Viện Nghiên Cứu Phật Học

78. KINH PHẠM THIÊN THỈNH PHẬT1
 

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.


Bấy giờ, có vị Phạm thiên ở trên cõi Phạm thiên khởi lên tà kiến như vầy: “Chốn này là thường còn, là nơi hằng hữu, là xứ tồn tại lâu dài, là chỗ thiết yếu, là nơi không bị hoại diệt, là chốn giải thoát, ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn.”


Lúc đó, bằng Tha tâm trí, đức Thế Tôn biết suy nghĩ trong tâm của Phạm thiên kia, 2 Ngài liền nhập định với trạng thái toàn thân bất động.3 Với định ấy, chỉ trong khoảnh khắc như lực sĩ co duỗi cánh tay, Ngài biến mất khỏi vườn Cấp Cô Độc, trong Thắng Lâm thuộc nước Xá-vệ, lên đến cõi Phạm thiên.


Bấy giờ, Phạm thiên kia trông thấy đức Phật xuất hiện, liền đến thỉnh:
– Quý hóa thay, Đại tiên nhân đã đến! Chốn này là thường còn, là nơi hằng hữu, là xứ tồn tại lâu dài, là chỗ thiết yếu, là nơi không bị hoại diệt, là chốn giải thoát; ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn.


Bấy giờ, đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Cái vô thường mà ông cho là thường; cái không hằng hữu mà ông cho là hằng hữu; cái không trường tồn mà ông cho là trường tồn; cái không thiết yếu mà ông cho là thiết yếu; pháp hoại diệt mà ông cho là không hoại diệt; cái không giải thoát mà ông cho là giải thoát và ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn. Này Phạm thiên! Ông quả thật vô minh! Này Phạm thiên! Ông quả thật vô minh! Lúc đó, Ma Ba-tuần đang ở trong chúng, liền nói với đức Phật:
– Này Tỳ-kheo! Chớ trái lời Phạm thiên này, chớ chống đối lời Phạm thiên này. Tỳ-kheo, nếu ông trái lời Phạm thiên này, chống đối lời Phạm thiên này thì này Tỳ-kheo, ví như có người mang vận may đến mà bị xua đuổi đi, lời Tỳ-kheo nói ra cũng lại như vậy. Thế nên, này Tỳ-kheo, ta bảo ông chớ trái lời Phạm thiên này, chớ chống đối lời của Phạm thiên này. Này Tỳ-kheo, nếu như ông trái lời Phạm thiên này, chống đối lời Phạm thiên này thì này Tỳ-kheo, ví như có người từ núi cao rơi xuống, tuy dang tay chân quờ quạng giữa hư không nhưng chẳng thể bám víu vào đâu, lời Tỳ-kheo nói ra cũng lại như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, ta bảo ông chớ trái lời của Phạm thiên, chớ chống đối lời của Phạm thiên. Này Tỳ-kheo! Nếu ông trái lời Phạm thiên, chống đối lời Phạm thiên thì này Tỳ-kheo, ví như có người từ trên cây cao rơi xuống đất, tuy dùng tay chân chụp lấy cành lá nhưng chẳng bám víu được gì, lời Tỳ-kheo nói ra lại cũng như vậy. Cho nên, này Tỳ-kheo, ta bảo ông chớ nên trái lời Phạm thiên, chớ chống đối lời Phạm thiên này. Vì sao như vậy? Vì đây là Phạm thiên của cõi Phạm, là đấng ban phước lành, là đấng Tạo hóa, là đấng Tối tôn, đấng Toàn năng, đấng Sáng tạo, là Tổ tiên của muôn loài đã sanh, sẽ sanh, tất cả mọi loài đều do ngài sanh ra. Những gì mà ngài biết là biết tường tận, những gì mà ngài thấy là thấy tường tận.


