Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Câu-thi,2 ngụ trong rừng Sa-la của lực sĩ Hòa-bạt-đơn.3
Bấy giờ, vào thời khắc sau cùng sắp nhập Niết-bàn, đức Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan:
– Này A-nan! Hãy đến trải chỗ nằm cho Như Lai giữa hai cây Sa-la,4 đầu xoay về hướng Bắc. Vào giữa đêm nay, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.
Vâng lời Phật dạy, Tôn giả A-nan liền đến trải chỗ nằm cho Như Lai giữa hai cây Sa-la, đầu xoay về hướng Bắc. Trải chỗ nằm xong, Tôn giả A-nan trở lại chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Con đã trải chỗ nằm cho Như Lai giữa hai cây Sa-la, đầu xoay về hướng Bắc. Kính mong Thế Tôn biết đúng thời.
Bấy giờ, Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Sa-la, xếp y Uất-đa-la-tăng làm bốn, trải lên chỗ nằm và gấp y Tăng-già-lê làm gối, rồi Ngài nằm nghiêng hông về bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau. Đây là thời khắc sau cùng, Phật sắp vào Niết-bàn.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật. Tôn giả chắp tay hướng Phật rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn! Còn có những thành lớn khác như, một là Chiêm-ba, hai là Xá-vệ, ba là Tỳ-xá-ly, bốn là Vương Xá, năm là Ba-la-nại và sáu là Ca-tỳ-la-vệ,5 vì sao Thế Tôn không nhập Niết-bàn ở những nơi ấy mà lại chọn đô thành nhỏ bé này, một thành nhỏ nhất trong các thành?
Bấy giờ, Thế Tôn bảo:
– Này A-nan! Thầy không nên nói rằng đây là đô thành nhỏ bé, chớ bảo đây là thành nhỏ nhất trong các thành. Vì sao như vậ y? Vì thuở quá khứ, thành Câu-thi này có tên là vương thành Câu-thi,6 giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc. Này A-nan! Vương thành Câu-thi dài mười hai do-diên và rộng bảy do-diên. Ở đây đã dựng các tháp canh cao bằng độ cao củ a một người, hoặc hai người, ba người, bốn người cho đến cao bằng bảy người.
Này A-nan! Vương thành Câu-thi có bảy lớp hào bao bọc bên ngoài. Hào được xây bằng gạch, loại gạch được tạo thành từ bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy hào đượ c rải cát bằng bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Này A-nan! Vương thành Câu-thi có bảy lớp tường thành bao bọc bên ngoài. Những lớp tường thành ấy cũng được xây bằng gạch làm từ bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Này A-nan! Vương thành Câu-thi có bảy lớp hàng cây đa-la7 bằng bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh bao bọc xung quanh. Cây đa-la bằng vàng thì hoa lá và trái bằng bạc. Cây đa-la bằng bạc thì hoa lá và trái bằng vàng. Cây đa-la bằng lưu ly thì hoa lá và trái bằng thủy tinh. Cây đa-la bằng thủy tinh thì hoa lá và trái bằng lưu ly.
[0515c04] Này A-nan! Khoảng giữa những cây đa-la có những ao hồ trồng đủ loại hoa, như hồ hoa sen xanh, hồ hoa sen hồng, hồ hoa sen đỏ và hồ hoa sen trắng.
Này A-nan! Bờ hồ trồng hoa ấy đượ c đắp bằng bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Ở đáy hồ cũ ng đượ c rải cát bằng bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Trong ao hồ ấy có những bậc thềm bằng bốn loại châu báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Thềm bằng vàng thì có bậc cấp bằng bạc, thềm bằng bạc thì có bậc cấp bằng vàng, thềm bằng lưu ly thì có bậc cấp bằng thủy tinh, thềm bằng thủy tinh thì có bậc cấp bằng lưu ly.
Này A-nan! Xung quanh các hồ ấy có lan can8 và tay vịn bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì tay vịn bằng bạc, lan can bằng bạc thì tay vịn bằng vàng, lan can bằng lưu ly thì tay vịn bằng thủy tinh, lan can bằng thủy tinh thì tay vịn bằng lưu ly.
Này A-nan! Những hồ ấy được che bằng màn lưới, có chuông quả lắc treo lơ lững ở giữa. Chuông được làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc, chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng, chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh, chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
Này A-nan! Trong hồ trồng nhiều loại hoa dưới nước như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng. Trong hồ thường có nước có hoa, không cần người trông giữ, vì thuộc về tất cả mọi người.
