Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

70. KINH VUA CHUYỂN LUÂN1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa Ma-đâu-lệ Sát-lợi,2 ngụ trong rừng xoài bên bờ sông Sử.3
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Này các Tỳ-kheo! Hãy tự mình thắp lên ngọn đèn Chánh pháp, hãy tự nương tựa nơi Chánh pháp của mình,4 đừng thắp ngọn đèn nào khác, đừng nương tựa một pháp nào khác.


Này các Tỳ-kheo! Nếu ai tự mình thắp lên ngọn đèn Chánh pháp, tự nương tựa nơi Chánh pháp của mình, không thắp ngọn đèn nào khác, không nương tựa pháp nào khác thì người ấy có thể cầu học, đạt được lợi ích và phước quả vô cùng. Vì sao như vậy? Này các Tỳ-kheo! Thuở xưa có vua tên là Kiên Niệm5 làm Chuyển Luân Vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân, thống trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu và có bốn đức như ý. Việc thành tựu bảy báu và có bốn đức như ý như thế nào? Việc thành tựu bảy báu và có bốn đức như ý như đã nói trước đây.6


Bấy giờ, một thời gian sau, bánh xe báu cõi trời của Vua Kiên Niệm bỗng rời khỏi chỗ cũ. Có người trông thấy liền đến tâu Vua Kiên Niệm:
“Tâu Thiên vương! Ngài nên biết rằng, bánh xe báu cõi trời đã rời khỏi chỗ cũ.”


Vua Kiên Niệm nghe xong, bảo Thái tử rằng:
“Này Thái tử! Bánh xe báu cõi trời của ta đã rời khỏi chỗ cũ. Này Thái tử! Chính ta từng nghe người xưa nói rằng, nếu bánh xe báu cõi trời của Chuyển Luân Vương rời khỏi chỗ cũ thì vị vua ấy chắc chắn không còn sống lâu, mạng vua sắp hết. Này Thái tử! Ta đã hưởng niềm vui nhân gian, nay sẽ cầu niềm vui cõi trời. Này Thái tử! Ta muốn cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Này Thái tử! Nay ta đem bốn châu thiên hạ này giao phó cho con. Con hãy cai trị và giáo hóa đúng như pháp, chớ dùng phi pháp, không để trong nước có những người tạo nghiệp xấu ác và trái với Phạm hạnh. Này Thái tử! Về sau này, nếu con thấy bánh xe báu cõi trời rời khỏi chỗ cũ thì con cũng lạ i phải đem giang sơn nà y giao phó lại cho Thái tử của con, khéo dạy bảo Thái tử. Sau khi ủy thác giang sơn cho Thái tử rồi, con cũng nên cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.”


Sau khi giao phó đất nước cho Thái tử và khéo dạy bảo xong, Vua Kiên Niệm liền cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.


[0520c14] Bấy giờ, sau khi Vua Kiên Niệm xuất gia học đạo bảy ngày, bánh xe báu cõi trời ấy biến mất, không còn thấy nữa.


Lúc mất bánh xe báu cõi trời, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh7 liền buồn phiền, lo lắng không vui. Nhà vua liền đến chỗ Tiên nhân Phụ vương Kiên Niệm thưa rằng:
“Tâu Thiên vương! Ngài nên biết, sau khi Thiên vương học đạo mới bảy ngày thì bánh xe báu cõi trời kia biến mất, không còn thấy nữa.”


Tiên nhân Phụ vương Kiên Niệm bảo Vua Sát-lợi Đảnh Sanh rằng:
“Con chớ vì mất bánh xe báu cõi trời mà nhớ tiếc, lo buồn! Vì sao như vậy? Vì con không thể có được bánh xe báu do cha trao truyền.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại thưa vua cha:
“Tâu Thiên vương! Vậ y bây giờ con phải làm gì?”


Tiên nhân Phụ vương Kiên Niệm bảo:
“Con phải học pháp tiếp nối truyền thống. Nếu con học pháp này thì vào ngày rằm, lúc thuyết Giới giải thoát,8 sau khi tắm rửa xong, con ngự nơi chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy chắc chắn sẽ từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại thưa với Phụ vương:
“Tâu Thiên vương! Pháp kế thừa như thế nào mà Thiên vương muốn bảo con học, để lúc học xong, vào ngày rằm, lúc thuyết Giới giải thoát, sau khi tắm rửa xong, con ngự nơi chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy sẽ từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đầy đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời?”


[0521a02] Tiên nhân phụ vương Kiên Niệm bảo:
“Con hãy quán pháp đúng như pháp, thực hành pháp đúng như pháp. Hãy vì thái tử, hoàng hậu phi tần, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí cho đến loài côn trùng mà giữ gìn trai giới vào những ngày mùng tám, mười bốn và ngày rằm. Con nên tu hạnh bố thí, cú ng dườ ng thức ăn, y phục, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, hương xoa, nhà cửa, giường nệm, thảm lông, khăn choàng, người giúp việc, đèn dầu cho Sa-môn, Phạm chí, những người nghèo khổ, kẻ bần cùng, người cô độc, người hành khất từ các phương xa đến. Nếu trong nước con có các bậc Thượng tôn, danh đức, Sa-môn, Phạm chí thì con phải tùy thời đi đến chỗ của các vị ấy để hỏi pháp và thọ pháp như vầy: ‘Thưa chư Tôn! Thế nào là pháp thiện? Thế nào là pháp bất thiện? Thế nào là tội? Thế nào là phước? Thế nào là diệu? Thế nào là chẳ ng diệu? Thế nào là pháp đen? Thế nào là pháp trắng? Pháp đen và pháp trắng từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời này? Thế nào là mục đích của đời sau? Phải tạo nghiệp như thế nào để thọ quả báo thiện mà không thọ quả báo ác?’ Sau khi nghe lời dạy bảo từ các vị ấy, con hãy thực hành đúng như thế. Nếu trong nước có kẻ bần cùng thì con hãy đem của cải cung cấp đầy đủ cho họ . Này con, đó là pháp kế thừa, con nên khéo học. Con đã khéo học thì vào ngày rằm, là ngày thuyết Giới giải thoát, sau khi tắm rửa xong, con ngự trên chánh điện, lúc ấy chắc chắn bánh xe báu cõi trời sẽ từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.”