[0547b15] – Đại Tiên nhân! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào chán ghét, chê bai đất thì sau khi qua đời, người đó sẽ sanh trong chốn hạ tiện, làm thần kỹ nhạc. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ4 và Phạm thiên, nếu ai chán ghét Phạm thiên, chê bai Phạm thiên thì sau khi qua đời, người đó chắc chắn sẽ sanh trong chốn hạ tiện, làm thần kỹ nhạc. Đại Tiên nhân! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào ưa thích đất, ca ngợi đất thì sau khi qua đời, vị ấy sẽ sanh vào trong cõi trời Phạm thiên làm bậc Tối thượng. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ và Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì sau khi qua đời, vị ấy sẽ sanh trong cõi trời Phạm thiên làm bậc Tối thượng. Này Tiên nhân! Ông không thấy Phạm thiên này có hàng quyến thuộc lớn, như chúng tôi đang ngồi đây chăng?
Ma Ba-tuần kia chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng lại tự xưng mình là Phạm thiên.


Bấy giờ, đức Phật suy nghĩ: “Ma Ba-tuần chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng tự xưng mình là Phạm thiên. Nếu cho rằng có Ma Ba-tuần thì đây chính là Ma Ba-tuần.” Biết rõ rồi, đức Phật liền bảo:
– Này Ma Ba-tuần! Ngươi chẳng phải Phạm thiên, cũng chẳng phải quyến thuộc của Phạm thiên, nhưng ngươi tự xưng là Phạm thiên. Nếu cho rằng có Ma Ba-tuần thì đây chính là Ma Ba-tuần.
Lúc ấy, Ma Ba-tuần liền nghĩ: “Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã thấy ta.” Biết vậy nên Ba-tuần rất đỗi buồn rầu, liền biến khỏi nơi ấy.


[0547c03] Bấy giờ, Phạm thiên ấy đã thưa thỉnh Thế Tôn đến ba lần:
– Quý hóa thay, Đại Tiên nhân đã đến! Chốn này là thường còn, là nơi hằng hữu, là xứ tồn tại lâu dài, là chỗ thiết yếu, là nơi không bị hoại diệt, là chốn giải thoát; ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn.


Đức Phật cũng ba lần bảo Phạm thiên:
– Này Phạm thiên! Cái vô thường mà ông cho là thường; cái không hằng hữu mà ông cho là hằng hữu; cái không trường tồn mà ông cho là trường tồn; cái không thiết yếu mà ông cho là thiết yếu; pháp hoại diệt mà ông cho là không hoại diệt; cái không giải thoát mà ông cho là giải thoát và ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn. Này Phạm thiên! Ông quả thật vô minh. Này Phạm thiên! Ông quả thật vô minh. Lúc đó, Phạm thiên thưa Phật:
– Này Đại Tiên nhân! Thuở xưa có Sa-môn, Phạm chí tuổi thọ rất dài, sống rất lâu. Này Đại Tiên nhân! Tuổi thọ của ông quá ngắn, không bằng một khoảnh khắc ngồi yên của Sa-môn, Phạm chí kia. Vì sao như vậy? Vì những gì họ biết là biết rõ tường tận, những gì họ thấy là thấy rõ tường tận. Nếu thật sự có giải thoát thì ngoài sự giải thoát này ra không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn. Nếu thật sự không có giải thoát thì ngoài sự giải thoát này ra, không có sự giải thoát nào cao hơn, tối thắng, tối diệu, tối tôn hơn. Này Đại Tiên nhân! Đối với sự giải thoát ông nghĩ là không giải thoát, đối với sự không giải thoát ông nghĩ là giải thoát. Như vậy, ông sẽ không bao giờ được giải thoát mà trở thành kẻ đại ngu si. Vì sao như vậy? Vì sẽ không bao giờ có cảnh giới ấy.


Này Đại Tiên nhân! Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào ưa thích đất, ca ngợi đất thì vị ấy sẽ được tự tại bên ta, làm theo điều ta muốn, vâng theo lệnh của ta.5 Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ và Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy sẽ được tự tại bên ta, làm theo điều ta muốn, vâng theo lệnh của ta. Này Đại Tiên nhân! Nếu ông ưa thích đất, khen ngợi đất thì ông cũng sẽ được tự tại bên ta, làm theo điều ta muốn, vâng theo lệnh của ta. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ và Phạm thiên, nếu ông ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì ông sẽ được tự tại bên ta, làm theo điều ta muốn, vâng theo lệnh của ta.