Này A-nan! Trên bờ hồ có trồng nhiều loại hoa trên cạ n như hoa tu-ma-na,9 hoa bà-sư,10 hoa chiêm-bặc,11 hoa tu-kiện-đề,12 hoa ma-đầu-kiện-đề,13 hoa a-đề-mâu-đa,14 hoa ba-la-đầu.15
Này A-nan! Trên bờ hồ hoa ấy, có nhiều thiếu nữ thân thể nõn nà, sạch sẽ, trong sáng, nhan sắc hơn người, chẳng kém thiên nữ, dung mạo đoan chánh, ai thấy cũng vui, được trang sức đầy đủ các loại ngọc báu. Những thiếu nữ ấy bố thí tùy theo nhu cầu của từng người, như thức ăn, y phục, xe cộ, nhà cửa, giường nệm, thảm lông, người giúp việc và đèn dầu, đều cung cấp đầy đủ cho họ.
Này A-nan! Lá cây đa-la ấy, lúc gió thổi qua thì phát ra âm thanh rất du dương, cũng như năm loại nhạc khí được nhạc sư tài ba tấu lên thì có âm thanh hài hòa tuyệt diệu. Này A-nan, lá cây đa-la ấy, lúc có gió thổi qua cũng lại như thế.
Này A-nan! Trong vương thành Câu-thi, giả sử có người tệ ác, hèn hạ nhất, muốn được thưởng thức năm loại nhạc khí, liền cùng đến giữa những cây đa-la thì đều được thưởng thức thỏa thích.
Này A-nan! Vương thành Câu-thi thường có mười hai loại âm thanh không bao giờ gián đoạn là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng đi bộ, tiếng tù và, tiếng trống, tiếng trống bạc lạc,16 tiếng trống kỹ,17 tiếng ca, tiếng múa, tiếng ăn uống, tiếng bố thí.
[0516a02] Này A-nan! Trong vương thành Câu-thi có vua tên là Đại Thiện Kiến,18 làm Chuyển Luân Vương, thông minh trí tuệ, có bốn loại quân, cai trị thiên hạ, tự do tự tại, là vị Pháp vương như pháp, thành tựu bảy báu, được bốn đức như ý. Thành tựu bảy báu và được bốn đức như ý như thế nào? Thành tựu bảy báu và được bốn đức như ý giống như đã nói ở kinh trước.19
Này A-nan! Bấy giờ ở vương thành Câu-thi, các Phạm chí, cư sĩ đem nhiều ngọc báu, kiềm-bà-la báu20 chở đến chỗ Vua Đại Thiện Kiến và thưa:
“Tâu Thiên vương! Những ngọc báu, kiêm-bà-la báu này rất nhiều, mong Thiên vương vì lòng từ mẫn mà nhận cho.”
Vua Đại Thiện Kiến bảo các Phạm chí và cư sĩ:
“Này các khanh! Các khanh hiến dâng, nhưng ta thấy chưa cần vì ta đã có.”
Này A-nan! Lại có tám vạn bốn ngàn vị vua của các nước nhỏ đến thưa với Vua Đại Thiện Kiến rằng:
“Tâu Thiên vương! Chúng thần muốn xây chánh điện cho Thiên vương.”
Vua Đại Thiện Kiến đáp:
“Các khanh muốn xây chánh điện cho ta, nhưng ta thấy chưa cần, vì ta đã có chánh điện.”
Tám vạn bốn ngàn vị vua nước nhỏ đều chắp tay hướng về Vua Đại Thiện Kiến mà thưa ba lần rằng:
“Tâu Thiên vương! Chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương! Chúng tôi muốn xây chánh điện cho Thiên vương!”
Bấy giờ, Vua Đại Thiện Kiến im lặng nhận lời của tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ. Biết Vua Đại Thiện Kiến đã im lặng nhận lời, tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ liền bái biệt, nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra. Mỗi vua đều trở về nước của mình, dùng tám vạn bốn ngàn cỗ xe chất đầy vàng và các loại tiền vàng tinh luyện hay chưa tinh luyện, lại đem các cột trụ đều bằng ngọc báu, chở đến vương thành Câu-thi, cách đó không xa để xây chánh điện rộng lớn.
