Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Câu-lâu, ngụ tại thị trấn Kiếmma-sắt-đàm, thuộc nước Câu-lâu.[2]
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Dục là vô thường, không thật, giả dối; đã là pháp giả dối thì huyễn hóa, dối gạt, ngu si. Dù dục đời này hay dục đời sau, hoặc sắc đời này hay sắc đời sau, tất cả những thứ ấy đều thuộc về cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Do đây mà khiến tâm sanh vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam,[3] sân hận, đấu tranh... làm chướng ngại cho sự tu học của vị Thánh đệ tử.
Vị Thánh đệ tử đa văn nên quán sát như vầy: “Thế Tôn dạy rằng ‘dục là vô thường, không thật, giả dối; đã là pháp giả dối thì huyễn hóa, dối gạt, ngu si. Dù dục đời này hay dục đời sau, hoặc sắc đời này hay sắc đời sau, tất cả những thứ ấy đều thuộc về cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Do đây mà khiến tâm sanh vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân hận, đấu tranh... làm chướng ngại cho sự tu học của vị Thánh đệ tử.”’
Vị ấy lại suy nghĩ như vầy: “Ta có thể đạt đến tâm rộng khắp, thành tựu và an trú, chinh phục thế gian,[4] giữ gìn tâm ấy.5 Nếu ta đạt đến tâm rộng khắp, thành tựu và an trú, chinh phục thế gian, giữ gìn tâm ấy, như vậy tâm sẽ không sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân hận và đấu tranh... làm chướng ngại cho sự tu học của vị Thánh đệ tử.” Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh.[5] Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà đạt

được sự không lay chuyển,[6] hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến sự không lay chuyển. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ nhất đưa đến sự thanh tịnh không lay chuyển.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Những gì là sắc, tất cả sắc ấy là bốn đại và do bốn đại tạo thành. Bốn đại chính là pháp vô thường, là khổ, là diệt.” Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà đạt được sự không lay chuyển, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến sự không lay chuyển. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ hai đưa đến sự thanh tịnh không lay chuyển.
[0542c02] Lại nữa, các vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Dù dục đời này hay dục đời sau, dù sắc đời này hay sắc đời sau, dù tưởng về dục đời này hay tưởng về dục đời sau, dù tưởng về sắc đời này hay tưởng về sắc đời sau thì tất cả tưởng ấy đều là pháp vô thường, là khổ, là diệt.” Bấy giờ, vị ấy đạt được sự không lay chuyển. Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà đạt được sự không lay chuyển, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến sự không lay chuyển. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ ba đưa đến sự thanh tịnh không lay chuyển.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Dù là tưởng về dục đời này hay tưởng về dục đời sau, dù là tưởng về sắc đời này hay tưởng về sắc đời sau và tưởng về sự không lay chuyển thì tất cả những tưởng ấy đều là pháp vô thường, là khổ, là diệt.” Bấy giờ, vị ấy đạt được tưởng Vô sở hữu xứ.[7] Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi thì vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà được thể nhập vào cõi Vô Sở Hữu Xứ, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn sẽ đạt đến cõi Vô Sở Hữu Xứ. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ nhất đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Sở Hữu Xứ.[8]
Lại nữa, vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Thế gian này là không, không có cái ta, không có cái của ta, không thường, không hằng, không trường tồn, không có gì không biến đổi.” Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà được thể nhập vào cõi Vô Sở Hữu, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến cõi Vô Sở Hữu. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ hai đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Sở Hữu.
Lại nữa, vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Ta không phải do cái khác tạo ra mà có, cũng không phải do tự mình mà có.”[9] Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà được thể nhập vào cõi Vô Sở Hữu, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến cõi Vô Sở Hữu. Đó gọi là phương pháp thực hành thứ ba đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Sở Hữu.
[0543a01] Lại nữa, vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Dù là dục đời này hay dục đời sau, dù là sắc đời này hay sắc đời sau, dù là tưởng về dục đời này hay tưởng về dục đời sau, dù là tưởng về sắc đời này hay tưởng về sắc đời sau, tưởng về sự không lay chuyển và tưởng Vô sở hữu xứ thì tất cả tưởng ấy đều là pháp vô thường, là khổ, là diệt.” Bấy giờ, vị ấy đạt được Vô tưởng. Vị ấy bằng sự thực hành như thế, học như thế, tu tập như thế, rồi làm cho rộng khắp, liền nhân đó mà được tâm thanh tịnh. Khi tâm đã được thanh tịnh rồi, vị ấy hoặc ở ngay nơi đó mà được nhập Vô tưởng, hoặc nhờ trí tuệ mà được giải thoát. Về sau, khi vị ấy qua đời, nhờ tâm thanh tịnh đã đạt được trước đó nên chắc chắn đạt đến cõi Vô Tưởng. Đó gọi là phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Tưởng.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan đang cầm quạt đứng hầu đức Phật. Tôn giả liền chắp tay hướng về Ngài thưa:
Bạch Thế Tôn! Nếu có Tỳ-kheo nào thực hành như vầy: “Không có cái ta, không có cái của ta; cái ta không tồn tại ở tương lai, cái của ta không tồn tại ở tương lai, những gì chấp thủ trước kia nay đều buông xả hết.” Thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo thực hành như thế, vị ấy đã buông xả tất cả thì có chứng đắc Cứu cánh Niết-bàn chăng?
