Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Bà-kỳ,[2] ngụ tại vườn Nai, trong rừng Sợ Hãi, thuộc núi Cá Sấu.[3]
Bấy giờ, Tôn giả A-na-luật-đà sống giữa dân chúng Chi-đề,[4] trong rừng Thủy Chử. Có lần, Tôn giả A-na-luật-đà ở nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi suy nghĩ: “Đạo chứng đắc từ không tham dục, chứ không phải từ tham dục; đạo chứng đắc từ biết đủ, chứ không phải từ không biết đủ; đạo chứng đắc từ hạnh viễn ly, chứ không phải từ ưa thích hội họp, sống với hội họp, tương hợp với hội họp; đạo chứng đắc từ tinh cần, chứ không phải từ biếng nhác; đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm; đạo chứng đắc từ định tâm, chứ không phải từ loạn tâm; đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si.”
Lúc ấy, bằng Tha tâm trí,[5] đức Phật biết rõ những suy nghĩ, những tư duy, những chí nguyện trong tâm của Tôn giả A-na-luật-đà. Khi đã biết rồi, đức Phật liền nhập Như kỳ tượng định,[6] bằng sức định đó, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, đức Phật bỗng ẩn mất khỏi rừng Sợ Hãi, núi Cá Sấu, vườn Nai thuộc nước Bà-kỳ và xuất hiện tại rừng Thủy Chử ở nước Chi-đề, đứng trước mặt Tôn giả A-na-luật-đà. Bấy giờ, đức Phật liền xuất định, khen ngợi Tôn giả A-na-luật-đà:
– Lành thay, lành thay, A-na-luật-đà! Thầy ở nơi yên tĩnh, thiền tọa tư duy, tâm khởi suy nghĩ: “Đạo chứng đắc từ không tham dục, chứ không phải từ tham dục; đạo chứng đắc từ biết đủ, chứ không phải từ không biết đủ; đạo chứng đắc từ hạnh viễn ly, chứ không phải từ ưa thích hội họp, sống với hội họp, tương hợp với hội họp; đạo chứng đắc từ tinh cần, chứ không phải từ biếng nhác; đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm; đạo chứng đắc từ định tâm, chứ không phải từ loạn tâm; đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si.”
[0541a10] Này A-na-luật-đà! Thầy hãy nghe Như Lai dạy mà lãnh thọ thêm điều suy niệm thứ tám của bậc Đại nhân.[7] Sau khi lãnh thọ, thầy hãy tư duy thế này: “Đạo chứng đắc từ không hý luận, ưa không hý luận, thực hành không hý luận, chứ không phải từ hý luận, ưa hý luận và thực hành hý luận.” Này A-naluật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân[8] thì chắc chắn có thể lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, cho đến thành tựu và an trú Thiền thứ tư. Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân và còn chứng đắc bốn tâm tăng thượng này[9] nữa thì được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Giống như vua và đại thần có cái rương đẹp, đựng đầy các loại y phục đẹp, buổi sáng muốn mặc gì liền lấy mặc, buổi trưa hay buổi chiều muốn mặc gì liền lấy mặc, tùy ý tự tại. Này A-na-luật-đà, thầy cũng như thế, y phấn tảo là y phục bậc nhất, tâm thầy không tham dục, sống và an trú với hạnh này.
Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Giống như vua và đại thần có đầu bếp giỏi hay nấu nhiều món ăn thơm ngon, tinh sạch, thượng diệu. Này A-na-luật-đà, thầy cũng như thế, thức ăn khất thực là thức ăn bậc nhất, tâm thầy không tham dục, sống và an trú với hạnh này.
Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Giống như vua và đại thần có nhà cửa đẹp hoặc có lầu gác cung điện, thầy cũng như thế, nương bên gốc cây mà sống, đây là ngôi nhà bậc nhất, tâm thầy không tham dục, sống và an trú với hạnh này.
Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Giống như vua và đại thần có giường tốt đẹp mà nệm lót được dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Này A-na-luật-đà, thầy cũng như thế, nệm ngồi bằng cỏ hay nệm ngồi bằng lá cây là chỗ ngồi bậc nhất, tâm thầy không tham dục, sống và an trú với hạnh này.
[0541b05] Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân, lại chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Như vậy, thầy du hóa phương Đông, chắc chắn được an lạc, không có khổ đau. Nếu du hóa phương Nam, phương Tây hay phương Bắc, chắc chắn cũng được an lạc, không có khổ đau.
Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân và chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Đối với các pháp thiện mà thầy đã an trú Ta còn chưa kể đến, huống gì nói đến việc suy hao? Các pháp thiện cứ ngày đêm tăng trưởng chứ không hề suy giảm.
Này A-na-luật-đà! Nếu thầy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân và chứng đắc bốn tâm tăng thượng này thì sẽ được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó. Chắc chắc thầy sẽ chứng đắc một trong hai quả vị: Hoặc đắc Trí cứu cánh[10] ngay trong đời này, hoặc nếu còn hữu dư[11] thì đắc A-na-hàm.
Này A-na-luật-đà! Thầy hãy thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân và cũng nên chứng đắc bốn tâm tăng thượng này nữa, để được an lạc ngay trong hiện tại, dễ dàng chứ không phải quá khó, sau đó an cư mùa mưa trong rừng Thủy Chử thuộc nước Chi-đề.
Bấy giờ, đức Phật thuyết pháp cho Tôn giả A-na-luật-đà, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ.[12][13] Sau khi dùng vô số phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến vị ấy hoan hỷ rồi, đức Phật nhập Như kỳ tượng định, bằng sức định đó, trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, đức Phật bỗng ẩn mất khỏi rừng Thủy Chử thuộc nước Chi-đề và xuất hiện trong rừng Sợ Hãi, núi Cá Sấu, vườn Nai ở nước Bà-kỳ.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan cầm quạt đứng hầu đức Phật. Khi Thế Tôn xuất định rồi, Ngài liền quay lại bảo:
Này A-nan! Nếu có Tỳ-kheo nào đang ở rừng Sợ Hãi, núi Cá Sấu, vườn Nai này thì hãy bảo tất cả nhóm họp tại giảng đường. Khi tất cả đã nhóm họp đầy đủ rồi, thầy trở lại báo cho Ta biết.
Tôn giả A-nan vâng lời Phật, đảnh lễ sát chân Ngài và liền đi thông báo: “Các vị Tỳ-kheo nào đang ở rừng Sợ Hãi, núi Cá Sấu, vườn Nai, tất cả hãy tập trung tại giảng đường.” Khi các Tỳ-kheo đã tập hợp tại giảng đường rồi, Tôn giả A-nan trở về đến chỗ đức Phật, đảnh lễ sát chân Ngài, đứng sang một bên rồi thưa:
Bạch Thế Tôn! Chúng Tỳ-kheo đang ở rừng Sợ Hãi, núi Cá Sấu, vườn Nai đã tập hợp tại giảng đường. Kính mong đức Thế Tôn biết cho! 
[0541c04] Lúc ấy, đức Phật cùng Tôn giả A-nan đi đến giảng đường, trải tọa cụ ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Ngồi xuống rồi, đức Phật dạy:
Này các Tỳ-kheo! Nay Ta sẽ nói cho các thầy nghe về tám điều suy niệm của bậc Đại nhân. Các thầy hãy lắng nghe và khéo suy nghĩ!
Lúc đó, các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Đức Phật dạy:
Tám điều suy niệm của bậc Đại nhân là: Đạo chứng đắc từ không tham dục, chứ không phải từ tham dục; đạo chứng đắc từ biết đủ, chứ không phải từ không biết đủ; đạo chứng đắc từ hạnh viễn ly, chứ không phải từ ưa thích hội họp, sống với hội họp, tương hợp với hội họp; đạo chứng đắc từ tinh cần, chứ không phải từ biếng nhác; đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm; đạo chứng đắc từ định tâm, chứ không phải từ loạn tâm; đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si; đạo chứng đắc từ không hý luận, ưa không hý luận, thực hành không hý luận, chứ không phải từ hý luận, ưa hý luận và thực hành hý luận.
