Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, đại thần Tiên Dư2 bảo người giúp việc:
– Ông hãy đến chỗ Phật, thay ta đảnh lễ, cúi lạy chân Ngài rồi kính thăm hỏi: “Thánh thể Thế Tôn có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?” Hãy nói như vầy: “Đại thần Tiên Dư kính lạy chân Phật, kính thăm hỏi Thánh thể Thế Tôn có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?” Khi thăm hỏi Phật xong, ông hãy đến chỗ Tôn giả A-na-luật-đà, cũng thay ta cúi lạy chân Tôn giả, thăm hỏi Thánh thể Tôn giả có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Hãy thưa như vầy: “Đại thần Tiên Dư kính lễ Tôn giả A-na-luật-đà, thăm hỏi Thánh thể Tôn giả có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Đại thần Tiên Dư cung thỉnh Tôn giả A-na-luật-đà, tất cả bốn vị, sáng ngày mai cùng đến nhà thọ trai.” Nếu Tôn giả nhận lời thỉnh thì thưa thêm rằng: “Bạch Tôn giả A-na-luật-đà! Đại thần Tiên Dư rất bận việc, nào là việc vua sai, nào là phò tá cho các quan, kính mong Tôn giả vì lòng thương xót, vào sáng ngày mai, mời tất cả bốn vị cùng đến nhà đại thần Tiên Dư.”
Lúc ấy, người giúp việc vâng lời đại thần Tiên Dư liền đi đến chỗ đức Phật, cúi lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch đức Thế Tôn! Đại thần Tiên Dư kính lạy sát chân Phật, thăm hỏi Thánh thể Thế Tôn có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?
Bấy giờ, đức Phật nói với người giúp việc:
– Ta nguyện cho đại thần Tiên Dư được an ổn, hân hoan cũng như trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát và tất cả các loài khác đều được an ổn, hân hoan.
Khi ấy, người giúp việc nghe lời Phật dạy, khéo ghi nhớ, rồi cúi lạy sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra. Sau đó, người giúp việc đi đến chỗ A-na-luật-đà, cúi lạy sát chân Tôn giả, ngồi sang một bên và thưa:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Đại thần Tiên Dư kính lạy sát chân Tôn giả, thăm hỏi Thánh thể Tôn giả có được mạnh khỏe không? Có an vui, không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Đại thần Tiên Dư kính thỉnh Tôn giả A-na-luật-đà, mời tất cả bốn vị vào sáng ngày mai đến nhà đại thần thọ trai.
[0549c03] Lúc ấy, Tôn giả Chân Ca-chiên-diên3 đang tĩnh tọa cách Tôn giả A-na-luật-đà không xa, Tôn giả A-na-luật-đà liền nói:
– Hiền giả Chân Ca-chiên-diên! Tôi vừa nói ngày mai chúng ta đến Xá-vệ để khất thực, chính là nghĩa này. Hôm nay, đại thần Tiên Dư sai người đến thỉnh bốn vị chúng ta cùng đến nhà ông ấy thọ trai vào sáng ngày mai.
Tôn giả Chân Ca-chiên-diên liền nói:
– Mong Tôn giả A-na-luật-đà vì ông ấy mà im lặng nhận lời mời! Sáng ngày mai chúng ta sẽ ra khỏi khu rừng Ám4 này để vào thành Xá-vệ khất thực.
Tôn giả A-na-luật-đà vì đại thần ấy mà im lặng nhận lời. Lúc đó, biết Tôn giả A-na-luật-đà im lặng nhận lời rồi, người giúp việc lại thưa:
– Đại thần Tiên Dư muốn thưa với Tôn giả A-na-luật-đà rằng, ông ấy rất bận việc, nào là việc vua sai, nào là phò tá cho các quan, kính mong Tôn giả vì lòng thương xót, cùng với ba vị nữa, sáng ngày mai hãy đến nhà đại thần Tiên Dư để thọ trai.
Tôn giả A-na-luật-đà bảo người giúp việc:
– Ông hãy trở về, tôi tự biết thời! Lúc ấy, người giúp việc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh Tôn giả ba vòng rồi ra về.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả A-na-luật-đà, tất cả bốn vị, đắp y ôm bát đi đến nhà đại thần Tiên Dư. Bấy giờ, đại thần Tiên Dư cùng với các thể nữ vây quanh, đứng ở giữa cửa đợi Tôn giả A-na-luật-đà. Đại thần Tiên Dư thấy Tôn giả A-na-luật-đà từ xa đi đến, liền chắp tay hướng về Tôn giả A-na-luật-đà, khen ngợi:
– Lành thay, Tôn giả A-na-luật-đà! Đã lâu rồi Ngài không đến đây!
