Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa Sa-kê-đế,2 ngụ trong rừng Thanh.3
Bấy giờ, tại Sa-kê-đế có ba thiện nam là Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tỳ-la, đều là những thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng sống trong Chánh pháp này chưa bao lâu.
Lúc ấy, đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo:
– Ba thiện nam này đều là những thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng sống trong Chánh pháp này chưa bao lâu. Ba thiện nam ấy có an vui thực hành Phạm hạnh trong giáo pháp này chăng?
Khi đó, các Tỳ-kheo im lặng, không trả lời.
Đức Phật lại hỏi đến lần thứ ba:
– Ba thiện nam này đều là những thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng sống trong Chánh pháp này chưa bao lâu. Ba thiện nam ấy có an vui thực hành Phạm hạnh trong giáo pháp này chăng?
Khi ấy, các Tỳ-kheo cũng ba lần im lặng, không đáp.
[0544c04] Thế rồi, đức Phật đích thân hỏi ba thiện nam. Ngài hỏi Tôn giả A-na-luật-đà:
– Ba thiện nam các thầy đều ở tuổi thiếu niên, mới xuất gia học đạo, cùng sống trong Chánh pháp này chưa bao lâu. Này A-na-luật-đà! Các thầy có an vui thực hành Phạm hạnh trong giáo pháp này chăng? Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
– Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Chúng con rất an vui thực hành Phạm hạnh trong giáo pháp này.
Đức Phật lại hỏi:
– Này A-na-luật-đà! Lúc các thầy còn nhỏ, là những đứa trẻ ấu thơ, trong trắng, tóc đen, thân thể cường tráng, ưa thích chơi đùa, ưa thích tắm gội, luôn trau chuốt thân mình. Khi lớn lên, bà con thân thích và cha mẹ các thầy đều thương yêu lưu luyến, khóc lóc thảm thiết, không muốn cho các thầy xuất gia học đạo. Vậy mà các thầy đã quyết chí cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với lòng tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Này A-na-luật-đà! Các thầy không phải vì sợ vua chúa mà xuất gia học đạo, cũng không phải vì sợ giặc cướp, không phải vì sợ nợ nần, không vì sợ khủng bố, không vì sợ nghèo khổ không đủ để nuôi sống mà xuất gia học đạo mà chỉ vì chán ghét sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, sầu khổ, hoặc chỉ vì muốn chấm dứt tận cùng khối khổ lớn này nên xuất gia học đạo. Này A-na-luật-đà! Các thầy không vì những tâm niệm như vậy mà xuất gia học đạo chăng?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
– Bạch Thế Tôn! Quả thật như vậy.
– Này A-na-luật-đà! Nếu người thiện nam với tâm niệm như thế mà xuất gia học đạo thì do đâu mà biết là sẽ chứng đắc Vô thượng pháp lành? Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật liền bảo:
– Này A-na-luật-đà! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ giảng giải nghĩa đó cho các thầy. A-na-luật-đà cùng các Tôn giả khác vâng lời lắng nghe.
Đức Phật dạy:
– Này A-na-luật-đà! Nếu ai bị dục che kín, bị pháp ác trói buộc thì sẽ không được xả, lạc và sự tịch tĩnh vô thượng. Tâm của vị ấy sẽ sanh ra tham muốn, sân hận, hôn trầm, tâm sanh buồn chán, thân sanh mệt mỏi, ăn nhiều, lòng sầu não. Tỳ-kheo ấy sẽ không nhẫn chịu được sự đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, không thể nhẫn chịu khi nghe nói xấu hay bị đánh đập, không thể nhẫn chịu được khi thân mắc phải các căn bệnh đau đớn gần như mạng chung hay gặp những cảnh ngộ không vừa lòng. Vì sao như vậy? Vì vị ấy bị dục che kín, bị pháp ác trói buộc, không được xả, lạc và sự tịch tĩnh vô thượng. Trái lại, nếu lìa dục, không bị pháp ác trói buộc, sẽ đạt đến xả ly, an lạc và tịch tĩnh vô thượng. Tâm vị ấy không sanh tham muốn, sân hận, hôn trầm, tâm sanh vui thích, thân không sanh mệt mỏi, cũng không ăn nhiều, tâm không sầu não. Tỳ-kheo ấy nhẫn chịu được sự đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi nhặng, gió nắng bức bách, cũng có thể nhẫn chịu được khi nghe mắng chửi hay bị đánh đập, thân dù mắc phải những căn bệnh đau đớn gần như mạng chung hay gặp những cảnh ngộ không vừa lòng, thảy đều kham nhẫn được. Vì sao như vậy? Vì vị ấy không bị dục che kín, không bị pháp ác trói buộc, lại đạt đến xả ly, an lạc và tịch tĩnh vô thượng.
