Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

65. KINH VÍ DỤ VỀ CON QUẠ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Thuở xưa, khi Vua Chuyển Luân muốn thử ngọc báu, liền cho tập hợp bốn loại quân là quân voi, quân ngựa, quân xe và quân bộ. Sau khi tập trung bốn loại quân xong, vào lúc đêm tối, nhà vua cho dựng cây tràng phan cao và đặt ngọc báu ở trên đó, rồi dẫn quân đến khu vườn rừng có lầu gác.2 Ánh sáng của ngọc báu chiếu sáng cả bốn loại quân, xa đến nửa do-diên.3


Lúc ấy, có một Phạm chí nghĩ rằng: “Ta nên đến xem Vua Chuyển Luân và bốn loại quân đang nhìn ngắm ngọc báu lưu ly.” Rồi Phạm chí lại nghĩ: “Thôi, hãy bỏ qua việc đi xem Vua Chuyển Luân và bốn loại quân nhìn ngắm ngọc báu lưu ly, ta nên đến khu rừng kia.” Nghĩ xong, Phạm chí liền đến khu rừng ấy. Đến nơi, Phạm chí đi vào rừng, ngồi bên một gốc cây. Ngồi chưa bao lâu thì có một con rái cá đi đến, Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào rái cá! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí! Hồ nước này trước đây vốn tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa, cá và rùa. Lúc trước tôi ở đó nhưng nay hồ đã khô cạn. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ đi vào sông lớn kia. Nay tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Con rái cá kia chuyện trò với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Phạm chí vẫn ngồi, lại có chim cứu mộ4 đến, Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào chim cứu mộ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí, hồ nước này trước đầy vốn tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa, cá và rùa. Trước đây, tôi ở đó nhưng nay hồ đã khô cạn. Phạm chí nên biết, tôi muốn rời bỏ nơi này để đến trú ngụ ở chỗ có nhiều xác trâu, hoặc ở chỗ có nhiều xác lừa, hoặc ở chỗ có nhiều thây người. Hôm nay, tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người.”


Chim cứu mộ nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


[0506c05] Phạm chí vẫn ngồi, lại có chim thứu5 đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào chim thứu! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí, tôi đi từ gò đất6 lớn này đến gò đất lớn khác để săn mồi, rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn xác voi, xác ngựa, xác trâu và thây người. Bây giờ, tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Chim thứu kia nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Phạm chí vẫn ngồi, lại có chim ăn bả7 đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào chim ăn bả! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí, ông có thấy chim thứu vừa đi đến không? Tôi ăn cái mà nó nhả ra. Nay tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Chim ăn bả nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Phạm chí vẫn ngồi, lại có con dã can8 đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào dã can! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí, tôi đi từ suối sâu này đến suối sâu khác, từ bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ nơi hoang vắng này đến nơi hoang vắng khác. Nay tôi muốn ăn xác voi, xác ngựa, xác trâu và thây người. Bây giờ, tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Con dã can nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Phạm chí vẫn ngồi, lại có con quạ9 đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào chim quạ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Này Phạm chí, ông ương ngạnh, cuồng si, vì sao hỏi tôi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
Chim quạ mắng vào mặt Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Phạm chí vẫn ngồi, lại có con đười ươi10 đến. Phạm chí trông thấy liền hỏi:
“Chào đười ươi! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”
“Thưa Phạm chí, tôi từ vườn này đến vườn khác, từ đền miếu này đến đền miếu khác, từ khu rừng này đến khu rừng khác, uống nước suối trong, ăn trái cây tốt rồi đến đây. Nay tôi muốn đi, không sợ loài người.”


Đười ươi nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi.


Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
– Ta nói các ví dụ này là muốn các thầy hiểu rõ ý nghĩa. Các thầy nên biết, nói các ví dụ như thế, đều có ý nghĩa cả.


Lúc con rái cá nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ này có ý nghĩa như thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống.11 Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo ấy đắp y, ôm bát vào thôn khất thực mà không phòng hộ thân, không giữ gìn các căn, không vững chánh niệm, nhưng vị ấy lại thuyết pháp, những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó, vị ấy được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị ấy càng đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình hưởng thụ. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn.