Lúc đó, đại thần Tiên Dư tỏ lòng cung kính, đưa tay dìu Tôn giả A-na-luật-đà vào trong nhà, thỉnh ngồi lên giường tốt đẹp đã trải sẵn. Tôn giả liền ngồi lên giường ấy. Đại thần Tiên Dư cúi lạy sát chân Tôn giả A-na-luật-đà rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Kính bạch Tôn giả A-na-luật-đà! Con có điều muốn hỏi, xin Ngài nghe cho.
Tôn giả A-na-luật-đà nói:
– Này Tiên Dư!5 Tùy theo ông hỏi, nghe rồi tôi sẽ suy xét.
Đại thần Tiên Dư liền hỏi:
– Thưa Tôn giả! Như có Sa-môn, Phạm chí nào đi đến chỗ con và bảo: “Này Tiên Dư! Ông nên tu tâm giải thoát rộng lớn.”6 Thưa Tôn giả, lại có Sa-môn, Phạm chí đến chỗ con và bảo: “Này Tiên Dư! Ông nên tu tâm giải thoát vô lượng.”7 Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Đối với hai tâm giải thoát trên, khác văn khác nghĩa, hay cùng nghĩa mà khác văn?
[0550a05] Tôn giả A-na-luật-đà bảo:
– Này Tiên Dư! Ông hỏi điều này trước, vậy ông hãy tự trả lời trước, sau đó tôi sẽ trả lời.
Nghe vậy, Tiên Dư liền thưa Tôn giả:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Tâm giải thoát rộng lớn và tâm giải thoát vô lượng, hai tâm giải thoát này đồng nghĩa nhưng khác văn. Con không thể giải thích việc này.
Tôn giả A-na-luật-đà dạy rằng:
– Này Tiên Dư! Hãy lắng nghe, tôi sẽ giải thích về tâm giải thoát rộng lớn và tâm giải thoát vô lượng cho ông. Tâm giải thoát rộng lớn nghĩa là, nếu có Sa-môn, hay Phạm chí nào ở nơi vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, nương nơi một cội cây, với tâm hướng đến tâm giải thoát rộng lớn phủ khắp rồi thành tựu và an trú, trong giới hạn ấy là tâm giải thoát, không thể vượt qua. Nếu không nương nơi một gốc cây thì hãy nương nơi hai, ba gốc cây, với tâm hướng đến tâm giải thoát rộng lớn phủ khắp rồi thành tựu và an trú, trong giới hạn ấy là tâm giải thoát, không thể vượt qua. Nếu không nương nơi hai, ba gốc cây thì hãy nương nơi một khu rừng. Nếu không nương vào một khu rừng thì hãy nương nơi hai, ba khu rừng. Nếu không nương nơi hai, ba khu rừng thì hãy nương nơi một thôn. Nếu không nương nơi một thôn thì hãy nương nơi hai, ba thôn. Nếu không nương hai, ba thôn thì hãy nương nơi một nước. Nếu không nương nơi một nước thì hãy nương nơi hai, ba nước. Nếu không nương hai, ba nước thì hãy nương vào nơi cõi đất rộng lớn này, cho đến nương nơi biển lớn, với tâm hướng đến tâm giải thoát rộng lớn phủ khắp rồi thành tựu và an trú, trong giới hạn ấy là tâm giải thoát, không thể vượt qua. Đó gọi là tâm giải thoát rộng lớn.
Này Tiên Dư! Thế nào là tâm giải thoát vô lượng? Nghĩa là, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở nơi vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm đi cùng với lòng từ, phủ khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như vậy, cho đến hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cùng khắp mọi nơi, tâm đi cùng với lòng từ, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, không hạn lượng, khéo tu tập, phủ khắp thế gian, thành tựu và an trú. Cũng vậy, tâm đi cùng với bi, hỷ và xả, không gây thù kết oán, không sân hận não hại, rộng lớn bao la, không hạn lượng, khéo tu tập, phủ khắp thế gian, thành tựu và an trú. Đó gọi là tâm giải thoát vô lượng. Này Tiên Dư! Như vậy, tâm giải thoát rộng lớn và tâm giải thoát vô lượng, hai tâm giải thoát này nghĩa khác, văn khác hay đồng nghĩa mà khác văn?
