đã xa lìa việc ăn quá giờ ngọ, đoạn trừ việc ăn quá giờ ngọ, chỉ ăn một lần, không ăn đêm, học ăn đúng thời. Đối với việc ăn quá giờ ngọ, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


[0553a06] Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu Thánh giới uẩn này rồi, lại học theo hạnh biết đủ, áo vừa đủ che thân, ăn chỉ nhằm nuôi mạng, đi đến đâu đều mang theo y bát, ra đi không luyến nhớ, giống như chim ưng dang rộng đôi cánh bay lượn giữa hư không. Này chư Hiền! Tôi cũng vậy, đi đến đâu đều mang theo y bát, ra đi không luyến nhớ.


   Này chư Hiền! Khi tôi đã thành tựu Thánh giới uẩn này và luôn sống biết đủ, lại tu tập phòng hộ các căn, thường nghĩ đến việc đóng chặt các căn; lòng mong tỏ ngộ nên phải phòng hộ và giữ tâm trong chánh niệm thì mới mong thành tựu. Thường xuyên tỉnh giác, khi mắt thấy sắc nhưng không vướng mắc vào tướng của sắc, không đắm nhiễm vào vị8 của sắc, vì ngăn ngừa tranh giành và oán giận nên giữ gìn nhãn căn. Giữ gìn nhãn căn là để trong tâm không sanh ra tham muốn,9 ưu não và các pháp xấu ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn nhãn căn. Với tai, mũi, lưỡi và thân cũng vậy. Ý nhận biết các pháp nhưng không vướng mắc vào tướng các pháp, cũng không bị đắm nhiễm vào vị của các pháp, vì ngăn ngừa tranh giành và oán giận nên giữ gìn ý căn. Giữ gìn ý căn là để trong tâm không sanh tham muốn, ưu não và các pháp xấu ác, bất thiện. Vì hướng đến mục đích đó mà giữ gìn ý căn.


   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu Thánh giới uẩn này rồi và luôn sống biết đủ, gìn giữ các căn, tôi lại tu tập tỉnh giác trong mọi hành động, cử chỉ; khéo léo quán sát, phân biệt, co duỗi, cúi ngước, dung mạo khoan thai,10 khi đắp y Tăng-già-lê, khi mang y bát; khi đi, đứng, nằm, ngồi, ngủ, thức, nói năng hay im lặng,... tôi đều tỉnh giác.


   Này chư Hiền! Khi tôi đã thành tựu Thánh giới uẩn này rồi và luôn sống biết đủ, gìn giữ các căn, tỉnh giác trong mọi hành động, cử chỉ; tôi lại sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi yên vắng, hoặc bên gốc cây, nơi yên tĩnh, hoặc trong hang núi, hoặc chỗ đất trống, hoặc ở giữa đồng, hoặc ở trong rừng, hoặc bãi tha ma. Này chư Hiền! Khi tôi đã đến nơi vô sự, hoặc bên gốc cây, nơi yên vắng, trải ni-sư-đàn, ngồi kiết-già, thân tâm ngay thẳng, quán niệm bên trong, không hướng ra ngoài,11 đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt; thấy tài sản, vật dụng sinh hoạt của người khác không khởi lòng tham mong chúng thuộc về mình. Đối với tham lam, tôi đã trừ sạch tâm ấy.

Tôi cũng tu tập như vậy đối với sân hận, hôn trầm, trạo cử, dứt hẳn nghi ngờ, vượt khỏi mê hoặc, đối với các pháp lành không còn do dự. Đối với nghi ngờ, mê hoặc, tôi đã trừ sạch tâm ấy.


   Này chư Hiền! Tôi đã trừ sạch năm loại ngăn che,12 những thứ khiến tâm ô uế, khiến tuệ yếu kém. Tôi lìa bỏ tham dục, lìa bỏ các pháp ác, bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú.


[0553b04] Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hòa, khéo an trụ, được tâm bất động,13 tôi tu tập và tác chứng các thần thông như ý.14 Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu vô số thần thông như ý, đó là từ một thân phân ra thành nhiều thân, từ nhiều thân hợp lại thành một thân; muốn một thân thì hiện một thân, có thấy có biết, xuyên qua tường vách không chướng ngại, như đi giữa hư không; ẩn xuống đất như chìm xuống nước, đi trên nước như đi trên đất; ngồi kiết-già mà bay lên hư không giống như chim bay. Ngay như mặt trời, mặt trăng này có sức mạnh lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn nhưng tôi có thể dùng tay chạm đến, vì thân tôi cao đến Phạm thiên.