Cũng như Phạm chí thấy loài rái cá rồi hỏi: “Chào rái cá! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Rái cá đáp: “Thưa Phạm chí, trước kia hồ ấy tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, nhiều hoa, cá và rùa. Trước tôi ở đó, nhưng nay hồ đã khô cạn. Phạm chí nên biết, tôi muốn bỏ đi vào sông lớn kia. Giờ tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.” Như Lai nói Tỳ-kheo ấy cũng giống như thế, rơi vào trong pháp ác, bất thiện, nhiễm ô, tạo gốc rễ tái sanh đời sau và khổ báo phiền não nung đốt về sau, là nguyên nhân của sanh, già, bệnh, chết. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như con rái cá, chớ nương vào phi pháp để duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, ưa sống viễn ly và tu tập hạnh tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu học như vậy.


[0507a21] Lúc chim cứu mộ nói chuyện với Phạm chí như vậy rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ này có ý nghĩa như thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống. Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo ấy đắp y, ôm bát vào thôn khất thực mà không phòng hộ thân, không giữ gìn các căn, không vững chánh niệm. Vị ấy vào nhà người khác giáo hóa, thuyết pháp, những pháp do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó, vị ấy được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị ấy càng đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình hưởng thụ. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim cứu mộ rồi hỏi: “Chào cứu mộ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Cứu mộ đáp:
“Thưa Phạm chí, trước kia hồ ấy tràn đầy mạch nước trong, có nhiều ngó sen, hoa, cá và rùa. Trước đây tôi ở đó, nhưng nay hồ đã khô cạn, Phạm chí nên biết, tôi muốn đến ở chỗ có nhiều xác trâu, hoặc chỗ có nhiều xác lừa, nhiều thây người. Nay tôi muốn đi nhưng chỉ sợ loài người.”


Như Lai nói Tỳ-kheo ấy cũng giống như thế, rơi vào trong pháp ác, bất thiện, nhiễm ô, tạo gốc rễ tái sanh đời sau và khổ báo phiền não nung đốt về sau, là nguyên nhân của sanh, già, bệnh, chết. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như chim cứu mộ, chớ nương vào phi pháp để tự duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, thích sống viễn ly và tu tập hạnh tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu tập như vậy.


[0507b12] Lúc chim thứu kia nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ ấy có ý nghĩa như thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống. Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo ấy đắp y, ôm bát vào thôn khất thực mà không phòng hộ thân, không giữ gìn các căn, không vững chánh niệm. Vị ấy vào nhà người khác để giáo hóa, thuyết pháp, những pháp do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Nhờ đó, vị ấy được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình hưởng thụ. Vị Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim thứu rồi hỏi: “Chào chim thứu! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Chim thứu đáp: “Thưa Phạm chí, tôi từ gò đất lớn này đến gò đất lớn khác săn mồi rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn xác voi, xác ngựa, xác trâu hoặc thây người. Bây giờ, tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Như Lai nói Tỳ-kheo đó cũng giống như thế. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như chim thứu, chớ nương vào phi pháp để duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, ưa sống viễn ly và tu tập hạnh tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu tập như vậy.


[0507c01] Lúc chim ăn bả kia nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ ấy có ý nghĩa như thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống. Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo ấy đắp y, ôm bát vào thôn khất thực mà không phòng hộ thân, không giữ gìn các căn, không vững chánh niệm. Vị ấy vào chỗ ở của Tỳ-kheo-ni để giáo hóa, thuyết pháp, những pháp do Phật thuyết, hoặc do Thanh văn thuyết. Tỳ-kheo-ni kia đến nhiều nhà khác, nói tốt nói xấu, thọ nhận phẩm vật của tín thí rồi đem về cho vị Tỳ-kheo. Nhờ đó, vị Tỳ-kheo ấy được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình hưởng thụ. Vị Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim ăn bả rồi hỏi: “Chào chim ăn bả! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Chim ăn bả đáp: “Thưa Phạm chí, ông thấy con chim thứu vừa đi đó không? Tôi ăn cái mà nó nhả ra. Bây giờ, tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Như Lai nói Tỳ-kheo ấy cũng giống như vậy. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như chim ăn bả, chớ nương vào phi pháp để duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú ở nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, thích viễn ly và tu tập hạnh tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu tập như vậy.


Lúc con dã can nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ ấy có ý nghĩa như thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo sống tại một thôn nghèo, nếu Tỳ-kheo biết trong thôn ấp và thành quách có nhiều bậc trí tuệ, tinh tấn, Phạm hạnh thì liền tránh đi, nếu biết trong thôn ấp và thành quách không có bậc trí tuệ, tinh tấn, Phạm hạnh thì đến ở, suốt chín tháng hoặc mười tháng. Các Tỳ-kheo khác thấy liền hỏi:
“Hiền giả du hóa xứ nào?”