Này A-nan! Chánh điện lớn ấy dài một do-diên, rộng một do-diên.
Này A-nan! Chánh điện lớn ấy được xây bằng gạch bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Này A-nan! Thềm của chánh điện lớn ấy làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Thềm bằng vàng thì bậc cấp bằng bạc, thềm bằng bạc thì bậc cấp bằng vàng, thềm bằng lưu ly thì bậc cấp bằng thủy tinh, thềm bằng thủy tinh thì bậc cấp bằng lưu ly.
Này A-nan! Trong chánh điện lớn có tám vạn bốn ngàn cột trụ làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cột bằng vàng thì bệ đỡ bằng bạc, cột bằng bạc thì bệ đỡ bằng vàng, cột bằng lưu ly thì bệ đỡ bằng thủy tinh, cột bằng thủy tinh thì bệ đỡ bằng lưu ly.
Này A-nan! Bên trong chánh điện lớn lại xây tám vạn bốn ngàn tòa lầu bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lầu bằng vàng thì mái lợp bằng bạc, lầu bằng bạc thì mái lợp bằng vàng, lầu bằng lưu ly thì mái lợp bằng thủy tinh, lầu bằng thủy tinh thì mái lợp bằng lưu ly.
[0516b03] Này A-nan! Trong chánh điện lớn có thiết trí tám vạn bốn ngàn ngự tòa cũng làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lầu bằng vàng thì thiết trí ngự tòa bằng bạc, trên ngự tò a đượ c trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Và cứ như vậy, lầu bằng bạc thì thiết trí ngự tòa bằng vàng, lầu bằng lưu ly thì thiết trí ngự tòa bằng thủy tinh, lầu bằng thủy tinh thì thiết trí ngự tòa bằng lưu ly, trên ngự tòa được trải các loại nệm lót được dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương.
Này A-nan! Xung quanh chánh điện lớn ấy có lan can tay vịn bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì tay vịn bằng bạc, lan can bằng bạc thì tay vịn bằng vàng, lan can bằng lưu ly thì tay vịn bằng thủy tinh, lan can bằng thủy tinh thì tay vịn bằng lưu ly.
Này A-nan! Chánh điện lớn ấy được che bằng màn lưới, có chuông quả lắc treo lơ lửng ở khoảng giữa. Chuông được làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc, chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng, chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh, chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
Này A-nan! Chánh điện lớn ấy sau khi được kiến thiết đầy đủ, tám vạn bốn ngàn các vua nước nhỏ liền xây một hồ sen lớn cách chánh điện không xa.
Này A-nan! Hồ sen lớn ấy dài một do-diên, rộng một do-diên.
Này A-nan! Hồ sen lớn ấy được xây bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Đáy hồ cũ ng được rải bốn loại cát báu vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh.
Này A-nan! Hồ sen lớn ấy có thềm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Thềm bằng vàng thì bậc cấp bằng bạc, thềm bằng bạc thì bậc cấp bằng vàng, thềm bằng lưu ly thì bậc cấp bằng thủy tinh, thềm bằng thủy tinh thì bậc cấp bằng lưu ly.
Này A-nan! Xung quanh hồ sen lớn ấy có lan can và tay vịn bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì tay vịn bằng bạc, lan can bằng bạc thì tay vịn bằng vàng, lan can bằng lưu ly thì tay vịn bằng thủy tinh, lan can bằng thủy tinh thì tay vịn bằng lưu ly.
Này A-nan! Hồ sen lớn ấy được che bởi màn lưới, có chuông quả lắc treo lơ lửng ở khoảng giữa. Chuông được làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc, chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng, chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh, chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
Này A-nan! Trong hồ sen lớn ấy có nhiều loại hoa dưới nước như hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ và hoa sen trắng. Trong hồ thường có nước, có hoa, có người gìn giữ và không thuộc về tất cả mọi người.
Này A-nan! Trên bờ hồ sen lớn ấy có nhiều loại hoa trên cạ n như hoa tu-ma-na, hoa bà-sư, hoa chiêm-bặc, hoa tu-kiền-đề, hoa ma-đầu-kiền-đề, hoa a-đề-mâu-đa và hoa ba-la-lại.
[0516c03] Này A-nan! Sau khi kiến trúc đại điện và ao hoa lớn như thế hoàn tất, tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ liền thiết lập một vườn đa-la cách đại điện không xa.