Ngay sau đó, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh quán pháp đúng như pháp, thực hành pháp đúng như pháp. Vua đã vì thái tử, hoàng hậu phi tần, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí, cho đến loài côn trùng mà phụng trì trai giới vào các ngày mùng tám, mười bốn và ngày rằm. Nhà vua phát nguyện bố thí, cú ng dườ ng đầy đủ thức ăn, y phục, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, hương xoa, nhà cửa, giường nệm, thảm lông, khăn choàng, người giúp việc và đèn dầu cho Sa-môn, Phạm chí, những người nghèo khốn, kẻ bần cùng, người cô độc, người hành khất từ các phương xa đến. Nếu trong nước có các bậc Thượng tôn, danh đức, Sa-môn, Phạm chí thì vua tùy thời đích thân đến chỗ các vị ấy để hỏi pháp và thọ pháp như vầy: “Thưa chư Tôn! Thế nào là pháp thiện? Thế nào là pháp bất thiện? Thế nào là tội? Thế nào là phước? Thế nào là diệu? Thế nào là chẳ ng diệu? Thế nào là pháp đen? Thế nào là pháp trắng? Pháp đen và pháp trắng từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời này? Thế nào là mục đích của đời sau? Phải tạo nghiệp như thế nào để thọ quả báo thiện mà không thọ quả báo ác?”


Khi được nghe lời dạy của các bậc Thượng tôn, danh đức rồ i, nhà vua thực hành theo những lời dạy ấy. Nếu trong nước có kẻ bần cùng, vua liền đem của cải tùy thời cung cấp đầy đủ cho họ . Vào ngày rằm, là ngày thuyết Giới giải thoát, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh tắm rửa xong, liền ngự trên chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời. Nhà vua cũ ng được làm Chuyển Luân Vương, cũ ng thành tựu bảy báu và có bốn đức như ý. Vua thành tựu bảy báu và có bốn đức như ý như thế nào thì cũ ng như trước đã nói.


[0521b08] Một thời gian sau, bánh xe báu cõi trời của Vua Chuyển Luân ấy bỗng nhiên rời khỏi chỗ cũ. Có người trông thấy liền đến tâu vua rằ ng:
“Tâu Thiên vương! Ngài nên biết, bánh xe báu cõi trời đã rời khỏi chỗ cũ.”


Nhà vua nghe xong, liền bảo Thái tử:
“Này Thái tử! Bánh xe báu cõi trời của ta đã rời khỏi chỗ cũ. Thái tử! Ta từng nghe từ Phụ vương ta, Tiên nhân Kiên Niệm dạy như vầy: ‘Nếu bánh xe báu cõi trời của Vua Chuyển Luân rời khỏi chỗ cũ thì vị vua ấy chắc chắn không còn sống lâu, mạng vua sắp hết.’ Này Thái tử! Ta đã hưởng niềm vui thế gian, nay sẽ cầu niềm vui cõi trời. Này Thái tử! Ta muốn cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Này Thái tử! Nay ta đem bốn châu thiên hạ này giao phó cho con. Con hãy cai trị và giáo hóa đúng như pháp, chớ dùng phi pháp, không để trong nước có những người tạo nghiệp xấu ác và trái với Phạm hạnh. Này Thái tử! Về sau, nếu con thấy bánh xe báu cõi trời rời khỏi chỗ cũ thì con cũng nên đem giang sơn nà y giao phó lại cho Thái tử của con, khéo dạy bảo Thái tử. Sau khi ủy thác giang sơn cho Thái tử rồi, con cũng nên cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo.”


Bấy giờ, Vua Chuyển Luân ấy giao phó đất nước cho Thái tử, khéo dạy bảo xong, liền cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Sau khi Vua Chuyển Luân xuất gia học đạo bảy ngày thì bánh xe báu cõi trời biến mất, không còn thấy nữa.
Lúc mất bánh xe báu cõi trời, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nà y không lo buồ n, lại còn nhiễm dục, đắm trước dục, tham dục không biết nhàm chán, bị dục trói buộc, lệ thuộc vào dục, bị dục sai khiến, không thấy tai họa của dục, không biết xuất ly khỏi dục, tự cai trị đất nước theo ý mình. Vì tự cai trị đất nước theo ý mình nên đất nước suy vong, không cò n hưng thị nh như các vị Vua Chuyển Luân thuở xưa nhờ học pháp kế thừa mà đất nước và nhân dân ngày càng hưng thịnh, không bị suy giảm. Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nà y đã tự cai trị đất nước theo ý mình. Do cai trị đất nước theo ý mình nên đất nước suy vong, không còn hưng thịnh.