[0545a10] Đức Phật hỏi:
– Này A-na-luật-đà! Vì ý nghĩa gì mà Như Lai nói có thứ phải đoạn trừ, có thứ phải thọ dụng, có thứ phải nhẫn chịu, có thứ phải ngăn dừng, có thứ phải nhổ ra? 4
A-na-luật-đà thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý! Đức Phật liền bảo:
– Này A-na-luật-đà! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ giảng giải nghĩa đó cho các thầy. A-na-luật-đà cùng các Tôn giả khác vâng lời lắng nghe. Đức Phật dạy:
– Này A-na-luật-đà! Các phiền não, nhiễm ô là gốc rễ của sự hiện hữu trong tương lai, là cái nhân của quả khổ nóng bức sanh, già, bệnh, chết. Chẳng phải Như Lai chưa diệt hết, chẳng phải không biết mà có thứ phải đoạn trừ, có thứ phải thọ dụng, có thứ phải nhẫn chịu, có thứ phải ngăn dừng, có thứ phải nhổ ra. Này A-na-luật-đà! Như Lai chỉ vì nhân nơi thân này, nhân nơi sáu xứ, nhân nơi thọ mạng mà có thứ phải đoạn trừ, có thứ phải thọ dụng, có thứ phải nhẫn chịu, có thứ phải ngăn dừng, có thứ phải nhổ ra. Này A-na-luật! Như Lai vì những nghĩa này mà nói có thứ phải đoạn trừ, có thứ phải thọ dụng, có thứ phải nhẫn chịu, có thứ phải ngăn dừng, có thứ phải nhổ ra.
Đức Phật hỏi:
– Này A-na-luật-đà! Vì ý nghĩa gì mà Như Lai sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên như thế?
Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật bảo:
– Này A-na-luật-đà! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ giảng giải nghĩa đó cho các thầy.
Lúc đó, A-na-luật-đà cùng các Tôn giả khác vâng lời lắng nghe.
[0545b02] Đức Phật dạy:
– Này A-na-luật-đà! Chẳng phải vì muốn đạt được những gì chưa đạt được, vì muốn thu hoạch những gì chưa thu hoạch, vì muốn chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ mà Như Lai sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú dưới gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận tĩnh tọa. Này A-na-luật-đà! Như Lai chỉ vì hai mục đích sau đây nên mới sống nơi vô sự, ở trong rừng núi, trú dưới gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên. Một là tự mình sống an lạc ngay trong đời hiện tại. Hai là vì thương xót chúng sanh ở đời sau. Hoặc ở đời sau, sẽ có người học theo hạnh Như Lai, sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú bên gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên. Này A-na-luật-đà! Vì những mục đích ấy mà Như Lai sống nơi thanh vắng, ở trong rừng núi, trú dưới gốc cây, sống ở non cao, không một tiếng động, với hạnh viễn ly, không có điều xấu, không một bóng người, tùy thuận ngồi yên.
Đức Phật hỏi:
– Này A-na-luật-đà! Vì ý nghĩa gì mà khi các đệ tử qua đời, Như Lai ghi nhận vị này sanh ở cõi này, vị kia sanh ở cõi kia? Tôn giả A-na-luật-đà thưa:
– Kính bạch Thế Tôn! Thế Tôn là cội nguồn của giáo pháp, Thế Tôn là Pháp Chủ, giáo pháp y cứ nơi Thế Tôn. Kính mong Ngài thuyết giảng giáo pháp, sau khi nghe xong, chúng con sẽ hiểu rõ nghĩa lý!
Đức Phật bảo:
– Này A-na-luật-đà! Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ, Ta sẽ giảng giải nghĩa đó cho các thầy. Lúc đó, A-na-luật-đà cùng các Tôn giả khác vâng lời và lắng nghe.
Đức Phật bảo:
– Này A-na-luật-đà! Khi đệ tử qua đời, Như Lai ghi nhận vị này sinh chỗ này, vị kia sinh chỗ kia. Như Lai nói điều đó không phải vì xúi giục5 người, cũng không phải vì dối gạt người và cũng không phải vì muốn làm vui lòng người. Này A-na-luật-đà! Như Lai chỉ vì các thanh tín nam và thanh tín nữ,6 với niềm tin tha thiết, với lòng kính mến cao tột, khởi lòng hoan hỷ cao thượng, sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Cho nên, khi đệ tử qua đời, Như Lai ghi nhận vị này sẽ sanh ở cõi này, vị kia sẽ sanh ở cõi kia.