   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hoà, khéo an trụ, thành tựu tâm bất động, tôi tu tập và chứng đắc Thiên nhĩ thông.15 Này chư Hiền, tôi dùng thiên nhĩ nghe âm thanh của loài người và phi nhân, gần xa, tuyệt diệu và không tuyệt diệu.


   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hoà, khéo an trụ, thành tựu tâm bất động, tôi tu tập và chứng đắc Tha tâm thông.16 Này chư Hiền! Những gì mà chúng sanh khác suy nghĩ, hành động, tôi dùng tha tâm trí mà biết rõ như thật về tâm của họ. Tâm có tham muốn thì biết rõ như thật tâm có tham muốn, tâm không tham muốn thì biết rõ như thật tâm không tham muốn; tâm có sân hận hay không có sân hận, có si mê hay không có si mê, nhiễm ô hay thanh tịnh, hòa hợp hay tán loạn, cao cả hay thấp hèn, rộng lớn hay bé nhỏ, có tu hay không tu, có định tĩnh hay không định tĩnh; tâm không giải thoát thì biết rõ như thật tâm không giải thoát; tâm giải thoát thì biết rõ như thật tâm giải thoát.


   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hòa, khéo an trụ, thành tựu tâm bất động, tôi tu tập và chứng đắc Túc mạng thông.17 Này chư Hiền! Có bao nhiêu hạnh nghiệp thì có bấy nhiêu tướng mạo. Tôi nhớ lại vô số kiếp sống khi xưa đã trải qua, từ một đời, hai đời, trăm đời, ngàn đời, kiếp thành, kiếp hoại, vô số kiếp thành hoại, chúng sanh đó tên ấy, đã trải qua những việc thế này, đã từng sanh ra nơi đó, với dòng họ như vậy, tên gọi như vậy, sinh sống như vậy, ăn uống như vậy, chịu khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ ở đời như vậy, kết thúc thọ mạng như vậy, chết đây sanh kia, chết kia sanh đây; tôi sanh chỗ này, dòng họ như vậy, tên gọi như vậy, sinh sống như vậy, ăn uống như vậy, chịu khổ vui như vậy, sống lâu như vậy, trụ ở đời như vậy, kết thúc thọ mạng như vậy.


[0553c01] Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hoà, khéo an trụ, thành tựu tâm bất động, tôi tu tập và chứng đắc Thiên nhãn thông.18 Này chư Hiền! Tôi dùng thiên nhãn thanh tịnh nhìn xa hơn người, thấy chúng sanh này từ khi sanh ra đến lúc chết đi, dung sắc đẹp hay xấu, mỹ miều hay không mỹ miều, qua lại cõi lành hay cõi ác, tùy nghiệp của chúng sanh ấy tạo tác mà thấy đúng như thật. Nếu chúng sanh này thân làm điều ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác, hủy báng Thánh nhân, tà kiến, kết thành nghiệp tà kiến thì do nhân duyên này, chúng sanh ấy sau khi qua đời chắc chắn đi đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh này thành tựu diệu hạnh về thân, diệu hạnh về miệng, diệu hạnh về ý, không hủy báng Thánh nhân, có chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến thì do nhân duyên này, chúng sanh ấy sau khi qua đời chắc chắn được sanh vào cõi lành, sanh lên cõi trời.


   Này chư Hiền! Tôi đã thành tựu tâm định như vậy, thanh tịnh không nhiễm ô, không phiền não, nhu hoà, khéo an trụ, thành tựu tâm bất động, tôi tu tập và chứng đắc Lậu tận thông. Này chư Hiền, tôi biết như thật đây là khổ, biết như thật đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường diệt khổ. Tôi biết phiền não, biết nguyên nhân của phiền não, biết phiền não diệt, biết con đường diệt trừ phiền não. Biết như vậy, thấy như vậy nên tâm giải thoát khỏi dục lậu, tâm giải thoát khỏi hữu lậu và tâm giải thoát khỏi vô minh lậu; khi giải thoát rồi liền biết mình đã giải thoát và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”