[0521c02] Bấy giờ, Phạm chí Quốc sư đi quan sát tình cảnh đất nước, thấy đất nước và nhân dân trở nên suy kiệt, không còn hưng thịnh. Quốc sư liền nghĩ: “Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nà y tự cai trị đất nước theo ý mình. Vì cai trị đất nước theo ý mình nên đất nước và nhân dân đã suy vong, không còn hưng thịnh như các bậc Chuyển Luân Vương thuở xưa nhờ học pháp kế thừa mà đất nước và nhân dân ngày càng hưng thịnh, không bị suy giảm. Vua Sát-lợi Đảnh Sanh này tự cai trị đất nước theo ý của mì nh. Vì cai trị đất nước theo ý của mì nh nên làm cho đất nước và nhân dân trở nên suy giảm, không còn hưng thịnh.”


Phạm chí Quốc sư liền đến thưa với Vua Sát-lợi Đảnh Sanh:
“Tâu Thiên vương! Xin ngài biết cho, Thiên vương đã tự cai trị đất nước theo ý của mình. Vì tự cai trị đất nước theo ý của mình nên làm cho đất nước và nhân dân suy vong, không cò n hưng thị nh như các bậc Chuyển Luân Vương thuở xưa học pháp kế thừa khiế n đất nước nhân dân hưng thịnh, không bị suy giảm. Nay Thiên vương tự cai trị đất nước theo ý của mình, vì cai trị đất nước theo ý mình nên đất nước và nhân dân đã suy vong, không phục hưng nổi.”


Nghe xong, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh bảo:
“Này Phạm chí! Vậy ta phải làm thế nào?”


Phạm chí Quốc sư thưa:
“Tâu Thiên vương! Trong nước có người thông minh trí tuệ, am tường toán số. Trong nước cũng có đại thần và quyến thuộc học kinh, hiểu rõ kinh, tụng đọc tu tập, thọ trì pháp kế thừa. Ngà i nên đối xử với họ như quyến thuộc của mình. Tâu Thiên vương! Ngà i nên học pháp kế thừa. Khi đã học pháp kế thừa thì vào ngày rằm, là ngày thuyết Giới giải thoát, ngà i hã y tắm rửa sạch sẽ rồi lên ngự trên chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy chắc chắn sẽ từ phương Đông hiện đến. Bá nh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh lại hỏi:
“Này Phạm chí! Pháp kế thừa ấ y như thế nào mà Phạm chí muốn ta học, để lúc học rồi, vào ngày rằm, là ngày thuyết Giới giải thoát, sau khi tắm rửa, ta ngự trên chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy sẽ từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời?”


Phạm chí Quốc sư thưa:
“Tâu Thiên vương! Ngài hãy quán pháp đúng như pháp, thực hành pháp đúng như pháp. Ngài hãy vì thái tử, hoàng hậu phi tần, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí, cho đến loài côn trùng mà giữ gìn trai giới vào những ngày mùng tám, mười bốn và ngày rằm. Ngài cần phải tu hạnh bố thí, cúng dườ ng đầy đủ thức ăn, y phục, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, hương xoa, nhà cửa, giường nệm, thảm lông, khăn choàng, người giúp việc và đèn dầu cho Sa-môn, Phạm chí, cho những người nghèo khốn, kẻ bần cùng, người cô độc, người hành khất từ các phương xa đến. Nếu trong nước có bậc Thượng tôn, danh đức, Sa-môn, Phạm chí thì Thiên vương hãy tùy thời đi đến chỗ của các ngài để hỏi pháp và thọ pháp như vầy: "Thưa chư Tôn! Thế nào là pháp thiện? Thế nào là pháp bất thiện? Thế nào là tội? Thế nào là phước? Thế nào là diệu? Thế nào là chẳng diệu? Thế nào là pháp đen? Thế nào là pháp trắng? Pháp đen và pháp trắng từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời này? Thế nào là mục đích của đời sau? Phải tạo nghiệp như thế nào để thọ quả báo thiện mà không thọ quả báo ác?"


Khi được nghe từ các vị ấy xong, Thiên vương nên thực hành đúng như lời các vị ấy đã dạy. Nếu trong nước có kẻ bần cùng thì Thiên vương nên lấy của cải cung cấp đầy đủ cho họ. Tâu Thiên vương! Đó là pháp kế thừa. Ngài nên khéo học và ghi nhớ, rồi vào ngày rằm là ngày thuyết Giới giải thoát, sau khi tắm rửa, ngài ngự trên chánh điện thì bánh xe báu cõi trời ấy chắc chắn sẽ từ phương Đông hiện đến. Bánh xe có ngàn căm, đủ các bộ phận, sáng sạch tự nhiên, chẳng phải do người đời tạo ra, màu sắc như ánh lửa, chói lọi sáng ngời.”