Nếu Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả ấy qua đời nơi ấy, vị đó được Phật ghi nhận đã chứng đắc Trí cứu cánh,7 biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Hoặc Tỳ-kheo kia chính mắt thấy Tôn giả kia, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tôn giả ấy có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo kia nghe xong ghi nhớ: “Tôn giả ấy có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy”, sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo đó chắc chắn được an trú trong an vui.
[0545c04] Lại nữa, này A-na-luật-đà! Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả kia qua đời nơi đó, vị đó được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết sử,8 sanh vào nơi kia rồi nhập Niết-bàn, được pháp không thoái giảm, không còn trở lại đời này nữa. Hoặc Tỳ-kheo ấy chính mắt thấy Tôn giả kia, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo ấy nghe xong ghi nhớ “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy”, sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả kia qua đời ở nơi ấy, vị đó được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử,9 giảm thiểu tham, sân, si, chỉ một lần trở lại cõi trời hay cõi người. Sau một lần trở lại thì vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc Tỳ-kheo ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo ấy nghe xong ghi nhớ: “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy”, sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Tỳ-kheo nào nghe Tôn giả kia qua đời ở nơi ấy, vị đó được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn rơi vào đường ác, nhất định thành tựu Chánh giác, tối đa bảy lần thọ sanh trở lại. Sau bảy lần thọ sanh qua lại ở cõi trời hay cõi người, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc Tỳ-kheo ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo ấy nghe xong ghi nhớ: “Tôn giả kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo đó chắc chắn được an trú trong an vui. Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe Tỳ-kheo-ni kia qua đời ở nơi đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã chứng đắc Trí cứu cánh, biết đúng như thật: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Hoặc Tỳ-kheo-ni ấy chính mắt thấy hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo-ni ấy nghe rồi ghi nhớ: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được an trú trong an vui.
[0546a08] Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe Tỳ-kheo-ni kia qua đời ở nơi đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết sử, sanh vào nơi kia10 rồi nhập Niết-bàn, được pháp không thoái giảm, không còn trở lại cõi này nữa. Hoặc Tỳ-kheo-ni ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo-ni ấy nghe rồi ghi nhớ: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe Tỳ-kheo-ni qua đời ở nơi đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, giảm thiểu tham, sân, si, chỉ còn một lần trở lại ở cõi trời hay cõi người. Sau một lần trở lại, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc Tỳ-kheo-ni ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo-ni ấy nghe rồi ghi nhớ: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu Tỳ-kheo-ni nào nghe Tỳ-kheo-ni kia qua đời ở nơi đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào đường ác, nhất định thành tựu Chánh giác, tối đa bảy lần thọ sanh trở lại. Sau bảy lần thọ sanh trở lại ở cõi trời hay cõi người, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc Tỳ-kheo-ni ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Tỳ-kheo-ni ấy nghe rồi ghi nhớ: “Tỳ-kheo-ni kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, Tỳ-kheo-ni đó chắc chắn được an trú trong an vui.
[0546b04] Này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-tắc nào nghe vị ưu-bà-tắc kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết sử, sanh vào nơi kia rồi nhập Niết-bàn, được pháp không thoái giảm, không còn trở lại đời này nữa. Hoặc ưu-bà-tắc ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Nghe xong, ưu-bà-tắc ấy ghi nhớ: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới, học rộng nghe nhiều, bố thí và trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-tắc đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-tắc nào nghe ưu-bà-tắc kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, giảm thiểu tham, sân, si, chỉ còn một lần trở lại cõi trời hay cõi người. Sau một lần trở lại, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc ưu-bà-tắc ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng nghe nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Nghe xong, ưu-bà-tắc ấy ghi nhớ: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới, học rộng nghe nhiều, bố thí và trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-tắc đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-tắc nào nghe ưu-bà-tắc kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào đường ác, nhất định thành tựu Chánh giác, tối đa bảy lần thọ sanh trở lại. Sau bảy lần thọ sanh trở lại ở cõi trời hay cõi người, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc ưu-bà-tắc ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Ưu-bà-tắc ấy nghe rồi ghi nhớ: “Ưu-bà-tắc kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-tắc đó chắc chắn được an trú trong an vui.