Này A-nan! Vườn đa-la ấy dài một do-diên, rộng một do-diên.
Này A-nan! Trong vườn đa-la, trồng tám vạn bốn ngàn cây đa-la đều dùng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Cây đa-la bằng vàng thì lá hoa và quả bằng bạc, cây đa-la bằng bạc thì lá hoa và quả bằng vàng, cây đa-la bằng lưu ly thì lá hoa và quả bằng thủy tinh, cây đa-la bằng thủy tinh thì lá hoa và quả bằng lưu ly.
Này A-nan! Vườn đa-la ấy, xung quanh có lan can, tay vịn bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Lan can bằng vàng thì tay vịn bằng bạc, lan can bằng bạc thì tay vịn bằng vàng, lan can bằng lưu ly thì tay vịn bằng thủy tinh, lan can bằng thủy tinh thì tay vịn bằng lưu ly.
Này A-nan! Vườn đa-la ấy được che bằng màn lưới, có chuông lắc treo lơ lửng ở khoảng giữa. Chuông được làm bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và thủy tinh. Chuông bằng vàng thì quả lắc bằng bạc, chuông bằng bạc thì quả lắc bằng vàng, chuông bằng lưu ly thì quả lắc bằng thủy tinh, chuông bằng thủy tinh thì quả lắc bằng lưu ly.
Này A-nan! Sau khi kiến thiết chánh điện lớn, hồ sen và vườn đa-la hoàn tất, tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ cùng đến chỗ Vua Đại Thiện Kiến, thưa:
“Tâu Thiên vương! Xin ngài biết cho, chánh điện lớn, hồ sen và vườn cây đa-la đều đã kiến thiết hoàn thành, mong Thiên vương sử dụng tùy thích.”
Này A-nan! Bấy giờ, Vua Đại Thiện Kiến liền nghĩ: “Ta không nên lên đại điện này trước. Nếu có bậc Thượng tôn, Sa-môn, Phạm chí cư ngụ ở vương thành Câu-thi này thì ta nên mời tất cả tập hợp, cùng ngồi ở đại điện này, rồi soạn các thức ăn thơm ngon, hảo hạng, đầy đủ các món ăn loại cứng và loại mềm, tự tay dâng cúng khiến các ngài được no đủ. Khi dùng bữa xong, ta thu dọn bát và bưng nước rửa rồi mời các ngài trở về.” Này A-nan! Sau khi nghĩ như vậy, Vua Đại Thiện Kiến liền mời tất cả các bậc Thượng tôn, Sa-môn, Phạm chí đang trú tại vương thành Câu-thi tập hợp trên chánh điện lớn. Tất cả đã tập hợp và an tọa xong, nhà vua đích thân lấy nước rửa, rồi đem các thức ăn thơm ngon, hảo hạng, đầy đủ các món thức ăn loại cứng và loại mềm, tự tay bưng hầu, khiến các vị ấy thọ dụng đầy đủ. Khi các vị ấy dùng xong, nhà vua thu dọn bát, đem nước rửa và nhận lời chú nguyện rồi mời các vị ấy trở về.
Này A-nan! Vua Đại Thiện Kiến lại nghĩ: “Nay ta không nên vào trong chánh điện lớn để hưởng dục lạc, ta nên đem một người hầu duy nhất lên chánh điện lớn này.” Này A-nan! Sau đó, Vua Đại Thiện Kiến chỉ đem một người hầu lên chánh điện lớn, đi vào lầu vàng rồi ngồi ở ngự tòa bạc đã được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Khi ngồi xuống ngự tòa, nhà vua liề n lìa dục, lìa các pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú.
Từ lầu vàng đi ra, nhà vua lại vào lầu bạc, ngồi vào ngự tòa vàng được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Khi ngồi xuống ngự tòa, nhà vua liền lìa dục, lìa các pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú.
Từ lầu bạc đi ra, nhà vua lại vào lầu lưu ly, ngồi vào ngự tòa thủy tinh được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Khi ngồi xuống ngự tòa, nhà vua liền lìa dục, lìa các pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú.
Từ lầu lưu ly đi ra, nhà vua lại vào lầu thủy tinh, ngồi ở ngự tòa lưu ly được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Khi ngồi xuống ngự tòa, nhà vua liền lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, có giác, có quán, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng Thiền thứ nhất, thành tựu và an trú.