Tỳ-kheo ấy đáp:
“Thưa chư Hiền! Tôi du hóa ở thôn nghèo xứ ấy.”
Các Tỳ-kheo nghe xong liền nghĩ: “Hiền giả này du hóa ở nơi khó du hóa. Vì sao như vậy? Vì Hiền giả này có thể du hóa được nơi thôn nghèo đó.” Các Tỳ-kheo ấy liền cung kính, đảnh lễ, cúng dường. Nhờ đó, vị Tỳ-kheo kia được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình sử dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy con dã can rồi hỏi: “Chào dã can! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Con dã can đáp: “Thưa Phạm chí, tôi từ suối sâu này đến suối sâu khác, từ bụi rậm này đến bụi rậm khác, từ chốn hoang vắng này đến chốn hoang vắng khác rồi đến đây. Nay tôi muốn ăn xác voi, xác ngựa, xác trâu hoặc thây người. Giờ tôi muốn đi, nhưng chỉ sợ loài người.”


Như Lai nói Tỳ-kheo ấy cũng giống như vậy. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như con dã can, chớ nương theo phi pháp để duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú ở nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, ưa sống viễn ly, tu tập tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu học như vậy.


[0508a12] Lúc chim quạ mắng vào mặt Phạm chí như vậy rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ ấy có ý nghĩa thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào nơi thanh vắng, nghèo nàn mà an cư mùa mưa, nếu Tỳ-kheo ấy biết trong thôn ấp và thành quách có nhiều bậc trí tuệ, tinh tấn, Phạm hạnh thì liền tránh đi, nếu biết trong thôn ấp và thành quách không có bậc trí tuệ, tinh tấn, Phạm hạnh thì đến ở hai tháng, ba tháng. Các Tỳ-kheo khác thấy liền hỏi:
“Hiền giả an cư mùa mưa nơi nào?”
“Thưa chư Hiền, hiện giờ tôi an cư mùa mưa ở nơi thanh vắng, nghèo nàn ấy. Tôi không giống như bọn ngu si kia làm sẵn giường chõng, đầy đủ năm việc,12 rồi sống yên ổn trong đó, từ sáng đến chiều, từ chiều đến sáng, miệng chạy theo vị, vị trôi theo miệng, khẩn cầu rồi lại khẩn cầu, van xin rồi lại van xin.”


Khi các Tỳ-kheo nghe xong, liền nghĩ rằng: “Hiền giả này làm những việc khó làm. Vì sao như vậy? Vì Hiền giả này có thể an cư mùa mưa ở nơi thanh vắng, nghèo nàn kia.” Các Tỳ-kheo ấy liền cung kính, lễ bái, cúng dường. Nhờ đó, vị Tỳ-kheo kia được lợi dưỡng, như được y phục, thực phẩm, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cần cho sự sống. Sau khi được lợi dưỡng, vị Tỳ-kheo ấy lại đắm trước thêm, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình sử dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, làm đủ việc xấu, đứng sát bờ họa, trở nên tệ hại, không phải Phạm hạnh mà tự xưng là Phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xưng là Sa-môn. Giống như Phạm chí thấy chim quạ rồi hỏi: “Chào chim quạ! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Chim quạ đáp: “Này Phạm chí, ông là kẻ ương ngạnh, cuồng si, vì sao hỏi tôi rằng: ‘Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?”’


Như Lai nói Tỳ-kheo ấy cũng giống như vậy. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như con quạ, chớ nương theo phi pháp để duy trì sự sống, hãy tịnh hóa hành vi của ba nghiệp thân, miệng và ý, an trú ở nơi thanh vắng, mặc y phấn tảo, thường đi khất thực, thứ lớp khất thực, ít muốn biết đủ, ưa sống viễn ly và tu tập hạnh tinh cần, an trú chánh niệm, chánh trí, chánh định, chánh tuệ, thường phải viễn ly, nên tu học như vậy.