Đức Phật bảo:
Này A-nan! Việc ấy không nhất định, có người chứng đắc, có người không chứng đắc.
Tôn giả A-nan lại thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo thực hành pháp nào mà không chứng đắc Niết-bàn?
Đức Phật bảo:
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo thực hành như vầy: “Không có cái ta, không có cái của ta; cái ta không tồn tại ở tương lai, cái của ta không tồn tại ở tương lai, những gì chấp thủ trước kia nay đều buông xả hết.” Nhưng này A-nan, nếu Tỳ-kheo ấy vui thích với sự buông xả ấy, dính mắc nơi sự buông xả ấy, an trú vào sự buông xả ấy, A-nan, Tỳ-kheo thực hành như vậy chắc chắn không chứng đắc Niết-bàn.
Tôn giả A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo nào có chấp thủ thì không đắc Niết-bàn chăng?
Đức Phật bảo:
Đúng vậy, A-nan! Nếu Tỳ-kheo có chấp thủ thì sẽ không đắc Niết-bàn.
Tôn giả A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo ấy chấp thủ bởi pháp nào?
Đức Phật bảo:
Này A-nan! Trong những cõi hữu dư thì cõi trời Hữu Tưởng Vô Tưởng[10] là hơn hết trong ba cõi. Tỳ-kheo còn chấp thủ ở đó.
Tôn giả A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo ấy còn chấp vào pháp nào khác nữa chăng?
Đức Phật bảo:
Đúng như thế, Tỳ-kheo ấy còn chấp thủ vào các pháp khác nữa.
Tôn giả A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo phải tu hành như thế nào mới chắc chắn đắc Niết-bàn?
Đức Phật bảo:
Này A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào thực hành như vầy: “Không có cái ta, không có cái của ta; cái ta không tồn tại ở tương lai, cái của ta không tồn tại ở tương lai, những gì chấp thủ trước kia nay đều buông xả hết.” A-nan, nếu Tỳ-kheo không vui thích với sự buông xả ấy, không dính mắc nơi sự buông xả ấy, không bám trụ vào sự buông xả ấy, thì này A-nan, Tỳ-kheo thực hành như vậy, chắc chắn sẽ chứng đắc Niết-bàn.
[0543b03] Tôn giả A-nan thưa:
Bạch Thế Tôn! Nếu Tỳ-kheo không chấp thủ vào đâu cả thì chắc chắn đắc Niết-bàn chăng?
Đức Phật bảo:
Đúng vậy, A-nan! Nếu Tỳ-kheo nào không chấp thủ vào đâu cả thì chắc chắn đắc Niết-bàn.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan chắp tay hướng về đức Phật và thưa:
Bạch Thế Tôn! Ngài đã nói về phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh không lay chuyển, đã nói về phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Sở Hữu Xứ, đã nói về phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Tưởng, đã nói về phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô dư Niết-bàn. Thưa Thế Tôn! Thế nào là sự giải thoát của bậc Thánh?