[0517a19] Này A-nan! Bấy giờ, tám vạn bốn ngàn phu nhân và ngọc nữ báu đã quá lâu không gặp Vua Đại Thiện Kiến nên ai cũng nhớ mong, khao khát được gặp. Lúc đó, tám vạn bốn ngàn phu nhân cùng đi đến chỗ nữ báu và thưa:
“Thiên hậu biết cho, chúng tôi từ lâu không được hầu cận Thiên vương. Thiên hậu! Hôm nay, chúng tôi muốn cùng nhau đến thăm viếng ngài.”
Nữ báu nghe xong, liền bảo tướng quân:
“Tướng quân biết cho, chúng tôi từ lâu không được hầu cận Thiên vương, nay muốn đến thăm viếng ngài.”
Nghe như vậy rồi, tướng quân liền đưa tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu đến chánh điện lớn. Tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ, tám vạn bốn ngàn vua các nước nhỏ cùng hộ tống đi đến chánh điện lớn. Lúc cả đoàn di chuyển, tạo nên âm thanh vang dội, gây chấn động mạnh. Nghe được âm thanh vang dội, gây chấn động mạnh ấy, Vua Đại Thiện Kiến liền hỏi thị vệ bên cạnh:
“Âm thanh gì mà vang dội, gây chấn động mạnh như vậy?”
Thị vệ thưa:
“Tâu Thiên vương! Hôm nay, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu cù ng đi đến chánh điện lớn, lạ i cò n có tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ và tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ cùng đi đến chánh điện lớn, cho nên âm thanh ấy vang dội, gây chấn động mạnh như vậ y.”
Nghe xong, Vua Đại Thiện Kiến bảo thị vệ:
“Khanh hãy mau rời chánh điện, đến nơi đất trống, nhanh chó ng trải tò a ngồ i bằng vàng, rồi trở lại báo cho trẫm.”
Tuân lệnh vua, thị vệ liền từ chánh điện đi xuống, đến nơi đất trống, nhanh chóng trải tò a ngồ i bằng vàng, rồi trở lại tâu:
“Thần đã trải tò a ngồ i bằng vàng ở nơi đất trống cho Thiên vương, xin gài hãy tùy ý.”
[0517b10] Này A-nan! Vua Đại Thiện Kiến liền cùng thị vệ từ chánh điện đi xuống, lên tò a ngồ i bằ ng vàng rồ i ngồi kiết-già. Này A-nan! Bấy giờ tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu thảy đều đến trước Vua Đại Thiện Kiến. Này A-nan! Từ xa, trông thấy tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu, Vua Đại Thiện Kiến liền đóng kín các căn. Lúc ấy, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu thấy vua đóng kín các căn, liền nghĩ: “Thiên vương nay chắc chắn không cần đến chúng ta nữa. Vì sao như vậy? Vì Thiên vương vừa thấy chúng ta liền đóng kín các căn.” Này A-nan! Khi đó nữ báu đi đến trước Vua Đại Thiện Kiến và thưa:
“Tâu Thiên vương! Xin ngài biết cho, tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu này hoàn toàn thuộc về Thiên vương, mong ngài thương tưởng đến chúng thần cho đến lúc lâm chung! Tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ và tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ cũng hoàn toàn thuộc về Thiên vương, mong ngài nghĩ tưởng đến tất cả cho đến lúc lâm chung.”
Bấy giờ, nghe những lời ấy xong, Vua Đại Thiện Kiến bảo nữ báu rằng:
“Này hiền muội! Các khanh cứ mãi xúi giục trẫm làm điều ác mà không khuyến khích trẫm thực hành lòng từ. Này hiền muội! Từ nay về sau, các khanh nên khuyến khích trẫm thực hành lòng từ, chớ xúi giục trẫm làm điều ác nữa.”
Này A-nan! Tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy liền ngồi sang một bên, nước mắt tuôn rơi, khóc than bi thảm, thưa rằng:
“Chúng thiếp đâu phải là em của Thiên vương mà nay ngài gọi chúng thiếp là hiền muội.”
Này A-nan! Tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy đều dùng áo lau nước mắt, lại tiến đến trước Vua Đại Thiện Kiến và thưa:
“Tâu Thiên vương! Chúng thiếp làm thế nào để khuyến khích ngài thực hành lòng từ, không làm điều ác?”