[0546c01] Này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-di11 nào nghe ưu-bà-di kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch năm hạ phần kiết sử, sanh vào nơi kia rồi nhập Niết-bàn, được pháp không thoái giảm, không còn trở lại đời này nữa. Hoặc ưu-bà-di ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Ưu-bà-di ấy nghe rồi ghi nhớ: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-di đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-di nào nghe ưu-bà-di kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, giảm thiểu tham, sân, si, chỉ còn một lần trở lại cõi trời hay cõi người. Sau một lần trở lại nữa, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc ưu-bà-di ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Ưu-bà-di ấy nghe rồi ghi nhớ: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-di đó chắc chắn được an trú trong an vui. Lại nữa, này A-na-luật-đà! Nếu ưu-bà-di nào nghe ưu-bà-di kia qua đời ở thôn đó, vị ấy được Phật ghi nhận đã dứt sạch ba kiết sử, chứng quả Tu-đà-hoàn, không còn đọa vào đường ác, nhất định thành tựu Chánh giác, tối đa bảy lần thọ sanh trở lại. Sau bảy lần thọ sanh trở lại ở cõi trời hay cõi người, vị ấy chấm dứt khổ đau. Hoặc ưu-bà-di ấy chính mắt thấy, hoặc nhiều lần nghe người khác kể lại rằng: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Ưu-bà-di ấy nghe rồi ghi nhớ: “Ưu-bà-di kia có niềm tin như vậy, giữ giới như vậy, học rộng hiểu nhiều như vậy, bố thí như vậy, trí tuệ như vậy.” Sau khi nghe giáo pháp này xong, liền phát tâm noi theo như vậy, như vậy. Này A-na-luật-đà! Như vậy, ưu-bà-di đó chắc chắn được an trú trong an vui.
Này A-na-luật-đà! Vì những ý nghĩa ấy nên khi đệ tử qua đời, Như Lai đã ghi nhận vị này sẽ sanh vào cõi này, vị kia sẽ sanh vào cõi kia. Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo kia nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.12
Chú thích:
1 Nguyên tác: Sa-kê-đế tam tộc tánh tử kinh 娑雞帝三族姓子經 (T.01. 0026.77. 0544b21). Tham chiếu: M. 68, Naḷakapāna Sutta (Kinh Naḷakapāna).
2 Sa-kê-đế (娑雞帝, Sāketa), một trong 6 thành phố lớn ở Ấn Độ thời cổ đại, thuộc Kosala, cách Sāvatthi khoảng 7 do-tuần.
3 Thanh lâm (青林, Palāsavana), một khu rừng gần làng Naḷakapāna.
4 Nguyên tác: Hoặc hữu sở trừ, hoặc hữu sở dụng, hoặc hữu sở kham, hoặc hữu sở chỉ, hoặc hữu sở thổ (或有所除, 或有所用, 或有所堪, 或有所止, 或有所吐). Tham chiếu: M. 68: Saṅkhāyekaṃ paṭisevati saṅkhāyekaṃ adhivāsati saṅkhāyekaṃ parivajjati saṅkhāyekaṃ vinodeti (Sau khi suy tư phân tích, thọ dụng một pháp; sau khi suy tư phân tích, nhẫn thọ một pháp; sau khi suy tư phân tích, từ bỏ một pháp, sau khi suy tư phân tích, đoạn trừ một pháp), HT. Thích Minh Châu dịch.
5 Nguyên tác: Thú (趣), dùng như “thôi thúc” (催促), mang nghĩa xúi giục, thúc giục.
6 Nguyên tác: Thanh tín tộc tánh nam, tộc tánh nữ (清信族姓男, 族姓女), còn gọi là “thanh tín sĩ” (清 信士, upāsaka) và “thanh tín nữ” (清信女, upāsikā), những người đã quy y Tam bảo và thọ trì năm giới.
7 Nguyên tác: Cứu cánh trí (究竟智, Sammadaññā). Xem chú thích 10, kinh số 74, tr. 493. 8 Ngũ hạ phần kiết (五下分結, pañca orambhāgiyāni saṁyojanāni): Năm loại phiền não trói buộc và sai sử chúng sanh trong Dục giới, gồm: tham dục (貪欲, kāmarāga), sân khuể (瞋恚, vyāpāda), thân kiến (身見, sakkāyadiṭṭhi), giới cấm thủ (戒禁取, sīlabbataparāmāsa) và nghi (疑, vicikicchā). 9 Ba kiết (三結, tīṇi saṁyojanāni) đó là thân kiến, giới cấm thủ và nghi.
10 Sanh ư bỉ gian (生於彼間) chỉ cho ngũ Bất Hoàn thiên (五不還天) hay ngũ Tịnh Cư thiên (五浄居 天, Suddhāvāsa), gồm: Vô Phiền (無煩, Āviha), Vô Nhiệt (無熱, Ātappa), Thiện Kiến (善見, Sudassī), Thiện Hiện (善現, Sudassa), A-ca-nị-trá (阿迦膩吒, Akaṇiṭṭha).
11 Nguyên tác: Ưu-bà-tư (優婆私), tức là “ưu-bà-di” (優婆夷), còn được dịch là “cận sĩ nữ” (近士女), “cận sự nữ” (近事女), “thanh tín nữ” (清信女).
12 Bản Hán, hết quyển 18.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.