[0550b02] Đại thần Tiên Dư thưa:
– Thưa Tôn giả! Khi nghe Tôn giả giải thích thì con đã hiểu rõ, hai tâm giải thoát này nghĩa khác mà văn cũng khác.
Tôn giả A-na-luật-đà bảo:
– Này Tiên Dư! Có ba cõi trời là Quang thiên, Tịnh Quang thiên và Biến Tịnh Quang thiên. Trong đó, thiên chúng cõi Quang thiên cùng sống một trú xứ nhưng không nghĩ rằng: “Cái này là của ta, cái kia là của ta”, vì thiên chúng cõi Quang thiên hễ trụ ở chỗ nào liền có niềm an vui nơi đó. Này Tiên Dư, giống như con ruồi bám vào miếng thịt, nó không nghĩ rằng: “Cái này là của ta, cái kia là của ta”, nhưng miếng thịt ở đâu thì con ruồi vui thích ở đó. Cũng vậy, thiên chúng cõi Quang thiên kia không nghĩ rằng: “Cái này là của ta, cái kia là của ta”, vì thiên chúng cõi Quang thiên hễ trụ ở chỗ nào liền có niềm an vui nơi đó. Có lúc, thiên chúng cõi Quang thiên nhóm họp một chỗ, thân hình tuy có khác nhưng ánh sáng thì không khác.
Này Tiên Dư! Ví như có người thắp vô số ngọn đèn, đặt trong một ngôi nhà, những ngọn đèn kia tuy khác nhau nhưng ánh sáng thì không khác. Cũng vậy, thiên chúng cõi Quang thiên ấy nhóm họp một chỗ, thân hình tuy có khác nhưng ánh sáng thì không khác. Có lúc, thiên chúng cõi Quang thiên đều tự tản mác mỗi nơi. Khi tản mác mỗi nơi thì thân hình của họ đã khác mà ánh sáng cũng khác. Này Tiên Dư, giống như có người từ trong ngôi nhà đem ra nhiều cây đèn, phân chia cho các nhà. Những cây đèn đó sẽ ở những nơi khác nhau và ánh sáng cũng khác. Cũng vậy, thiên chúng cõi Quang thiên kia đều tự tản mác mỗi nơi. Khi họ tản mác mỗi nơi thì thân hình đã khác nên ánh sáng cũng khác.
Bấy giờ, Tôn giả Chân Ca-chiên-diên thưa:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Các vị Quang thiên kia cùng sống một trú xứ, có biết được có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Có thể nói thiên chúng cõi Quang thiên ấy cùng sống một trú xứ, biết rõ có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu.
Tôn giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Các vị Quang thiên cùng sống một trú xứ, do nhân gì, duyên gì mà biết được có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở nơi vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, nương bên gốc cây ấy, hướng tâm về Quang minh tưởng,8 thành tựu và an trú, tâm hướng về Quang minh tưởng cực thịnh, trong giới hạn đó là tâm giải thoát, không vượt qua chỗ đó. Nếu vị ấy không nương một gốc cây thì nương bên hai, ba gốc cây, hướng tâm về Quang minh tưởng, thành tựu và an trú, tâm hướng về Quang minh tưởng cực thịnh, trong giới hạn đó là tâm giải thoát, không vượt hơn chỗ đó. Này Hiền giả Cachiên-diên! Giữa hai tâm giải thoát đó thì giải thoát nào là tối thượng, là tối thắng, là vi diệu, là tối cao?
[0550c02] Tôn giả Chân Ca-chiên-diên đáp:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không nương một gốc cây mà lại nương nơi hai, ba gốc cây, hướng tâm về Quang minh tưởng, thành tựu và an trú; hướng tâm về Quang minh tưởng cực thịnh, trong giới hạn đó là tâm giải thoát, không vượt hơn chỗ đó. Tôn giả A-na-luậtđà! Như vậy, giữa hai giải thoát ấy thì giải thoát này là tối thượng, là tối thắng, là vi diệu, là tối cao.
Tôn giả A-na-luật-đà lại hỏi:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Nếu những vị ấy không nương nơi hai, ba gốc cây, mà nương nơi một khu rừng; nếu không nương nơi một khu rừng mà nương nơi hai, ba khu rừng; nếu không nương nơi hai, ba khu rừng mà nương nơi một thôn; nếu không nương nơi một thôn mà lại nương nơi hai, ba thôn; nếu không nương nơi hai, ba thôn mà lại nương nơi một nước; nếu không nương nơi một nước mà lại nương nơi hai, ba nước; nếu không nương nơi hai, ba nước mà lại nương nơi cõi đất rộng lớn này, cho đến nương nơi biển lớn, hướng tâm về Quang minh tưởng, thành tựu và an trú; hướng tâm về Quang minh tưởng cực thịnh, trong giới hạn đó là tâm giải thoát, không vượt hơn chỗ đó. Hiền giả Ca-chiên-diên! Như vậy, giữa hai giải thoát ấy, giải thoát nào là tối thượng, là tối thắng, là vi diệu, là tối cao?