Vua Đại Thiện Kiến đáp:
“Các hiền muội hãy nói với trẫm như vầy: ‘Thiên vương nên biết, mạng người ngắn ngủi, sẽ qua đời sau, cần phải tu Phạm hạnh, sự sống nào rồi cũng chấm dứt. Thiên vương nên biết, việc ấy chắc chắn sẽ đến, không nên mến tiếc tưởng nhớ, cũng không nên vui thích, tất cả đều sẽ hoại diệt, người đời gọi đó là chết. Thế nên, tâu Thiên vương! Nếu còn mến tiếc, tưởng nhớ, tham muốn đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu thì mong ngài hãy đoạn trừ và xa lìa tất cả, cho đến lúc lâm chung cũng chớ nghĩ tưởng. Đối với tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ và tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ, nếu Thiên vương còn mến tiếc, tưởng nhớ, tham muốn chú ng thì mong ngài hãy đoạn trừ, xa lìa tất cả, cho đến lúc lâm chung cũng chớ nghĩ tưởng.’ Này các hiền muội! Như vậ y là các hiền muội đã khuyến khích trẫm thực hành lòng từ, không xúi giục trẫm làm điều ác.”
[0517c12] Này A-nan! Tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy thưa rằng:
“Tâu Thiên vương! Từ nay về sau, chúng thiếp sẽ khuyến khích Thiên vương thực hành lòng từ, không xúi giục Thiên vương làm điều ác nữa. Chúng thiếp sẽ khuyên như vầy: ‘Tâu Thiên vương! Mạng người ngắn ngủi, rồi sẽ qua đời sau, việc ấy chắc chắn sẽ đến, không nên mến tiếc tưởng nhớ, cũng không nên vui thích, tất cả đều sẽ hoại diệt, người đời gọi đó là chết. Thế nên, Thiên vương đối với tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu nếu còn nhớ nghĩ hay tham muốn thì mong ngài hãy đoạn trừ, xa lìa tất cả, cho đến lúc lâm chung cũng chớ nghĩ tưởng. Đối với tám vạn bốn ngàn thớt voi, tám vạn bốn ngàn con ngựa, tám vạn bốn ngàn cỗ xe, tám vạn bốn ngàn lính bộ và tám vạn bốn ngàn vua nước nhỏ, nếu Thiên vương còn nhớ nghĩ hay tham muốn chú ng thì mong ngài hãy đoạn trừ, xa lìa tất cả, cho đến lúc lâm chung cũng chớ nghĩ tưởng.”’
Này A-nan! Vua Đại Thiện Kiến vì tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu mà thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ.21 Sau khi dùng vô số phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ rồ i, Vua Đại Thiện Kiến bảo họ trở về. Này A-nan! Tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu biết nhà vua ra lệnh bảo về, tất cả đều đến bái biệt.
Này A-nan! Sau khi tám vạn bốn ngàn phu nhân và nữ báu ấy trở về không lâu, Vua Đại Thiện Kiến cùng thị vệ trở lên chánh điện, vua vào lầu vàng, ngự trên tòa bạc đã được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Vua ngồi xong liền quán tưởng: “Thân này là thân cuối cùng. Các ý niệm tham muốn, sân hận, tổn hại, đấu tranh, ganh ghét, dua nịnh, gian trá, lừa gạt, nói dối và vô lượng các pháp ác, bất thiện đều là bờ mé cuối cùng. Tâm ta tương ưng với từ, bao trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cũng đều như vậy, tâm từ bao trùm khắp, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, bao la rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú.”
[0518a07] Từ lầu vàng đi ra, nhà vua vào lầu bạc, ngồi trên ngự tòa vàng đã được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua liền quán tưởng: “Thân này là thân cuối cùng. Các ý niệm tham muốn, sân hận, tổn hại, đấu tranh, ganh ghét, dua nịnh, gian trá, lừa gạt, nói dối và vô lượng các pháp ác, bất thiện đều là bờ mé cuối cùng. Tâm ta tương ưng với bi, bao trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cũng đều như vậy, tâm bi bao trùm khắp, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, bao la rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú.”