[0522a15] Sau đó, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nà y liền quán pháp đúng như pháp, thực hành pháp đúng như pháp. Vua đã vì thái tử, hoàng hậu phi tần, thể nữ và các thần dân, Sa-môn, Phạm chí, cho đến loài côn trùng mà giữ gìn và trai giới vào những ngày mùng tám, mười bốn và ngày rằm. Nhà vua tu hạnh bố thí, cúng dường thức ăn, y phục, xe cộ, tràng hoa, bột hoa, hương xoa, nhà cửa, giường nệm, thảm lông, khăn choàng, người giúp việc và đèn dầu cho Sa-môn, Phạm chí, những người nghèo khốn, kẻ bần cùng, người cô độc, người hành khất từ các phương xa đến. Nếu trong nước có các bậc Thượng tôn, danh đức, Sa-môn, Phạm chí thì vua đích thân tùy thời đến chỗ các vị ấy để hỏi pháp và thọ pháp như vầy: “Thưa chư Tôn! Thế nào là pháp thiện? Thế nào là pháp bất thiện? Thế nào là tội? Thế nào là phước? Thế nào là diệu? Thế nào là chẳng diệu? Thế nào là pháp đen? Thế nào là pháp trắng? Pháp đen và pháp trắng từ đâu sanh? Thế nào là mục đích của đời này? Thế nào là mục đích của đời sau? Phải tạo nghiệp như thế nào để thọ quả báo thiện mà không thọ quả báo ác?” Được nghe từ các vị ấy xong, nhà vua thực hành đúng như lời các vị ấy chỉ bảo.


Thế nhưng, có những ngườ i bần cùng trong nước không đượ c vua cấp phát vật dụng. Do nghèo cùng khố n khổ, không của cải lại không nhậ n được sự trợ cấp của vua nên những kẻ này ngày càng khốn đốn. Vì khốn cùng cho nên kẻ ấy đã trộm cắp vật dụng của người khác. Do trộm cắp nên họ bị chủ nhân bắt trói đem đến Vua Sát-lợi Đảnh Sanh rồi thưa:
“Tâu Thiên vương! Kẻ này trộm cắp vật dụng của con, xin ngài hãy trị tội.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi kẻ trộm:
“Có thật ngươi đã trộm cắp chăng?”


Người ấy đáp:
“Tâu Thiên vương! Quả thật là thần có trộm cắp. Vì sao như thế? Tâu Thiên vương! Vì nghèo khốn, nếu không trộm cắp thì thần không có gì để sống.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh liền đem của cải cấp phát cho kẻ trộm và khuyên:
“Ngươi hãy trở về, sau này chớ có tái phạm!”


Bấy giờ, dân chúng trong nước nghe tin, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh nếu thấy dân chúng trong nước có kẻ trộm cắp thì liền đem của cải cấp phát cho, nên họ nghĩ: “Chúng ta cũng nên trộ m cắp tài sản của người khác.” Từ đó, dân chúng trong nước đều tranh nhau trộm cắp tài sản người khác. Do người nghèo khốn không của cải lại không nhận được sự trợ cấp của vua nên càng trở nên nghèo khốn. Thế là nạn trộm cắp càng lan tràn. Do vì trộm cắp lan tràn cho nên tuổi thọ của con người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Sau khi tuổi thọ của loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu thì tuổ i thọ người cha là tám vạn tuổi, cò n tuổ i thọ củ a ngườ i con là bốn vạn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ loài người còn bốn vạn tuổi, có kẻ trộm cắp vật dụng của người khác, bị chủ nhân bắt trói dẫn đến Vua Sát-lợi Đảnh Sanh thưa rằng:
“Tâu Thiên vương! Kẻ này trộm cắp vật dụng của con, xin ngài hãy trị tội.”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi kẻ trộm:
“Có thật ngươi đã trộm cắp chăng?”


Người ấy đáp:
“Tâu Thiên vương! Quả thật là thần có trộm cắ p. Vì sao như thế? Vì nghèo khốn, nếu không trộm cắ p thì thần không có gì để sống.”


Nghe xong, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh liền nghĩ: “Nếu trong nước có kẻ trộm cắp vật dụng của người khác mà ta cứ đem của cải cấp phát đầy đủ cho họ, như vậy chỉ khiến kho lẫm của quốc gia khánh kiệt, dung túng để nạn trộm cắp lan tràn. Nay ta nên rèn dao thật bén, nếu trong nước có ai trộm cắp, phải liền bắt trói họ dưới cọc cây cao rồi chém đầu bêu lên.”


[0522b23] Sau đó, Vua Sát-lợi Đảnh Sanh hạ lệnh rèn dao thật bén, nếu trong nước có kẻ trộ m tà i sả n người khác thì cho bắt trói dưới cọc cây cao rồi chém đầu bêu lên.


Bấy giờ, dân chúng trong nước nghe Vua Sát-lợi Đảnh Sanh ra lệnh rèn dao thật bén, nếu trong nước có ai trộm cắp thì sẽ bắt trói dưới cọc cây cao rồi chém bêu đầu, họ liền nghĩ: “Ta cũng nên bắt chước rèn dao thật bén để đi trộm cắp, nếu trộm cắp vật dụng của ai thì bắt luôn chủ nhân và chém đầu.” Từ đó về sau, những kẻ trộm cắp thi nhau rèn dao bén để trộm cắp rồi bắt luôn chủ nhân và chém đầu.
Do vì nghèo khốn không của cải lại không được sự trợ cấp nên họ càng nghèo khốn hơn. Vì nghèo khốn hơn nên nạn trộm cắp càng lan tràn. Nạn trộm cắp càng lan tràn thì sự chém giết càng tăng. Nạn chém giết càng tăng thì tuổi thọ của loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Sau khi tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là bốn vạn tuổi, còn tuổi thọ của người con là hai vạn tuổi.


[0522c05] Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người còn hai vạn tuổi, có kẻ trộm cắp vật dụng của người khác, bị chủ nhân bắt trói dẫn đến Vua Sát-lợi Đảnh Sanh thưa rằng:
“Tâu Thiên vương! Kẻ này trộm cắp vật dụng của con, xin ngài hãy trị tội!”