Tôn giả Chân Ca-chiên-diên đáp:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào không nương nơi hai, ba gốc cây lại nương nơi một khu rừng; hoặc không nương nơi một khu rừng mà nương nơi hai, ba khu rừng; hoặc không nương nơi hai, ba khu rừng mà lại nương nơi một thôn; hoặc không nương nơi một thôn mà lại nương nơi một nước; hoặc không nương nơi một nước mà lại nương nơi hai, ba nước; hoặc không nương nơi hai, ba nước mà lại nương nơi cõi đất rộng lớn này, cho đến nương nơi biển lớn, hướng tâm về Quang minh tưởng, thành tựu và an trú; hướng tâm về Quang minh tưởng cực thịnh, trong giới hạn đó là tâm giải thoát, không vượt hơn chỗ đó. Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Như vậy, giữa hai giải thoát ấy, giải thoát này là tối thượng, là tối thắng, là vi diệu, là tối cao.
Tôn giả A-na-luật-đà bảo:
– Hiền giả Ca-chiên-diên! Do nhân này, duyên này mà thiên chúng cõi Quang thiên cùng sống một trú xứ, nhưng biết rõ có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu. Vì sao như vậy? Vì do tâm người có hơn, có bằng nên việc tu tập liền có thô có tế. Do vì tu tập có thô có tế nên được thân người thì có hơn, có bằng. Hơn nữa, đức Thế Tôn cũng nói như vậy, loài người thì có hơn, có bằng.
[0551a01] Tôn giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
– Này Tôn giả A-na-luật-đà! Thiên chúng ở cõi Tịnh Quang thiên kia cùng sống một trú xứ, biết được có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Có thể nói, thiên chúng cõi Tịnh Quang thiên cùng sống một trú xứ, biết rõ có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu.
Tôn giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Thiên chúng cõi Tịnh Quang thiên cùng sống một trú xứ, do nhân gì duyên gì mà biết được có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở nơi vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về và phủ khắp Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Với định này, vị ấy không tu, không tập, không làm cho rộng khắp, không thành tựu rốt ráo. Sau khi vị đó qua đời liền sanh lên cõi trời Tịnh Quang. Sau khi sanh lên, vị ấy không được sự an tịnh9 cao nhất, không được sự tịch tĩnh cao nhất, cũng không được sống trọn tuổi thọ.
Hiền giả Ca-chiên-diên! Ví như hoa sen xanh, sen hồng, sen đỏ và sen trắng đều sanh trưởng ở dưới nước. Khi ấy, rễ, cọng, lá, hoa, tất cả đều bị thấm nước, ngập nước, không chỗ nào mà không thấm. Hiền giả Ca-chiên-diên, cũng như vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở nơi vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về và phủ khắp Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Với định này, vị ấy không tu, không tập, không làm cho rộng khắp, không thành tựu rốt ráo. Sau khi vị đó qua đời liền sanh lên cõi trời Tịnh Quang. Sau khi sanh lên, vị ấy không được sự khinh an cao nhất, không được sự tịch tĩnh cao nhất, cũng không được sống trọn tuổi thọ.
Này Hiền giả Ca-chiên-diên, lại có Sa-môn hay Phạm chí nào với tâm ý hướng về và phủ khắp Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Với định này, vị ấy thường tu, thường tập, thường làm cho rộng khắp, được thành tựu rốt ráo. Vị ấy sau khi qua đời, sẽ được sanh lên cõi trời Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, vị ấy sẽ được sự khinh an cao nhất, được sự tịch tĩnh cao nhất, cũng được sống trọn tuổi thọ. Hiền giả Ca-chiên-diên! Ví như hoa sen xanh, sen hồng, sen đỏ và sen trắng sanh trưởng từ trong nước, ngoi lên khỏi mặt nước nên nước không thể thấm ướt được. Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở chỗ vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về và phủ khắp Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Với định này, vị ấy thường tu, thường tập, thường làm cho rộng khắp, thành tựu rốt ráo. Vị ấy sau khi qua đời, sẽ được sanh lên cõi trời Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, vị ấy sẽ được sự khinh an cao nhất, được sự tịch tĩnh cao nhất, cũng được sống trọn tuổi thọ.