Bấy giờ, đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Như vậy, những điều ông nói là sự thật rằng: “Nếu Sa môn, Phạm chí nào ưa thích đất, khen ngợi đất thì vị ấy sẽ được tự tại bên ông, làm theo điều ông muốn, vâng theo lệnh của ông. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ và Phạm thiên, nếu ai ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì vị ấy sẽ được tự tại bên ông, làm theo điều ông muốn, vâng theo lệnh của ông.” Này Phạm thiên! Nếu Ta ưa thích đất, ca ngợi đất thì Ta cũng sẽ được tự tại bên ông, làm theo điều ông muốn, vâng theo lệnh của ông. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ và Phạm thiên, nếu Ta ưa thích Phạm thiên, ca ngợi Phạm thiên thì Ta cũng sẽ được tự tại bên ông, làm theo điều ông muốn, vâng theo lệnh của ông.


[0548a07] – Này Phạm thiên! Nếu tám sự kiện6 này, Ta tùy theo mỗi việc mà ưa thích, ca ngợi thì những điều ấy cũng vẫn như vậy. Này Phạm thiên! Ta biết rõ ông từ đâu đến và sẽ đi về đâu, tùy chỗ ông đang sống, tùy nơi ông qua đời và tùy nơi ông tái sanh. Nếu có Phạm thiên thì Phạm thiên ấy có thần thông lớn,7 có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn.
Khi đó, Phạm thiên thưa Thế Tôn:
– Đại Tiên nhân! Làm thế nào mà ông biết được điều ta biết, thấy được điều ta thấy? Làm sao biết rõ về ta? Như mặt trời tự tại, tỏa ánh sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới. Trong một ngàn thế giới như vậy, ông có được tự tại không? Ông có biết nơi nào, chốn nào không có ngày đêm? Đại Tiên nhân có bao giờ qua lại các nơi ấy, hay đã nhiều lần đến đó chăng?


Bấy giờ, đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Như mặt trời tự tại, tỏa ánh sáng khắp nơi, bao trùm cả một ngàn thế giới. Trong ngàn thế giới như vậy, Ta được tự tại và cũng biết rõ chỗ này chỗ kia không có ngày đêm. Hơn nữa, Ta đã từng qua lại những nơi ấy, thậm chí qua lại rất nhiều lần. Này Phạm thiên! Có ba cõi trời là Quang thiên, Tịnh Quang thiên và Biến Tịnh Quang thiên. Nếu ba cõi trời ấy thấy điều gì, biết điều gì thì Ta cũng có biết, có thấy như vậy. Này Phạm thiên! Có những điều ba cõi trời đó không biết, không thấy, nhưng riêng Ta lại có biết, có thấy. Này Phạm thiên, những gì mà ba cõi trời ấy và các quyến thuộc có biết, có thấy thì Ta cũng có biết, có thấy. Trái lại, những gì mà ba cõi trời ấy và các quyến thuộc không biết, không thấy thì riêng Ta vẫn có biết, có thấy. Này Phạm thiên! Những gì ông biết, ông thấy thì Ta cũng biết, cũng thấy như vậy. Những gì mà ông không biết, không thấy thì riêng Ta vẫn biết, vẫn thấy. Những gì mà ông và quyến thuộc của ông có biết, có thấy thì Ta cũng có biết, có thấy. Những gì mà ông và quyến thuộc của ông không biết, không thấy thì riêng Ta vẫn biết, vẫn thấy. Này Phạm thiên! Ông không thể sánh bằng Ta về mọi mặt, cũng không thể sánh bằng Ta về trí thấy biết tường tận. Đối với ông, Ta là tối thượng, tối thắng.