Vua Sát-lợi Đảnh Sanh hỏi tên trộ m:
“Có thật ngươi đã trộm cắ p chăng?”


Bấy giờ, kẻ trộm cắp nghĩ thầm: “Nếu Vua Đảnh Sanh biết sự thật thì ta sẽ bị trói, bị đánh, hoặc quăng ném, hoặc trục xuất, hoặc phạt tiền tài, hoặc trừng trị đau đớn đủ cách, hoặc treo lên cây, hoặ c bêu đầu ta. Có lẽ ta nên nói dối để gạt Vua Sát-lợi Đảnh Sanh chăng?” Nghĩ xong, kẻ trộm thưa:
“Tâu Thiên vương! Thần không trộm cắp.”


Do vì nghèo khốn không của cải lại không nhận được trợ cấp nên người nghèo càng nghèo khốn hơn, càng nghèo khốn thì nạn trộm cắp càng lan tràn, nạn trộm cắp càng lan tràn thì sự chém giết càng tăng, sự chém giết càng tăng thì việc nói dối, nói hai chiều cũng tăng thêm. Vì người nói dối, nói hai chiều càng tăng nên tuổi thọ của loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Khi tuổi thọ giảm xuống, hình sắc con người trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là hai vạn tuổi, còn tuổi thọ của người con là một vạn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ loài người còn một vạn tuổi thì trong dân chúng có người có đức, có người vô đức. Những ai vô đức thì ghen ghét người có đức và phạm tà hạnh với vợ của người. Do nghèo khốn không có của cải lại không nhận được sự trợ cấp của vua nên người nghèo lại càng nghèo khốn hơn; càng nghèo khốn hơn thì nạn trộm cắp càng lan tràn; nạn trộm cắp càng lan tràn thì sự chém giết càng tăng; sự chém giết càng tăng thì việc nói dối, nói lời hai chiều tăng thêm; nói dối, nói hai chiều tăng thêm thì việc ganh ghét và tà dâm lại tăng hơn nữa. Vì sự ganh ghét và tà dâm tăng lên nên tuổi thọ của loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Khi tuổi thọ giảm xuống, hình sắc loài người trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là một vạn tuổi, còn tuổi thọ của người con là năm ngàn tuổi.
Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người còn năm ngàn tuổi thì có ba pháp gia tăng, đó là tham muốn phi pháp, dục tham và tà pháp. Vì ba pháp này tăng lên nên tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Khi tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là năm ngàn tuổi, còn tuổi thọ của người con là hai ngàn năm trăm tuổi.


Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người còn hai ngàn năm trăm tuổi thì ba pháp khác lại gia tăng, đó là nói hai chiều, nói lời thô ác9 và nói thêu dệt. Vì ba pháp này tăng nên tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Khi tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là hai ngàn năm trăm tuổi, còn tuổi thọ củ a người con là một ngàn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người còn một ngàn tuổi thì có một pháp gia tăng, đó là tà kiến. Vì pháp này tăng nên tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu. Khi tuổi thọ loài người giảm xuống, hình sắc trở nên thô xấu thì tuổi thọ của người cha là một ngàn tuổi, còn tuổi thọ của người con là năm trăm tuổi.


[0523a05] Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người còn năm trăm tuổi thì con người suốt đời không hiếu thảo với cha mẹ, không kính trọng Sa-môn, Phạm chí, không làm theo lẽ phải, không tạo phước quả, không biết tội đời sau. Do loài người không hiếu thảo với cha mẹ, không tôn kính Sa-môn, Phạm chí, không làm theo lẽ phải, không tạo phước quả, không biết tội đời sau cho nên tuổi thọ của người cha là năm trăm tuổi, còn tuổi thọ của người con là hai trăm năm mươi tuổi hoặc hai trăm tuổi.


Này Tỳ-kheo! Hiện tại, những ai sống lâu thì được một trăm tuổi, hoặc có thể ít hơn.


Đức Phật lại bảo:
– Này Tỳ-kheo! Vào đời tương lai lâu xa, tuổi thọ của con người chỉ còn mười tuổi. Khi ấy, con gái sanh ra đượ c năm tháng thì lấy chồng. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ con người còn mười tuổi, có giống lúa tên là bại tử,10 là thức ăn ngon nhất, cũng như lúa gạo là thức ăn ngon nhất của con người hiện nay. Này Tỳ-kheo! Cũng vậ y, lúc tuổi thọ con người còn mười tuổi thì có loại lúa tên là bại tử, là loại thực phẩm ngon nhất.


Này Tỳ-kheo! Khi tuổi thọ con người còn mười tuổi thì hoàn toàn không có các loại bơ, dầu, muối, mật, đường, mía như hiện nay. Khi tuổ i thọ con người còn mười tuổi, nếu ai tạo mười nghiệp ác thì sẽ được người khác kính trọng, cũng như hiện nay nếu ai tạo mười nghiệp thiện thì được người khác kính trọng. Này Tỳ-kheo! Cũng vậy, lúc tuổi thọ con người còn mười tuổi, nếu ai tạo mười nghiệp ác thì kẻ ấy được người khác kính trọng. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ con người còn mười tuổi thì hoàn toàn không có danh từ “thiện”, huống nữa là có người tạo mười nghiệp thiện.