[0551b01] Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Do nhân này, duyên này mà thiên chúng cõi trời Tịnh Quang cùng sống một trú xứ, biết được có hơn, có bằng, vi diệu hay không vi diệu. Vì sao như vậy? Vì do tâm người có hơn, có bằng nên sự tu tập có thô có tế. Do sự tu tập có thô có tế nên khi làm người thì có hơn, có bằng. Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Đức Thế Tôn cũng nói như vậy, loài người thì có hơn, có bằng.
Tôn giả Ca-chiên-diên lại hỏi:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Thiên chúng cõi trời Biến Tịnh Quang cùng sống một trú xứ, biết rõ có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Có thể nói, thiên chúng ở cõi trời Biến Tịnh Quang cùng sống một trú xứ, biết được có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu.
Tôn giả Chân Ca-chiên-diên lại hỏi:
– Thưa Tôn giả A-na-luật-đà! Thiên chúng cõi trời Biến Tịnh Quang sống cùng một trú xứ, do nhân gì, duyên gì mà biết được có sự hơn, bằng, vi diệu hay không vi diệu?
Tôn giả A-na-luật-đà đáp:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở chỗ vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về, phủ khắp Biến Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Vị ấy không dứt hẳn hôn trầm, không khéo chấm dứt trạo hối. Sau khi vị ấy qua đời, được sanh lên cõi trời Biến Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, ánh sáng của vị ấy không được sáng tỏ.
Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Ví như ngọn đèn sáng là nhờ dầu và tim, nếu dầu có cặn, tim lại không sạch thì ánh sáng của ngọn đèn sẽ không sáng tỏ. Hiền giả Ca-chiêndiên! Cũng vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở chỗ vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về, phủ khắp Biến Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Vị ấy không dứt hẳn hôn trầm, không khéo chấm dứt trạo hối. Sau khi vị ấy qua đời, được sanh lên cõi trời Biến Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, ánh sáng của vị ấy không được sáng tỏ.
Hiền giả Ca-chiên-diên, lại có Sa-môn hay Phạm chí nào ở chỗ vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về, phủ khắp Biến Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Vị ấy đoạn dứt hôn trầm, khéo chấm dứt trạo hối. Sau khi vị ấy qua đời, được sanh lên cõi trời Biến Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, ánh sáng của vị ấy rất sáng tỏ. Giống như ngọn đèn sáng là nhờ có dầu và tim. Nếu dầu không cặn, tim lại rất sạch thì ánh của ngọn đèn sẽ tỏa ra cực sáng. Hiền giả Ca-chiên-diên! Cũng như vậy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ở chỗ vắng vẻ, hoặc đến nơi yên tĩnh bên gốc cây, tâm ý hướng về, phủ khắp Biến Tịnh Quang thiên rồi thành tựu và an trú. Vị ấy đoạn dứt hôn trầm, khéo chấm dứt trạo hối. Sau khi vị ấy qua đời, được sanh lên cõi trời Biến Tịnh Quang. Khi đã sanh lên, ánh sáng của vị ấy rất sáng tỏ.
[0551c02] Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Do nhân ấy, duyên ấy mà thiên chúng cõi trời Biến Tịnh Quang sống cùng một trú xứ mà biết được có sự hơn, bằng, vi diệu và không vi diệu này. Vì sao như vậy? Vì do tâm người có hơn, có bằng nên khi tu tập có thô có tế. Do tu tập có thô có tế nên được làm người thì có hơn, có bằng. Hiền giả Ca-chiên-diên! Đức Thế Tôn cũng nói như vậy, loài người thì có hơn, có bằng.
Bấy giờ, Tôn giả Chân Ca-chiên-diên khen đại thần Tiên Dư:
– Lành thay, lành thay! Này Tiên Dư! Ông đã làm nhiều lợi ích cho chúng tôi. Vì sao như vậy? Vì ban đầu ông hỏi Tôn giả A-na-luật-đà về sự thù thằng của cõi trời mà chúng tôi chưa từng nghe Tôn giả A-na-luật-đà nói ý nghĩa đó. Tức là về cõi trời kia, có thiên chúng đó, thiên chúng sống ở đó như vậy.