[0548b01] Khi ấy, Phạm thiên thưa Thế Tôn:
– Này Đại Tiên nhân! Do đâu mà có việc ba cõi trời kia có biết, có thấy thì ông cũng có biết, có thấy? Nếu ba cõi trời kia không biết, không thấy thì riêng
 ông vẫn có biết, có thấy? Nếu ba cõi trời kia và quyến thuộc có biết, có thấy thì ông cũng có biết, có thấy? Nếu ba cõi trời kia và quyến thuộc không biết, không thấy thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Nếu ta biết, ta thấy gì thì ông cũng biết, cũng thấy như vậy; nếu ta không biết, không thấy thì riêng ông vẫn có biết, có thấy; nếu ta và quyến thuộc có biết, có thấy gì thì ông cũng có biết, có thấy như vậy; nếu ta và quyến thuộc không biết, không thấy thì riêng ông vẫn có biết, có thấy? Đại Tiên nhân, đây không phải là lời nói thân tình chăng? Khi hỏi xong, không biết có làm tăng thêm sự ngu si chăng? Vì sao như vậy? Vì thức tuy vô hình8 nhưng biết vô lượng, thấy vô lượng và phân biệt vô lượng. Còn ta thì chỉ biết rõ từng trường hợp, đó là, đất thì biết là đất, nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ, Phạm thiên thì biết là Phạm thiên.


Bấy giờ, đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đối với đất mà nghĩ tưởng về đất rằng: “Đất là ta, đất là của ta, ta thuộc về đất.” Khi vị ấy đã chấp đất là ta tức không biết rõ về đất. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên và Tịnh thiên mà nghĩ tưởng về Tịnh thiên rằng: “Tịnh thiên là ta, Tịnh thiên là của ta, ta thuộc về Tịnh thiên.” Khi đã chấp Tịnh thiên là ta thì vị ấy không biết rõ về Tịnh thiên.Này Phạm thiên! Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đối với đất mà biết là đất, “đất không phải là ta, đất không phải là của ta, ta không thuộc về đất.” Do vị ấy không chấp đất là ta nên biết rõ về đất. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên và Tịnh thiên biết là Tịnh thiên, “Tịnh thiên không phải là ta, Tịnh thiên không phải của ta, ta không thuộc về Tịnh thiên.” Do vị ấy không chấp Tịnh thiên là ta nên biết rõ về Tịnh thiên.


Này Phạm thiên! Ta đối với đất thì biết là đất, đất chẳng phải là Ta, đất chẳng phải của Ta, Ta không thuộc về đất. Do Ta không chấp đất là Ta nên Ta biết rõ về đất. Cũng vậy, đối với nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Tịnh thiên biết là Tịnh thiên, Tịnh thiên chẳng phải là Ta, Tịnh thiên chẳng phải của Ta, Ta chẳng thuộc về Tịnh thiên. Do Ta không chấp Tịnh thiên là Ta nên Ta biết rõ về Tịnh thiên.


Nghe vậy, Phạm thiên thưa đức Phật:
– Đại Tiên nhân! Chúng sanh này ai cũng ái trước hữu, ưa thích hữu, thân cận hữu. Chỉ có ông đã nhổ tận gốc rễ hữu. Vì sao như vậy? Vì ông là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.


  Phạm thiên liền nói kệ:
                Với hữu thấy lo sợ,                   Không hữu chẳng lo gì
                Thế nên không tham hữu,        Hữu dứt sạch chẳng nghi.


[0548c04] Này Đại Tiên nhân! Nay tôi muốn ẩn thân.


Đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Nếu ông muốn ẩn thân thì cứ làm điều ông muốn. Phạm thiên liền ẩn thân ngay nơi đó. Phật liền thấy và bảo:
– Này Phạm thiên! Ông ở chỗ kia, ông ở đây, ông ở giữa này!


Lúc đó, Phạm thiên vận dụng hết sức thần thông, muốn ẩn thân mà không thể ẩn nên hiện trở lại giữa cõi trời Phạm thiên. Đức Phật bảo:
– Này Phạm thiên! Nay Ta cũng muốn ẩn thân.


Phạm thiên thưa rằng:
– Này Đại Tiên nhân! Nếu Ngài muốn ẩn thân thì cứ tùy ý.