Này Tỳ-kheo! Khi tuổi thọ con người còn mười tuổi thì có người tên là Đàn Phạt11 đi đến khắp mọi nhà để hành hạ đánh đập người. Này Tỳ-kheo! Khi tuổi thọ con người cò n mười tuổi thì mẹ đối với con luôn có tâm giết hại rất mãnh liệt và con đối với mẹ cũng có tâm giết hại rất mãnh liệt. Cha con, anh em, chị em, thân thuộc với nhau đều có tâm giết hại lẫn nhau, giố ng như người thợ săn trông thấy con nai thì khởi tâm giết hại mãnh liệt. Lúc tuổi thọ con người cò n mười tuổi cũng lại như thế, mẹ đối với con có tâm giết hại rất mãnh liệt, con đối với mẹ cũng có tâm giết hại rất mãnh liệt. Cha con, anh em, chị em quyến thuộc với nhau đều có tâm giết hại lẫn nhau.


Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ con người còn mười tuổi thì sẽ có nạn đao binh12 bảy ngày. Bấy giờ cành cây, ngọn cỏ trong tay người đều biến thành gươm đao.
Con người dùng gươm đao ấy để tàn sát lẫn nhau. Nạn gươm đao diễn ra suốt bảy ngày. Sau bảy ngày thì chấm dứt.
[0523b04] Bấy giờ, có nhữ ng người biết xấu hổ, biết tự thẹ n, nhờm gớm, chán ghét, không ưa những điều hung ác kia. Lúc có nạn đao binh bảy ngày, họ đi vào núi non hoặc đồng nội, ẩn náu nơi yên ổn. Sau bảy ngày ấy, họ ra khỏi núi non đồng nội hay nơi ẩn náu yên ổn. Trông thấy nhau, họ sanh lòng thương cả m, yêu mế n nhau vô cùng. Như mẹ hiền có đứa con duy nhất, đã xa cách lâu ngày, nay từ phương xa yên ổn trở về vớ i gia đình, mẹ con gặ p nhau vui mừ ng, thương cả m, yêu quý nhau vô cùng. Cũ ng vậ y, sau bảy ngày, những người kia ra khỏi núi non đồng nội hay chốn ẩn náu yên ổn. Trông thấy nhau, họ sanh lòng thương cả m, yêu mế n nhau vô cùng. Trông thấ y nhau rồi, họ liền bảo: “Nà y chư Hiền! Chúng ta nay vẫn còn thấy nhau và được yên ổn. Vì chúng ta tạo pháp bất thiện nên gặp phả i hoà n cả nh nà y, thân tộc đề u đã qua đời, vậ y chúng ta phả i cùng nhau thực hành pháp thiện. Làm thế nào để cùng nhau thực hành pháp thiện? Chúng ta đều là kẻ sát sanh, nay nên xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, chúng ta nên thực hành pháp thiện nà y!” Thế rồ i, những người kia cùng nhau thực hành pháp thiện ấ y. Sau khi thực hành pháp thiện, tuổi thọ liền tăng lên, dung sắc trở nên đẹp đẽ. Này Tỳ-kheo! Lú c tuổi thọ tăng lên, dung sắc trở nên đẹp đẽ thì người thọ mười tuổi sanh con thọ hai mươi tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ hai mươi tuổi lại nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ. Chúng ta nên cùng nhau làm điều thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm điều thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, nhưng chú ng ta vẫn còn lấy của không cho, chúng ta nên xa lìa việc lấy của không cho, đoạn trừ việc lấy của không cho. Chúng ta nên cùng nhau làm điều thiện ấy.” Thế rồ i, những người kia liền cùng nhau làm điều thiện nà y. Khi đã làm điều thiện ấy, tuổi thọ lại tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lú c tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ hai mươi tuổi sanh con thọ bốn mươi tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ bốn mươi tuổi cũng nghĩ như vầy: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và hình sắc trở nên xinh đẹp hơn. Chúng ta nên làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, nhưng chú ng ta vẫn còn tà dâm. Chúng ta nên xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm. Chúng ta nên làm việc thiện ấy.” Rồ i những người kia cùng nhau làm điều thiện nà y. Khi đã làm điều thiện ấy thì tuổi thọ lại tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này các Tỳ-kheo! Lú c tuổi thọ loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ bốn mươi tuổi sanh con thọ tám mươi tuổi.


[0523c04] Này Tỳ-kheo! Người thọ tám mươi tuổi cũng nghĩ như vầy: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậy chúng ta cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, nhưng chú ng ta vẫn còn nói dối. Chúng ta nên xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối. Chúng ta nên làm việc thiện ấy.” Thế là , những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người đã tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ tám mươi tuổi sanh con thọ một trăm sáu mươi tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ một trăm sáu mươi tuổi cũng nghĩ như vầy: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, đã xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, đã xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, đã xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, nhưng chú ng ta vẫn còn nói lời hai chiều. Chúng ta nên xa lìa lời nói hai chiều, đoạn trừ lời nói hai chiều. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy.” Thế rồ i những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ một trăm sáu mươi tuổi sanh con thọ ba trăm hai mươi tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ ba trăm hai mươi tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói hai chiều và đoạn trừ lời nói hai chiều, nhưng chú ng ta còn nói lời thô ác. Chúng ta nên xa lìa lời nói thô ác, đoạn trừ lời nói thô ác. Chúng ta nên làm việc thiện ấy.” Rồ i những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ liề n tăng và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này các Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ ba trăm hai mươi tuổi sanh con thọ sáu trăm bốn mươi tuổi.
Này Tỳ-kheo! Người thọ sáu trăm bốn mươi tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói hai chiều và đoạn trừ lời nói hai chiều, xa lìa lời nói thô ác và đoạn trừ lời nói thô ác, nhưng chú ng ta vẫn còn nói lời thêu dệt. Chúng ta nên xa lìa lời nói thêu dệt, đoạn trừ lời nói thêu dệt. Chúng ta nên làm việc thiện ấy.” Thế rồi, những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ liền tăng và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ sáu trăm bốn mươi tuổi sanh con thọ hai ngàn năm trăm tuổi.