   Này chư Hiền! Nếu có Tỳ-kheo nào phạm giới, phá giới, giới bị sứt mẻ, giới bị xuyên thủng, giới bị nhiễm ô, giới bị lấm bẩn19 mà muốn nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang để leo lên nhà Vô thượng tuệ, lên lầu gác Chánh Pháp thì điều này không bao giờ có. Này chư Hiền! Ví như cách thôn không xa có ngôi lầu gác, trong đó để một cái thang hoặc mười bậc, mười hai bậc; nếu có người đến cầu xin, muốn được leo lên nhà gác đó, nhưng nếu không leo lên bậc thang thứ nhất mà chỉ muốn leo lên bậc thứ hai thì không thể được; nếu không leo lên bậc thứ hai mà chỉ muốn leo bậc thứ ba, thứ tư thậm chí lên đến lầu gác cũng không thể được. Này chư Hiền! Cũng như thế, nếu có Tỳ-kheo nào phạm giới, phá giới, giới bị sứt mẻ, giới bị xuyên thủng, giới bị ô uế, giới bị lấm bẩn mà muốn nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang để leo lên nhà trí tuệ vô thượng, lên lầu gác Chánh Pháp là điều không bao giờ có.


   Này chư Hiền! Nếu có Tỳ-kheo nào không phạm giới, không phá giới, giới không sứt mẻ, giới không bị xuyên thủng, giới không bị ô uế, giới không bị lấm bẩn mà muốn nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang để leo lên nhà trí tuệ vô thượng, lên lầu gác Chánh Pháp thì chắc chắn có điều đó. Này chư Hiền, như cách thôn này không xa, có ngôi lầu gác, trong đó để một cái thang hoặc có mười bậc hay mười hai bậc, nếu có người đến cầu xin, muốn được leo lên nhà gác đó thì khi đã leo lên bậc thứ nhất của thang ấy, rồi muốn leo lên bậc thứ hai thì chắc chắn sẽ leo được; nếu đã leo lên bậc thứ hai, rồi muốn leo bậc thứ ba, bậc thứ tư cho đến leo lên đến lầu gác thì chắc chắn sẽ leo được. Này chư Hiền! Cũng như thế, nếu có Tỳ-kheo nào không phạm giới, không phá giới, giới không sứt mẻ, giới không bị xuyên thủng, giới không bị nhiễm ô, giới không bị lấm bẩn mà muốn nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang để leo lên nhà vô thượng tuệ, lên lầu gác Chánh Pháp thì chắc chắn có điều đó.


[0554a09] Này chư Hiền! Tôi nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang leo lên nhà trí tuệ vô thượng, lên lầu gác Chánh Pháp, chỉ với một nỗ lực nhỏ20 nhưng vẫn thấy cả ngàn thế giới. Này chư Hiền! Như người có mắt ở trên lầu cao, chỉ với một nỗ lực nhỏ nhưng vẫn thấy khoảng đất trống phía dưới, rồi thấy cả ngàn ụ đất. Này chư Hiền! Tôi cũng như vậy, nương tựa nơi giới, an trụ nơi giới, lấy giới làm thang leo lên nhà trí tuệ vô thượng, lên lầu gác Chánh Pháp, với nỗ lực nhỏ nhưng vẫn thấy cả ngàn thế giới.


   Này chư Hiền! Như con voi lớn của nhà vua, cao từ bảy cho đến gần tám khuỷu tay rồi lấy lá cây đa-la mà che đậy cả thân voi;21 cũng như tôi luôn che đậy sáu phép thần thông này.22 Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về các phép thần thông như ý, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời. Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về Thiên nhĩ thông, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời. Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về Tha tâm thông, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời. Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về Túc mạng thông, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời. Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về Thiên nhãn thông, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời. Này chư Hiền! Đối với sự chứng đắc của tôi về Lậu tận thông, nếu ai có điều gì nghi ngờ thì cứ hỏi, tôi sẽ trả lời.


Bấy giờ, Tôn giả A-nan thưa:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Hôm nay, ở đây có tám trăm Tỳ-kheo và đức Như Lai ở giữa đại chúng, cùng ngồi trong hang núi Ta-la-la để may y cho Tôn giả A-na-luật-đà. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc các phép thần thông như ý thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Thiên nhĩ thông thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Tha tâm thông thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Túc mạng thông thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Thiên nhãn thông thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Với Tôn giả A-na-luật-đà, nếu vị nào có điều gì nghi ngờ về sự chứng đắc Lậu tận thông thì xin cứ hỏi, Tôn giả A-na-luật-đà sẽ trả lời. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chúng tôi23 đã dùng tâm biết được tâm của Tôn giả A-na-luật-đà, đúng là Tôn giả A-na-luật-đà có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn.