Từ lầu bạc đi ra, nhà vua vào lầu lưu ly, ngồi trên ngự tòa thủy tinh đã được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua liền quán tưởng: “Thân này là thân cuối cùng. Các ý niệm tham muốn, sân hận, tổn hại, đấu tranh, ganh ghét, dua nịnh, gian trá, lừa gạt, nói dối và vô lượng các pháp ác, bất thiện đều là bờ mé cuối cùng. Tâm ta tương ưng với hỷ, bao trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cũng đều như vậy, tâm hỷ bao trùm khắp, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, bao la rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú.”
Từ lầu lưu ly đi ra, nhà vua vào lầu thủy tinh, ngồi trên ngự tòa lưu ly được trải các loại nệm lót dệt bằng lông thú, có chăn đắp bằng gấm lụa mịn màng, hai đầu đặt gối ngủ làm bằng da sơn dương. Ngồi xong, nhà vua liền quán tưởng: “Thân này là thân cuối cùng. Các ý niệm tham muốn, sân hận, tổn hại, đấu tranh, ganh ghét, dua nịnh, gian trá, lừa gạt, nói dối và vô lượng các pháp ác, bất thiện đều là bờ mé cuối cùng. Tâm ta tương ưng với xả, bao trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới cũng đều như vậy, tâm xả bao trùm khắp, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, bao la rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, cùng khắp thế gian, thành tựu và an trú.”
[0518b02] Này A-nan! Vào thời khắc cuối cùng, Vua Đại Thiện Kiến đã băng hà với cảm giác khó chịu thoáng qua. Này A-nan! Giống như cư sĩ hoặc con cư sĩ thưởng thức món ăn ngon tuyệt thì cảm thấy có chút khó chịu thoáng qua; vào thời khắc cuối cùng, Vua Đại Thiện Kiến băng hà với cảm giác khó chịu thoáng qua cũng giống như thế.
Này A-nan! Bấy giờ Vua Đại Thiện Kiến tu bốn Phạm thất,22 đã xả bỏ niệm dục, nhờ đó mà sau khi băng hà, vua được sanh vào cõi Phạm thiên.
Này A-nan! Vua Đại Thiện Kiến thuở xưa ấy, thầy cho là ai khác chăng? Chớ nghĩ như vậy! A-nan nên biết, vị ấy chính là Như Lai.
Này A-nan! Lúc ấy, Như Lai làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, mong cầu ý nghĩa và lợi ích, cầu an ổn và hân hoan cho trời và người. Bấy giờ, Ta thuyết pháp không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo thanh tịnh, không rốt ráo Phạm hạnh. Vì không rốt ráo Phạm hạnh nên bấy giờ, Ta không lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết, khóc than, lo buồn, cũng chưa thoát khỏi mọi khổ đau.
Này A-nan! Nay Ta thị hiện ở đời, là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nay Như Lai tự làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan cho trời và người. Nay Như Lai thuyết pháp được đến chỗ rốt ráo, rốt ráo thanh tịnh, rốt ráo Phạm hạnh. Vì rốt ráo Phạm hạnh nên nay Như Lai lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết, khóc than, lo buồn. Hôm nay, Như Lai đã được thoát khỏi mọi khổ đau.
Này A-nan! Từ thành Câu-thi, từ rừng sa-la của lực sĩ Hòa-bạt-đơn, từ sông Ni-liên-nhiên,23 từ sông Bà-cầu,24 từ tinh xá Thiên Quan,25 từ việc trải chỗ nằm cho Như Lai, trong suốt thời gian đó, Như Lai đã bảy lần xả báo thân. Trong bảy lần ấy, sáu lần làm Chuyển Luân Vương, nay là lần thứ bảy trở thành Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Này A-nan! Như Lai không thấy ở đâu trong thế gian này, cho dù thiên hay Ma, Phạm, Sa-môn, Phạm chí, từ cõi trời cho đến loài người mà ở đó, Như Lai sẽ xả báo thân thêm lần nữa, vì điều đó không thể có. Này A-nan! Đây là lần thọ sanh cuối cùng của Như Lai, là sự hiện hữu cuối cùng, là thân mạng cuối cùng, là hình hài cuối cùng, là bả n ngã cuối cùng, cho nên Như Lai nói đây là giới hạn cuối cùng của khổ.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.26
Chú Thích
1 Nguyên tác: Đại Thiện Kiến vương kinh 大善見王經 (T.01. 0026.68. 0515b03). Tham chiếu: Du hành kinh 遊行經 (T.01. 0001.2. 0011a07); D. 17, Mahāsudassana Sutta (Kinh Đại Thiện Kiến vương).