Đức Phật bảo:
Này A-nan! Vị Thánh đệ tử đa văn quán sát như vầy: “Dù là dục đời này hay dục đời sau; dù là sắc đời này hay sắc của đời sau; dù tưởng về dục đời này hay tưởng về dục đời sau; dù tưởng về sắc đời này hay tưởng về sắc đời sau, tưởng về sự không lay chuyển, tưởng Vô sở hữu xứ và tưởng Vô tưởng thì tất cả các tưởng ấy đều là pháp vô thường, là khổ, là hoại diệt; đó gọi là hữu thân.[11] Nếu là hữu thân thì đó là sanh, là già, là bệnh, là chết. Này A-nan! Nếu còn có pháp này thì phải diệt trừ sạch, không để sót lại gì, không để phát sanh trở lại; như vậy sẽ không sanh, không già, không bệnh, không chết. Bậc Thánh quán sát như vậy, nếu còn có điều gì thì đó chính là pháp giải thoát; nếu có điều gì bất tử[12] thì đó chính là Vô dư Niết-bàn.” Vị nào quán như vậy, thấy như vậy, chắc chắn được tâm giải thoát khỏi dục lậu, tâm giải thoát khỏi hữu lậu và vô minh lậu; giải thoát rồi liền biết đã giải thoát và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Này A-nan! Nay Ta vì thầy mà đã nói phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh không lay chuyển, đã nói phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Sở Hữu Xứ, đã nói phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô Tưởng, đã nói phương pháp thực hành đưa đến sự thanh tịnh cõi Vô dư Niết-bàn, đã nói về sự giải thoát của bậc Thánh. Như bậc Tôn Sư với tâm đại bi, đoái tưởng, thương xót, mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan cho chúng đệ tử, những điều ấy Ta nay đã làm xong. Các thầy hãy tự mình thực hành, hãy đến nơi vắng vẻ, đến bên gốc cây thanh vắng yên tĩnh, ngồi lặng lẽ mà tư duy, chớ có buông lung, hãy nỗ lực tinh tấn, chớ hối tiếc về sau. Đây là lời răn dạy của Ta, đó là lời giáo huấn của Ta.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
[1] Nguyên tác: Tịnh bất động đạo kinh 淨不動道經 (T.01. 0026.75. 0542b03). Tham chiếu: M. 106, Āneñjasappāya Sutta (Kinh bất động lợi ích).
[2] Câu-lâu đô ấp (拘樓都邑). Xem chú thích 3, kinh số 10, tr. 55.
[3] Tăng tứ (增伺). Bản kinh Pāli tương đương là M. 106 viết là abhijjhāpi. Ở đây, abhijjhā có nghĩa là tham cầu, tham dục. Tiếp đầu ngữ adhi có nghĩa là “tăng” (增), có lẽ do đọc nhầm tiếp đầu ngữ abhi thành adhi nên bản Hán viết “tăng tứ” (增伺).
[4] Nguyên tác: Yểm phục thế gian (掩伏世間). M. 106: Abhibhuyya lokaṃ (siêu việt thế gian). 5 Nguyên tác: Nhiếp trì kỳ tâm (攝持其心). M. 106: Adhiṭṭhāya manasā (sau khi xác định vị trí của ý), HT. Thích Minh Châu dịch.
[5] Nguyên tác: Tiện ư xứ đắc tâm tịnh (便於處得心淨). Tham chiếu: M. 106: Āyatane cittaṃ pasīdati (tâm trở thành an tịnh trong giới xứ [của nó]), HT. Thích Minh Châu dịch.
[6] Nhập bất động (入不動, āneñjaṃ samāpajjati): Nhập định với trạng thái bất động, chỉ Đệ tứ thiền. Tham chiếu: Lục độ tập kinh 六度集經 (T.03. 0152.8. 0050a20): Nhất tâm bất động, chứng Thiền thứ tư (一心不動得第四禪).
[7] Vô Sở Hữu Xứ (無所有處, Ākiñcaññāyatana): Tầng trời thứ 3 của Vô sắc giới, ứng với cấp thiền định gọi là Vô sở hữu xứ định. Ở cấp này, thiền giả thành tựu được tâm hoàn toàn thanh tịnh, quân bình. DĀ. 5 viết là Bất dụng xứ (不用處). Thành tựu được phép định này hành giả trực nhận không có vật gì, hiện tượng gì tồn tại, nhờ đó bản thân mình không bị hạn chế hay bị vướng mắc bởi bất cứ vật gì, hiện tượng gì.
[8] Nguyên tác: Tịnh vô sở hữu xứ đạo (淨無所有處道). M. 106: Ākiñcaññāyatanasappayā paṭipadā (sự thực hành đưa đến cõi Vô Sở Hữu Xứ).
[9] Tham chiếu: M. 106: Nāhaṃ kvacani kassaci kiñcanatasmiṃ, na ca mama kvacani kismiñci kiñcanaṃ natthī’ti (Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào), HT. Thích Minh Châu dịch.
[10] Nguyên tác: Hữu Tưởng Vô Tưởng Xứ (有想無想處), tên gọi khác của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (非想非非想處, Nevasaññānāsaññāyatana).
[11] Nguyên tác: Tự kỷ hữu (自己有, sakkāya): Tự thân hay hữu thân, chỉ cho sự chắc thật của 5 uẩn (五蘊, khandhapañcaka).
[12] Nguyên tác: Cam lộ (甘露, amata). Bất tử, ở đây mang nghĩa giải thoát.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.