Lúc ấy, đức Phật nghĩ: “Nay Ta nên nhập chánh định rồi hiện các loại thần túc như: Phóng hào quang cực sáng, chiếu soi khắp cõi trời Phạm thiên, rồi ẩn thân trong đó, khiến cho các Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Ta.” Nghĩ xong, đức Phật nhập chánh định rồi hiện các loại thần túc như: Phóng hào quang cực sáng, chiếu soi khắp cõi trời Phạm thiên, rồi ẩn thân trong đó, khiến cho Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên chỉ nghe tiếng mà không thấy hình Phật. Bấy giờ, Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên đều nghĩ rằng: “Sa-môn Cù-đàm thật là kỳ diệu, thật là đặc thù! Ngài có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai thần lớn. Vì sao như vậy? Vì Ngài đã phóng hào quang cực sáng, chiếu soi khắp cõi trời Phạm thiên, rồi tự ẩn thân trong đó, khiến chúng ta và quyến thuộc chỉ nghe tiếng mà không thấy hình.”


Lúc ấy, đức Phật lại nghĩ: “Ta đã cảm hóa các Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên. Nay Ta hãy thu hồi thần túc.” Nghĩ xong, Ngài liền thu hồi thần túc, hiện ra giữa cõi trời Phạm thiên. Bấy giờ, Ma vương cũng xuất hiện hai, ba lần trong chúng Phạm thiên. Thấy vậy, Ma vương liền thưa Phật:
– Đại Tiên nhân, ông thật khéo thấy, khéo biết, khéo thông đạt, nhưng ông chớ nên giáo huấn, chớ nên dìu dắt đệ tử, cũng chớ nên nói pháp cho đệ tử nghe, chớ dính mắc vào đệ tử. Vì nếu bị dính mắc vào đệ tử thì khi qua đời sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc, hãy sống vô vi, hưởng thọ an lành trong đời hiện tại. Vì sao như vậy? Thưa Đại Tiên nhân! Vì tất cả những điều đó sẽ gây phiền phức vô ích cho mình. Này Đại Tiên nhân! Xưa kia có Sa-môn, Phạm chí giáo huấn đệ tử, răn dạy đệ tử, thuyết pháp cho đệ tử nghe, yêu mến và dính mắc đệ tử. Do vì luyến ái đệ tử mà khi qua đời, vị ấy đã sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc. Vì thế ta bảo ông chớ nên giáo huấn, dìu dắt đệ tử, cũng chớ nói pháp cho đệ tử nghe, chớ dính mắc đệ tử. Vì nếu bị dính mắc vào đệ tử thìkhi qua đời sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc, hãy sống vô vi, hưởng thọ an lành trong đời hiện tại. Vì sao như vậy? Thưa Đại Tiên nhân, vì chúng sẽ gây phiền phức vô ích cho mình.

[0549a07] Lúc đó, đức Phật bảo:
– Này Ma Ba-tuần! Ngươi chẳng phải vì mong cầu nghĩa lợi9 cho Ta, chẳng phải vì đem lợi ích cho Ta, chẳng phải vì đem đến niềm vui cho Ta, chẳng phải đem đến sự an ổn cho Ta mà nói: “Chớ nên giáo huấn, chớ nên dìu dắt đệ tử, cũng chớ nên nói pháp cho đệ tử nghe, chớ dính mắc vào đệ tử. Vì nếu bị dính mắc vào đệ tử thì khi qua đời sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc, hãy sống vô vi, hưởng thọ an lành trong đời hiện tại. Vì sao như vậy? Thưa Đại Tiên nhân, vì tất cả những điều đó sẽ gây phiền phức vô ích cho mình.” Này Ma Ba-tuần! Ta biết ngươi đang nghĩ rằng “Sa-môn Cù-đàm này nói pháp cho đệ tử nghe, sau khi nghe xong, các đệ tử ấy sẽ ra khỏi cảnh giới của ta.” Này Ma Ba-tuần, vì thế nên ngươi nói với Ta: “Chớ nên giáo huấn, chớ nên dìu dắt đệ tử, cũng chớ nên nói pháp cho đệ tử nghe, chớ dính mắc vào đệ tử. Vì nếu bị dính mắc vào đệ tử thì khi qua đời sẽ sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc, hãy sống vô vi, hưởng thọ an lành trong đời hiện tại. Vì sao như vậy? Thưa Đại Tiên nhân, vì tất cả những điều đó sẽ gây phiền phức vô ích cho mình.”