Lúc ấy, Tôn giả A-na-luật-đà bảo:
– Này Hiền giả Ca-chiên-diên! Còn có nhiều cõi trời khác nữa. Nơi đó, dù mặt trời, mặt trăng này có thần túc lớn, có uy đức lớn, có phước đức lớn, có oai thần lớn như vậy, nhưng ánh sáng không sánh bằng với ánh sáng của cõi trời kia. Các vị trời kia đã cùng tôi gặp gỡ, cùng tôi thăm hỏi, cùng tôi bàn luận và cũng có những hỏi đáp. Thế nhưng tôi không nói về những việc đó mà chỉ nói về cõi trời kia, có thiên chúng đó, thiên chúng sống ở cõi đó như vậy.
Bấy giờ, đại thần Tiên Dư biết Tôn giả A-na-luật-đà đã nói xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự đi lấy nước rửa, tự tay dâng cúng thức ăn, đem đủ các món ngon dâng lên Tôn giả A-na-luật-đà, mong ngài thọ thực no đủ. Sau khi thọ trai, thu dọn bát và lấy nước rửa tay xong, Tiên Dư lấy một chiếc ghế, ngồi riêng bên cạnh để nghe pháp. Khi đã ngồi xong, Tôn giả A-na-luật-đà thuyết giảng các pháp cho Tiên Dư nghe, mở bày, chỉ dạy, khích lệ, khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho Tiên Dư, đã mở bày, chỉ dạy, khích lệ, khiến cho hoan hỷ xong, Tôn giả liền rời tòa ra về.
Tôn giả A-na-luật-đà thuyết giảng như vậy, đại thần Tiên Dư và các Tỳkheo nghe Tôn giả dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú thích:
1 Nguyên tác: Hữu thắng thiên kinh 有勝天經 (T.01. 0026.79. 0549b03). Tham chiếu: M. 12, Anuruddha Sutta (Kinh A-na-luật).
2 Tiên Dư tài chủ (仙餘財主): Vị quan trông coi về tài vật tên là Tiên Dư. Tiên Dư (仙餘) được phiên âm từ Isidatta; tài chủ (財主) được dịch nghĩa từ chữ thapati. Thapati vừa có nghĩa là người thợ mộc, vừa có nghĩa là một vị đại thần. Theo M. 127, Vua Ba-tư-nặc có 2 vị cận thần (thapatayo) tên là Isidatta và Purāṇā. Theo MĀ. 213, 2 vị cận thần trông coi tài vật của Vua Ba-tư-nặc tên là Tiên Dư (仙餘, Isidatta) và Túc Cựu (宿舊, Purāṇa).
3 Chân Ca-chiên-diên (真迦旃延, Sabhiya Kaccāna).
4 Ám lâm (闇林) phiên âm từ Andhavana, khu rừng nằm ở phía Nam thành Xá-vệ; cũng gọi An-đà lâm, An-hòa lâm, Đắc Nhãn lâm, Khai Nhãn lâm, Trú-an viên.
5 Nguyên tác: Tài chủ (財主). Để thuận theo nghĩa Việt nên thay chức vụ quan trông coi kho (財主) bằng tên gọi Tiên Dư.
6 Đại tâm giải thoát (大心解脫, Mahaggatā cetovimutti).
7 Vô lượng tâm giải thoát (無量心解脫, Appamāṇā cetovimutti).
8 Nguyên tác: Quang minh tưởng (光明想, Ālokasaññaṃ), tức là “tưởng ánh sáng.” Theo A. 7.61 - IV. 85 giải thích: Moggallāna, ālokasaññaṃ manasi kareyyāsi, divāsaññaṃ adhiṭṭhaheyyāsi – yathā divā tathā rattiṃ yathā rattiṃ tathā divā. Iti vivaṭena [vivaṭṭena (syā.), middhavigatena (ka.)] cetasā apariyonaddhena sappabhāsaṃ cittaṃ bhāveyyāsi. Ṭhānaṃ kho panetaṃ vijjati yaṃ te evaṃ viharato taṃ middhaṃ pahīyetha. (Này Moggallāna, thầy hãy tác ý đến quang tưởng và an trú vào tưởng ban ngày. Như ban ngày, ban đêm cũng vậy. Như ban đêm, ban ngày cũng vậy. Như vậy, với tâm rộng mở, không có hạn chế. Sự kiện này có xảy ra, do thầy trú như vậy, thụy miên ấy được đoạn diệt), HT. Thích Minh Châu dịch.
9 Nguyên tác: Chỉ tức (止息, upasama): An tịnh, tĩnh chỉ, bình an, trầm lặng; cũng được viết là “ninh tĩnh” (寧靜).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.