[0508b07] Con đười ươi kia nói chuyện với Phạm chí rồi bỏ đi, Như Lai nói ví dụ ấy có ý nghĩa thế nào? Giả sử có vị Tỳ-kheo nương vào thôn ấp mà sống. Vào lúc sáng sớm, Tỳ-kheo ấy đắp y, ôm bát vào thôn khất thực, khéo phòng hộ thân, gìn giữ các căn, vững vàng chánh niệm. Từ thôn ấp khất thực rồi ăn xong, sau đó thu xếp y bát, rửa tay chân, lấy tọa cụ vắt lên vai đi đến nơi thanh vắng, hoặc đến bên gốc cây, hoặc vào trong nhà trống, trải tọa cụ mà ngồi kiết-già, thân tâm ngay thẳng, chuyên niệm hướng nội, đoạn trừ tham lam, tâm không tranh đoạt, thấy của cải và vật dụng sinh sống của người khác thì không móng khởi tâm tham, mong sẽ thuộc về mình. Đối với tâm tham lam, vị ấy đã trừ sạch. Đối với sân hận, thụy miên, trạo cử, đoạn nghi, trừ hoặc cũng vậy, không còn do dự với các thiện pháp, trong tâm trừ sạch tâm niệm nghi hoặc. Đối với năm loại ngăn che khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, vị ấy đã trừ sạch, đã lìa dục, lìa pháp ác, bất thiện, cho đến chứng đắc Thiền thứ tư, thành tựu và an trú. Vị ấy chứng đắc định tâm thanh tịnh như vậy, không còn uế nhiễm, không còn não phiền, khéo trụ nhu hòa, được tâm bất động, hướng đến chứng ngộ Lậu tận trí thông; rồi vị ấy biết như thật rằng: “Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường đưa đến khổ diệt”; biết như thật rằng: “Đây là phiền não, đây là nguyên nhân gây nên phiền não, đây là sự hết phiền não và đây là con đường đưa đến sự hết phiền não.” Sau khi đã biết như vậy, đã thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, giải thoát rồi liền biết mình đã giải thoát và biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Giống như Phạm chí thấy đười ươi rồi hỏi: “Chào đười ươi! Ngươi từ đâu đến và muốn đi đâu?” Đười ươi đáp: “Thưa Phạm chí, tôi từ vườn này đến vườn khác, từ đền miếu này đến đền miếu khác, từ khu rừng này đến khu rừng khác, uống nước suối trong, ăn trái cây tốt rồi đến đây. Nay tôi muốn đi, chẳng sợ loài người.”


Như Lai nói Tỳ-kheo cũng như vậy. Thế nên, Tỳ-kheo chớ sống như loài rái cá, chớ sống như chim cứu mộ, chớ sống như chim thứu, chớ sống như chim ăn bả, chớ sống như con dã can, chớ sống như chim quạ mà nên sống như đười ươi. Vì sao như vậy? Bởi vì bậc Vô trước Chân nhân trong thế gian cũng sống giống như đười ươi vậy.


Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích
1 Nguyên tác: Ô điểu dụ kinh 烏鳥喻經 (T.01. 0026.65. 0506b11).
2 Viên quán (園觀). Xem chú thích 10, kinh số 64, tr. 372.
3 Do-diên (由延). Xem chú thích 4, kinh số 2, tr. 11.
4 Nguyên tác: Cứu mộ điểu (究暮鳥). Theo nội dung kinh, có khả năng chỉ cho chim từ-ý (鶿鷧), cũng gọi chim lô-tư (鸕鶿), chim cốc, cốc đế… chuyên bắt cá, cua và các loài nhuyễn thể, có tên khoa học là Phalacrocorax Carbo.
5 Nguyên tác: Thứu điểu (鷲鳥).
6 Nguyên tác: Mộ (墓). Theo Khang Hy từ điển (康煕辭典), “mộ” chỉ cho gò đất (丘也).
7 Nguyên tác: Thực thổ điểu (食吐鳥): Chim ăn thức ăn do loài khác nôn ra.
8 Sài thú (豺獸, sigāla): Chó rừng, dã can (野幹, 野干).
9 Ô điểu (烏鳥).
10 Tinh tinh thú (猩猩獸).
11Y thôn ấp hành (依村邑行), khác với ý đoạn dưới ghi là “hành ư vô sự” (行於無事).
12 Ngũ sự (五事). Tăng. 增 (T.02. 0125.51.4. 0817b05-13) gọi là “ngũ tệ” (五弊) gồm: lười biếng, ngủ nhiều, tâm loạn, các căn bất định, thích ở phố chợ hơn nơi vắng vẻ.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.