Này Ma Ba-tuần! Nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào đã giáo huấn dìu dắt đệ tử, nói pháp cho đệ tử nghe và luyến ái đệ tử; vì luyến ái đệ tử mà khi qua đời, vị ấy đã sanh vào nơi thấp kém, làm thần kỹ nhạc thì Sa-môn hay Phạm chí ấy chẳng phải là Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn, chẳng phải Phạm chí mà tự xưng là Phạm chí, chẳng phải A-la-hán mà tự xưng là A-la-hán, chẳng phải Đẳng Chánh Giác mà tự xưng là Đẳng Chánh Giác.


Này Ma Ba-tuần! Ta đúng là Sa-môn mới xưng là Sa-môn, đúng là Phạm chí mới xưng là Phạm chí, đúng là A-la-hán mới xưng là A-la-hán, đúng là bậc Đẳng Chánh Giác mới xưng là Đẳng Chánh Giác. Thế nên, nếu Ta có nói pháp hay không nói pháp cho đệ tử Ta nghe thì ngươi cũng hãy đi đi. Nay Ta tự biết nên nói pháp hay không nên nói pháp cho đệ tử nghe.


Đó là sự thỉnh cầu của Phạm thiên, là sự chống đối của Ma Ba-tuần, là sự tùy thuận thuyết pháp của Như Lai. Thế nên kinh này đặt tên là “Phạm thiên thỉnh Phật.”


Đức Phật dạy như vậy, Phạm thiên và quyến thuộc của Phạm thiên nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú thích:

1Quyển 19. Nguyên tác: Phạm Thiên thỉnh Phật kinh 梵天請佛經 (T.01. 0026.78. 0547a09). Tham chiếu: M. 49, Brahmanimantanika Sutta (Kinh Phạm thiên cầu thỉnh).
 2Nguyên tác: Tha tâm trí (他心智, Cetopariyañāṇaṃ). Tham chiếu: M. 49: Bakassa brahmuno cetasā cetoparivitakkamaññāya (sau khi với tự tâm biết được tâm của Phạm thiên Baka), HT. Thích Minh Châu dịch.
3Như kỳ tượng định (如其像定). Theo Pāli-Hán từ điển (巴漢詞典) do Minh Pháp Tôn giả (明法尊者) hiệu đính, “như kỳ tượng định” (如其像定) có nghĩa là giống như hình tượng bất động rồi nhập định (好 像雕像不動而入定).

4Sanh chủ (生主, Sahampati): Đấng Sáng tạo. 
5Tham chiếu: M. 49: Này Tỷ-kheo, nếu ông y trước địa đại, ông sẽ gần Ta, trú tại lãnh địa của Ta, làm theo ý Ta muốn, bị đứng ngoài lề (HT. Thích Minh Châu dịch)
6Bát sự (八事) gồm: đất, nước, lửa, gió, quỷ thần, chư thiên, Sanh chủ, Phạm thiên (paṭhavī, āpa, tejo, vāyo, bhūta, deva, Pajāpati, Brahmā).
7 Nguyên tác: Đại như ý túc (大如意足)
8Nguyên tác: Thức vô lượng cảnh giới (識無量境界). DĀ. 24 ghi: Thức vô hình, vô lượng tự hữu quang (識無形, 無量自有光). D. 11 và M. 49 cho rằng: Thức không hiển hiện, vô biên và chiếu soi rực rỡ tất cả (viññāṇaṃ anidassanaṃ anantaṃ sabbato pabhaṃ). Trong một số trường hợp thuộc Kinh tạng Nikāya, 3 chữ tâm, ý và thức được sử dụng qua lại. Thức (viññāṇa) trong trường hợp này cũng được hiểu như là tâm (citta). Tham chiếu: A. 1.51 - I. 11: Pabhassaramidaṃ, bhikkhave, cittaṃ, tañca kho āgantukehi upakkilesehi upakkiliṭṭhaṃ (Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói, nhưng bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào), HT. Thích Minh Châu dịch 
9Nguyên tác: Cầu nghĩa (求義), viết tắt của “cầu nghĩa cập nhiêu ích” (求義及饒益): Lợi lộc hữu ích. Pāli: Attha, thường được sử dụng trong 2 nghĩa phổ biến, tức “ý nghĩa và ích lợi."

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.