[0524a09] Này các Tỳ-kheo! Người thọ hai ngàn năm trăm tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói hai chiều và đoạn trừ lời nói hai chiều, xa lìa lời nói thô ác và đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa lời nói thêu dệt và đoạn trừ lời nói thêu dệt, nhưng chú ng ta còn tham lam, ganh ghét. Chúng ta nên xa lìa tham lam, ganh ghét; đoạn trừ tham lam, ganh ghét. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy.” Thế rồ i, những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ liền tăng và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ hai ngàn năm trăm tuổi sanh con thọ năm ngàn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ năm ngàn tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói thô ác và đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa lời nói thêu dệt và đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa tham lam ganh ghét và đoạn trừ tham lam ganh ghét, nhưng chú ng ta vẫn còn sân hận. Chúng ta nên xa lìa sân hận, đoạn trừ sân hận. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện ấy.” Rồ i những người kia liền cùng nhau làm việc thiện nà y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ liền tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ năm ngàn tuổi sanh ra con thọ một vạn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Người thọ một vạn tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm việc thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lờ i nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói hai chiều và đoạn trừ lời nói hai chiều, xa lìa lời nói thô ác và đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa lời nói thêu dệt và đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa tham lam ganh ghét và đoạn trừ tham lam ganh ghét, xa lìa sân hận và đoạn trừ sân hận, nhưng chú ng ta vẫn còn tà kiến. Chúng ta nên xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện này.” Thế là , những người kia liền cùng nhau làm việc thiện ấ y. Khi đã làm việc thiện ấ y thì tuổi thọ liền tăng thêm và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này các Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của con người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ một vạn tuổi sanh con thọ hai vạn tuổi.


[0524b09] Này các Tỳ-kheo! Người thọ hai vạn tuổi cũng nghĩ rằng: “Nếu cầu học điều thiện thì tuổi thọ tăng lên và hình sắc trở nên xinh đẹp hơn. Vậ y chúng ta nên cùng nhau làm điều thiện nhiều hơn. Làm thế nào để cùng nhau làm điều thiện nhiều hơn? Chúng ta đã xa lìa sát sanh và đoạn trừ sát sanh, xa lìa việc lấy của không cho và đoạn trừ việc lấy của không cho, xa lìa tà dâm và đoạn trừ tà dâm, xa lìa lời nói dối và đoạn trừ lời nói dối, xa lìa lời nói hai chiều và đoạn trừ lời nói hai chiều, xa lìa lời nói thô ác và đoạn trừ lời nói thô ác, xa lìa lời nói thêu dệt và đoạn trừ lời nói thêu dệt, xa lìa tham lam ganh ghét và đoạn trừ tham lam ganh ghét, xa lìa sân hận và đoạn trừ sân hận, xa lìa tà kiến và đoạn trừ tà kiến, nhưng chú ng ta vẫn cò n là m theo phi pháp, dụ c tham và tà pháp. Chúng ta nên xa lìa ba pháp xấu ác, bất thiện này, nên đoạn trừ ba pháp xấu ác, bất thiện này. Chúng ta nên cùng nhau làm việc thiện này.” Thế rồ i những người kia liền cùng nhau làm việc thiện ấ y. Khi đã làm việc thiện ấy thì tuổi thọ tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn. Này Tỳ-kheo! Lúc tuổi thọ của loài người tăng lên và dung sắc trở nên đẹp đẽ hơn thì người thọ hai vạn tuổi sanh con thọ bốn vạn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Khi con người thọ bốn vạn tuổi thì biết hiếu thuận với cha mẹ, tôn trọng cung kính Sa-môn và Phạm chí, làm việc lợi lạc, tu tập nghiệp phước và biết tội lỗi đời sau. Vì hiếu thuận với cha mẹ, tôn trọng cung kính Sa-môn và Phạm chí, làm việc lợi lạc, tu tập nghiệp phước và biết tội lỗi đời sau nên người thọ bốn vạn tuổi sanh con thọ tám vạn tuổi.


Này Tỳ-kheo! Lúc con người thọ tám vạn tuổi thì châu Diêm-phù này rấ t giàu có sung túc, dân chúng đông đúc, thôn ấp gần nhau bằng khoảng cách con gà bay. Này Tỳ-kheo! Lúc con người thọ tám vạn tuổi thì con gái đến năm trăm tuổi mới lấy chồng. Này Tỳ-kheo! Lúc con người thọ tám vạn tuổi thì chỉ có những bệnh như lạnh, nóng, đại tiểu tiện, mong muốn, ăn uống và già, ngoài ra không có các bệnh khác. Này Tỳ-kheo! Lúc loài người thọ tám vạn tuổi thì có vua tên Loa13 làm Chuyển Luân Vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân thống trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương đú ng như pháp, thành tựu bảy báu, là bánh xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Nhà vua có đủ ngàn người con trai dung mạo khôi ngô, tuấn tú, dõng mãnh, không sợ hãi, hàng phục được kẻ khác. Nhà vua thống lãnh từ đất liền cho đến biển cả mà không động binh đao, chỉ dùng chá nh pháp giáo hóa khiến dân chúng được an vui.