Thế nào là đạo chứng đắc từ không tham dục, chứ không phải từ tham dục? Nghĩa là Tỳ-kheo được không tham dục thì tự biết đã được không tham dục, không để người khác biết mình không tham dục; được biết đủ, được viễn ly, được siêng năng, được chánh niệm, được định tâm, được trí tuệ và được không hý luận thì tự biết đã được không hý luận, không muốn người khác biết mình không tham dục. Đó gọi là đạo chứng đắc từ không tham dục chứ không phải từ tham dục.
Thế nào là đạo chứng đắc từ biết đủ, chứ không phải từ không biết đủ? Nghĩa là Tỳ-kheo sống với hạnh biết đủ, áo đủ che thân, ăn đủ nuôi thân. Đó là đạo chứng đắc từ sự biết đủ, chứ không phải từ sự không biết đủ.
Thế nào là đạo chứng đắc từ hạnh viễn ly, chứ không phải từ ưa thích hội họp, sống với hội họp, tương hợp với hội họp? Nghĩa là Tỳ-kheo thực hành hạnh viễn ly, thành tựu hai sự viễn ly là thân và tâm viễn ly. Đó gọi là đạo chứng đắc từ hạnh viễn ly, chứ không phải từ ưa thích hội họp, sống với hội họp, tương hợp với hội họp.
Thế nào là đạo chứng đắc từ tinh tấn, chứ không phải từ biếng nhác? Nghĩa là Tỳ-kheo thường hành tinh tấn, dứt trừ xấu ác bất thiện, tu các thiện pháp, thường tự giữ tâm chuyên nhất và vững chãi, vì gốc rễ thiện pháp mà luôn cố gắng. Đó gọi là đạo chứng đắc từ tinh tấn, chứ không phải từ biếng nhác.
Thế nào là đạo chứng đắc từ chánh niệm chứ không phải từ tà niệm? Nghĩa là Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán nội thọ đúng như thọ, quán nội tâm đúng như tâm, quán nội pháp đúng như pháp.[14] Đó gọi là đạo chứng đắc từ chánh niệm, chứ không phải từ tà niệm.
Thế nào là đạo chứng đắc từ định tâm, chứ không phải từ loạn tâm? Nghĩa là Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, cho đến chứng đắc và an trú Thiền thứ tư. Đó gọi là đạo chứng đắc từ định tâm, chứ không phải từ loạn tâm.
Thế nào là đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si? Nghĩa là Tỳkheo tu hành trí tuệ, quán pháp hưng suy, chứng đắc trí như thật, thành tựu tuệ minh đạt của bậc Thánh, phân biệt rõ ràng để rồi đoạn tận mọi khổ đau. Đó gọi là đạo chứng đắc từ trí tuệ, chứ không phải từ ngu si.
Thế nào là đạo chứng đắc từ không hý luận, ưa không hý luận, thực hành không hý luận; chứ không phải từ hý luận, ưa hý luận, thực hành hý luận? Nghĩa là Tỳ-kheo tâm ý thường diệt hý luận, an lạc trong Vô dư Niết-bàn,[15] tâm thường an lạc, hoan hỷ thong dong. Đó gọi là đạo chứng đắc từ không hý luận, ưa không hý luận, thực hành không hý luận, chứ không phải từ hý luận, ưa hý luận, thực hành hý luận
Này các Tỳ-kheo! Tỳ-kheo A-na-luật-đà đã thành tựu tám điều suy niệm của bậc Đại nhân này rồi, sau đó an cư mùa mưa tại rừng Thủy Chử thuộc nước Chi-đề. Sau khi được Ta giảng dạy những điều này, vị ấy sống một mình nơi yên vắng, tâm không buông lung, tinh tấn tu hành. Vị ấy đã sống một mình nơi thanh vắng, tâm không buông lung, tinh tấn tu hành, bởi lý do mà một thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với lòng tin tha thiết, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo là chỉ mong thành tựu Phạm hạnh vô thượng. Ngay trong đời này, vị ấy tự biết, tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Lúc đó, Tôn giả A-na-luật-đà chứng đắc A-la-hán, tâm giải thoát hoàn toàn, xứng đáng là bậc Trưởng lão thượng tôn, rồi nói kệ này:
Đấng Tối Tôn trong đời,
Từ xa thấu lòng con,
Chánh thân tâm nhập định,
Nương hư không đến đây.