[0554b12] Bấy giờ, sự đau nhức của đức Phật đã thuyên giảm và an ổn, Ngài liền trở dậy, ngồi kiết-già. Sau khi ngồi, đức Phật đã khen ngợi Tôn giả A-na-luật-đà:
– Lành thay, lành thay, A-na-luật-đà! Quả là lành thay! Thầy đã nói pháp Ca-hy-na cho các Tỳ-kheo nghe. Này A-na-luật-đà, thầy cần nên nói pháp Ca-hy-na cho các Tỳ-kheo nghe. Này A-na-luật-đà, thầy hãy thường xuyên nói pháp Ca-hy-na cho các Tỳ-kheo nghe.


Rồi đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Này Tỳ-kheo! Các thầy hãy vâng giữ pháp Ca-hy-na, đọc tụng và tu tập pháp Ca-hy-na và khéo giữ gìn pháp Ca-hy-na. Vì sao như vậy? Vì pháp Ca-hy-na cùng tương ưng với pháp, là căn bản của Phạm hạnh, đưa đến thần thông, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn. Nếu có người thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì hãy nên dốc lòng thọ trì pháp Ca-hy-na, khéo léo giữ gìn pháp Ca-hy-na. Vì sao như vậy? Vì Như Lai thấy trong quá khứ không có các Tỳ-kheo nào may y như đã làm cho Tỳ-kheo A-na-luật-đà. Như Lai cũng thấy trong vị lai, hiện tại, không có các Tỳ-kheo nào may y như đã làm cho Tỳ-kheo A-na-luật-đà. Vì sao như vậy? Vì hôm nay, có tám trăm Tỳ-kheo và Như Lai giữa đại chúng, cùng ngồi trong núi Ta-la-la để may y cho Tôn giả A-na-luật-đà. Như vậy, Tỳ-kheo A-na-luật-đà có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn.


Đức Phật thuyết giảng như vậy, Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.24

Chú thích:
1 Nguyên tác: Ca-hy-na kinh 迦絺那經 (T.01. 0026.80. 0551c26). Ca-hy-na (迦絺那, Kaṭṭhina) cũng được phiên âm là Ca-thi-ca (迦施迦), dịch nghĩa là “Y công đức” (功德衣).
2 A-na-luật-đà (阿那律陀, Anuruddha) còn được viết: A-ni-luật-đà (阿尼律陀), A-ni-lô-đà (阿尼盧陀), A-lâu-đà (阿樓馱), A-nan-luật (阿難律), A-lâu-đà (阿樓陀).
3 Sa-la-la Nham sơn (娑羅邏巖山). Theo M. 128, địa danh đức Phật ghé thăm Tôn giả Anuruddha có tên là Pācīnavamsadāya. Theo S. II. 190, Pācīnavamsa là một tên gọi khác của núi Tỳ-phú-la (Vepulla) ở thành Vương Xá. Kinh ghi: Thuở xưa, này các Tỳ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Pācīnavamsa. Lúc bấy giờ, dân chúng được biết với tên là Tivarā. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivarā có tuổi thọ đến 40.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivarā phải bốn ngày để leo lên núi Pācīnavamsa, phải 4 ngày để leo xuống (HT. Thích Minh Châu dịch).

4 Quang minh tưởng (光明想). Xem chú thích 8, kinh số 79, tr. 527.
5 Nguyên tác: Bất di động (不移動).
6 Nguyên tác: Chỉ tức (止息, upasama): An tịnh, tĩnh chỉ, bình an, trầm lặng. Xem chú thích 9, kinh số 79, tr. 528.

7 Nguyên tác: Trị sanh (治生): Kinh doanh mua bán, lo cho gia nghiệp (經營家業). Pāli: Vaṇijjā (thương mại, 商売).
8 Nguyên tác: Vị (味). Pāli: Assāda (mùi vị, sự thỏa thích).
9 Nguyên tác: Tham tứ (貪伺, abhijjhā). Xem chú thích 2, kinh số 15, tr. 84 và chú thích 3, kinh số 75, tr. 497.
10 Nguyên tác: Nghi dung tường tự (儀容庠序). Tường tự (庠序) có nghĩa là khoan thai, điềm tĩnh (安詳). Tham chiếu: Đại Đường Tây Vức ký 大唐西域記 (T.51. 2087.7. 0907c09): Tăng chúng trang nghiêm, oai nghi điềm tĩnh (僧徒肅穆, 眾儀庠序).
11 Nguyên tác: Phản niệm bất hướng (反念不向), còn được viết là “hệ niệm tại tiền” (繫念在前, parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā): An trú chánh niệm ngay trước mặt.