2 Câu-thi thành (拘尸城, Kusinārā), thủ phủ của bộ tộc Mallā, một thị trấn nhỏ thời ấy, nơi đức Phật nhập Niết-bàn.
3 Hòa-bạt-đơn lực sĩ (惒跋單力士, Upavattana Mallā), bộ tộc Mallā ở Upavattana.
4 Nguyên tác: Song Sa-la thọ (雙裟羅樹, Yamaka Sālā), còn gọi là Kiên Cố lâm (堅固林). Theo Phiên dịch danh nghĩa tập 翻譯名義集 (T.54. 2131.3. 1100b19), cây Sa-la vốn không tàn rụi xơ xác trong cả bốn mùa, do vậy mà được gọi là “Kiên Cố” (冬夏不改, 故名堅固).
5 Chiêm-ba (瞻波, Campā), Xá-vệ (舍衛, Sāvatthi), Tỳ-xá-ly (鞞舍離, Vesāli), Vương Xá (王舍, Rājagaha), Ba-la-nại (波羅㮈, Bārānasī), Da-duy-la-vệ (加維羅衛, Kapilavatthu).
6 Câu-thi vương thành (拘尸王城, Kusāvatī), kinh thành của bộ tộc Mallā.
7 Đa-la thọ (多羅樹, tāla), một loài cây thuộc họ Cau, còn gọi là cây thốt nốt, tên khoa học Borassus Flabelliformis.
8 Nguyên tác: Câu lan (鉤欄). Theo Hán ngữ đại từ điển (漢語大詞典), lan can uốn khúc theo hình thế ngôi nhà. D. 17 ghi vedikā chỉ cho lan can cuốn tròn xung quanh chân tháp hoặc gần đỉnh tháp.
9 Tu-ma-na (修摩那, sumanā): Loại hoa lài cánh lớn.
10 Bà-sư (婆師, vassikā): Hạ sanh hoa, một loại hoa lài rất lớn và thơm.
11 Chiêm-bặc (瞻蔔, campaka): Hoa chăm-pa, có màu trắng và vàng.
12 Tu-kiện-đề (修捷提, sogandhika): Hoa súng trắng.
13 Ma-đầu-kiện-đề (摩頭捷提, madhu gandhika): Mật hương.
14 A-đề-mâu-đa (阿提牟哆, adhimuttaka) còn gọi là thiện tư hoa (善思花), có tên khoa học là Guertnera Racemosa.
15 Ba-la-đầu (波羅頭) còn gọi là ba-la-lại (波羅賴), một loại hoa màu đỏ.
16 Bạc lạc cổ (薄洛鼓).
17 Kỹ cổ (伎鼓).
18 Đại Thiện Kiến (大善見, Mahāsudassana).
19 Xem nội dung đầy đủ trong Kinh rừng xoài Đại Thiên, số 67, tr. 395.
20 Kiềm-bà-la bảo (鉗婆羅寶): Vải lông, áo lông.
21 Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發,渴仰,成就歡喜). Xem chú thích 7, kinh số 9, tr. 48.
22 Phạm thất (梵室) cũng gọi là Phạm trú (梵住, Brahmavihāra).
23 Ni-liên-nhiên (尼連然, Hiraññavatī): Con sông gần chỗ Phật nhập Niết-bàn, khác với con sông nơi đức Phật thành đạo, gọi là Ni-liên-thiền (Nerañjarā).
24 Bà-cầu (婆求, Kakutthā): Con sông gần Kusinārā. Đức Phật tắm và uống nước tại đây trước khi đến Kusinārā để nhập Niết-bàn.
25 Thiên Quan tự (天冠寺) còn gọi là “Bảo quan chi-đề” (寶冠支提), một ngôi tháp cổ trong xứ Mạt-la (Mallā). Theo Liên Hoa diện kinh 蓮華面經 (T.12. 0386.1. 1073b19), trong thời quá khứ, Phật từng làm Chuyển Luân Thánh Vương và đã cởi Thiên quan để tại nơi đây, nhân đó mà có tên (乃是我過去為轉輪聖王.解寶天冠在此). Thánh tích này ngày nay gọi là tháp Trà-tỳ (Ramabhar Stupa).
26 Bản Hán, hết quyển 14.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.