Như tâm con đã nghĩ,
Phật thuyết còn cao hơn,
Chư Phật không hý luận,
Mọi hý luận không còn.
Con từ Phật biết pháp,
Vui trú pháp tu hành,
Chánh định liền chứng nhanh,
Pháp Phật đã tựu thành.
Con chẳng ưa sự chết,
Cũng chẳng muốn sự sanh,
Nay tùy theo sở thích,
Chánh niệm, trí đã thành.
Tỳ-da-ly, Trúc Lâm,
Nơi đó bỏ xác thân,
Ngồi yên dưới khóm trúc,
Nhập Vô dư Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-na-luật-đà và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
[1] Nguyên tác: Bát niệm kinh 八念經 (T.01. 0026.74. 0540c18). Tham chiếu: A-na-luật Bát niệm kinh 阿那律八念經 (T.01. 0046. 0835c12); Tăng. 增 (T.02. 0125.42.6. 0754a12); A. 8.30 - IV. 228.
[2] Nguyên tác: Bà-kỳ-sấu (婆奇瘦, Bhaggesu). Bhagga (婆奇, Bà-kỳ) là một tiểu quốc, có thủ phủ là Sumsumāragiri.
[3] Nguyên tác: Đà Sơn Bố lâm Lộc Dã viên (鼉山怖林鹿野園, Suṃsumāragira Bhesakaḷāvana Migadāya).
[4] Nguyên tác: Chi-đề-sấu (枝提瘦, Cetīsu). Xem chú thích 2, kinh số 73, tr. 487.
[5] Tha tâm trí (他心智), một trong 10 trí của Phật, là trí biết tâm niệm của người khác.
[6] Nhập như kỳ tượng định (入如其像定). SĀ. 535: Như kỳ tượng tam-muội chánh thọ (如其像三昧正受). Đây không phải tên riêng của một loại định mà là chỉ cho hành động của thân, tâm đang diễn ra. Thân ngay thẳng, bất động (像), tâm chuyên chú vào một chỗ (定, 心專注於一處). Tham chiếu: M. 50: Paccattaṃ yoniso manasākāsi (tự mình quán sát nguyên do).
[7] Nguyên tác: Đại nhân chi niệm (大人之念, Mahāpurisavitakka).
[8] Nguyên tác: Đại nhân bát niệm (大人八念, Aṭṭha mahāpurisavittakka).
[9] Bốn tâm tăng thượng ở đây chỉ cho 4 tâm chứng đắc và an trú vào 4 tầng thiền, từ Thiền thứ nhất cho đến Thiền thứ tư.
[10] Nguyên tác: Cứu cánh trí (究竟智, Sammadaññā): Trí tuệ của bậc A-la-hán, quả vị A-la-hán. MĀ. 187 gọi là Sở đắc trí (所得智).
[11] Hữu dư (有餘): Phiền não còn sót lại.
[12] Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發, 渴仰, 成就歡喜). Xem chú thích
[13] , kinh số 9, tr. 48.
[14] Nguyên tác: Tỳ-kheo quán nội thân như thân, quán nội giác…, … tâm, pháp như pháp (比丘觀內身如身觀內覺心法如法). Đây là tỉnh lược của pháp quán tứ niệm xứ (四念處, cattārosatipaṭṭhāna).
Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272.
[15] Vô dư Niết-bàn (無餘涅槃) cũng được gọi là Bát-niết-bàn (般涅槃).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.