12 Nguyên tác: Ngũ cái (五蓋, pañca nīvaraṇā), bao gồm: tham dục (貪欲, kāmarāga), sân khuể (瞋恚, vyāpāda), thụy miên (睡眠, thinamiddha), trạo cử (掉舉, uddhacca) và nghi (疑, vicikicchā).
13 Nguyên tác: Đắc bất động tâm (得不動心): Thành tựu Tứ vô sắc định (四無色定).
14 Như ý túc (如意足). SĀ. 503 ghi là “đại thần thông lực” (大神通力).
15 Nguyên tác: Thiên nhĩ trí thông (天耳智通).
16 Nguyên tác: Tha tâm trí thông (他心智通).
17 Nguyên tác: Túc mạng trí thông (宿命智通).

18 Nguyên tác: Sanh tử trí (生死智), một cách gọi khác chỉ cho Thiên nhãn thông (天眼通).
19 Nguyên tác: Phạm giới, phá giới, khuyết giới, xuyên giới, uế giới, hắc giới giả (犯戒, 破戒, 缺戒, 穿戒, 穢戒, 黑戒者). Tham chiếu: A. 7.50 - IV. 54: Brahmacariyassa khaṇḍampi chiddampi sabalampi kammāsampi (đây gọi là Phạm hạnh bị bể vụn, bị khuyết phạm, bị nhiễm ô, bị điểm chấm), HT. Thích Minh Châu dịch.

20 Nguyên tác: Dĩ tiểu phương tiện (以小方便). “Phương tiện” (方便) trong trường hợp này đồng nghĩa với “tinh tấn” (精進, vāyāma).
21 Nguyên tác: Nhược vương đại tượng, hoặc hữu thất bảo, hoặc phục giảm bát, dĩ đa-la diệp phú chi (若王大象, 或有七寶, 或復減八, 以多羅葉覆之). Từ quan trọng trong câu kinh này chính là “bảo” (寶), nguyên tác Pāli của từ này viết là ratana. Ratana ngoài nghĩa vừa nêu còn mang nghĩa là đơn vị đo chiều dài thời xưa, bằng khoảng một cánh tay, từ cùi chỏ đến đầu ngón tay (hattha). Bổ trợ cho nghĩa này, Tạp. 雜 (T.02. 0099.1144. 0302c13) ghi: Ví như voi báu của Chuyển Luân Thánh Vương cao 7, 8 khuỷu tay mà một chiếc lá đa-la có thể che phủ (譬如: 轉輪聖王寶象, 高七八肘, 一多羅葉能映障者). Tương tự, S. 16.11 - II. 217 ghi: Sattaratanaṁ vā, āvuso, nāgaṁ aḍḍhaṭṭhamaratanaṁ vā tālapattikāya chādetabbaṁ maññeyya, yo me cha abhiññā chādetabbaṁ maññeyyā”ti. (Này Hiền giả, ai nghĩ rằng có thể che đậy 6 thắng trí của ta được, thời không khác gì họ nghĩ rằng có thể lấy một lá cây đa-la mà che đậy một con voi lớn đến 7 hay 8 khuỷu tay rưỡi bề cao), HT. Thích Minh Châu dịch.
22 Như ngã phú tàng ư thử lục thông (如我覆藏於此六通). Cách diễn đạt của bản Hán khác với bản S. 16.11 - II. 217.

23 Cần phải thấy rằng, để biết tâm của một bậc Thánh giả thì chỉ có những bậc Thánh giả. Tuy nhiên, trong thời điểm nêu trên, Tôn giả A-nan vẫn chưa thành tựu quả vị A-la-hán. Vì vậy, cách dùng từ chúng tôi (我等) ở đây nhằm chỉ cho các Tỳ-kheo đã chứng đắc Thánh quả đang ở trong hội chúng.
24 Bản Hán, hết quyển 19.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.