Này Tỳ-kheo! Các Vua Sát-lợi Đảnh Sanh được làm vua của cõi người, cai trị thiên hạ, đi lại trong cõi nước của mình mà Phụ vương đã truyền trao. Vì đi lại trong cõi nước của mình mà Phụ vương đã truyền trao nên tuổi thọ củ a các vị vua ấy không giảm xuống, dung sắc không thô xấu, chưa từng mất sự an vui, thế lực cũng không suy giảm.


Này các Tỳ-kheo! Các thầy cũng nên như vậy, đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo thì phả i đi lại trong cõi nước của mình mà người cha đã truyền trao. Này các Tỳ-kheo! Nhờ đi lại trong cõi nước của mình mà người cha đã truyền trao nên tuổi thọ của các thầy không suy giảm, dung sắc không thô xấu, chưa từng mất sự an vui, thế lự c cũng không suy giảm.


[0524c14] Thế nào là Tỳ-kheo đi lại trong cõi nước của mình mà người cha đã truyền trao? Đó là Tỳ-kheo quán nội thân đúng như thân, quán nội thọ đúng như thọ, quán nội tâm đúng như tâm, quán nội pháp đúng như pháp.14 Đó gọi là Tỳ-kheo đi lại trong cõi nước của mình mà người cha đã truyền trao.
Thế nào là tuổi thọ của Tỳ-kheo? Tỳ-kheo tu dục định như ý túc,15 nương hạnh viễn ly, nương hạnh vô dục, nương hạnh diệt tận mà hướng đến xuất ly; tu tinh tấn định, tu tâm định, tu tư duy định như ý túc, nương hạnh viễn ly, nương hạnh vô dục, nương hạ nh diệt tận mà hướng đến xuất ly. Đây gọ i là tuổi thọ của Tỳ-kheo.


Thế nào là sắc của Tỳ-kheo? Tỳ-kheo tu tập giới cấm, thủ hộ Giới giải thoát, lại khéo thu nhiếp oai nghi lễ tiết, thấy nhữ ng tội nhỏ nhặt cũ ng thường canh cánh lo sợ để thọ trì học giới. Đó gọ i là sắc của Tỳ-kheo.


Thế nào là sự an lạc của Tỳ-kheo? Tỳ-kheo lìa dục, lìa pháp ác bất thiện,... (cho đến) chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú. Đó là niềm an lạc của Tỳ-kheo.


Thế nào là thế lực của Tỳ-kheo? Tỳ-kheo đã diệt sạch các lậu, chứng đắc vô lậu, được tâm giải thoát, được tuệ giải thoát, ngay trong hiện đời, tự biết tự ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu an trú và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Đó là thế lực của Tỳ-kheo.


Này Tỳ-kheo! Như Lai không thấy có thế lực nào mà không thể hàng phục như thế lự c của Ma vương, nhưng Tỳ-kheo lậu tận thì vẫ n có thể hàng phục được nhờ thế lự c trí tuệ vô thượng.


[0525a01] Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.16

Chú Thích
1 Nguyên tác: Chuyển Luân Vương kinh 轉輪王經 (T.01. 0026.70. 0520b16). Tham chiếu: Chuyển Luân Thánh Vương tu hành kinh 轉輪聖王修行經 (T.01. 0026.6. 0039a21); D. 26, Cakkavatti Sῑhanāda Sutta (Kinh Chuyển Luân Thánh Vương sư tử hống).
2 Ma-đâu-lệ Sát-lợi (摩兜麗刹利, Mātula), một ngôi làng tại Magadha.
3 Sử hà (駛河, Sarayu). Theo DPPN, đây là tên gọi của một con sông lớn chia đôi đất nước Kiề u-tá t-la (Kosala) thành 2 miền, Bắc Kosala (Uttara Kosala) và Nam Kosala (Dakkhina Kosala). Con sông này ngày nay còn gọi là sông Ghaghara.
4 Nguyên tác: Tự quy kỷ pháp (自歸己法). DĀ. 2 ghi là “đương tự quy y” (當自歸依).
5 Kiên Niệm (堅念, Daḷhanemi). DĀ. 6 ghi là Kiên Cố Niệm (堅固念).
6 Xem nội dung đầy đủ trong Đại Thiên nại lâm kinh 大天㮈林經 (T.01. 0026.67. 0511c21).
7 Sát-lợi Đảnh Sanh vương (刹利頂生王, Rājā khattiyo muddhāvasitto), người dòng Sát-lợi, được truyền ngôi bằng nghi thức Quán đảnh.
8 Nguyên tác: Thuyết tùng giải thoát (說從解脫). Xem chú thích 2, kinh số 69, tr. 419.
9 Nguyên tác: Thô ngôn (麤言), dùng như “thô ác” (麤惡).
10 Bại tử (稗子), loại cỏ giống như lúa. D. 26: Hạt kudrūsaka.
11 Đàn phạt (彈罰): Tra hỏi rồi trừng phạt.
12 Đao binh kiếp (刀兵劫, satthantara kappa).
13 Loa (螺, Saṅkha).
14 Nguyên tá c: Quán nội thân như thân, quán nội giác, tâm, pháp như pháp (觀內身如身,觀內覺,心,法如法). Xem chú thích 3, kinh số 41, tr. 272.
15 Dục định như ý túc (欲定如意足). Tạp. 雜 (T.02. 0099.179. 0047a07) gọi là Dục định đoạn hành thành tựu như ý túc (欲定斷行成就如意足).
16 Bản Hán, hết quyển 15.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.