Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Ta dùng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó: Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
[0503b03] Giống như khi mưa lớn, nhiều bọt nước nổi trên mặt nước rồi biến mất liên tục. Nếu người có mắt đứng yên một chỗ thì nhìn thấy bọt nước thoạt nổi, thoạt tan. Cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, Ta thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó. Nếu chúng sanh nào thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
Giống như khi mưa lớn thì nhiều giọt nước rơi xuống, hoặc trên cao hoặc dưới thấp, nếu người có mắt đứng yên một chỗ thì nhìn thấy những hạt mưa có lúc rơi xuống chỗ cao, có lúc rơi vào chỗ thấp. Cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, Ta thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
[0503b22] Như viên ngọc lưu ly trong suốt tự nhiên, vốn không tì vết, tám cạnh được khéo mài,2 xâu bằng dây đẹp nhiều màu như xanh, vàng, hoặc đỏ, đen và trắng. Nếu có người mắt sáng đứng yên một chỗ nhìn thì thấy những viên ngọc lưu ly này trong suốt tự nhiên, vốn không tì vết, tám cạnh được khéo mài, xâu bằng dây đẹp nhiều màu như xanh, vàng, hoặc đỏ, đen và trắng. Cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, Ta thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
[0503c04] Giống như hai ngôi nhà có chung một cổng, có nhiều người đi ra đi vào, nếu người có mắt đứng yên một chỗ thì nhìn thấy có nhiều kẻ ra người vào. Cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, Như Lai thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
Như người có mắt đứng trên lầu cao, thấy phía dưới nhiều người qua lại liên tục, hoặc ngồi nằm, hoặc chạy nhảy. Cũng như vậy, bằng thiên nhãn thanh tịnh hơn hẳn người thường, Ta thấy chúng sanh lúc sanh lúc tử, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc tốt hoặc không tốt, qua lại cõi lành hoặc cõi ác đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh đó đã tạo. Ta thấy đúng như thật về chúng sanh đó. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc ác, miệng nói lời ác và ý nghĩ điều ác, hủy báng bậc Thánh, tà kiến và kết thành nghiệp tà kiến, do nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi ác, hoặc đọa vào địa ngục. Nếu chúng sanh nào mà thân làm việc thiện, miệng nói lời thiện và ý nghĩ điều thiện, không hủy báng bậc Thánh, chánh kiến và thành tựu nghiệp chánh kiến, nhờ nhân duyên này nên sau khi qua đời, chắc chắn sẽ sanh vào cõi lành, hoặc được sanh lên cõi trời.
Nếu chúng sanh nào sống ở nhân gian mà bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính Sa-môn, Phạm chí, không cư xử đúng đắn, không biết tạo phước, không sợ tội đời sau thì vì nhân duyên ấy, sau khi qua đời sẽ sanh vào cảnh giới Diêm vương. Người của Diêm vương bắt đem đến chỗ vua, tâu rằng:
– Tâu Thiên vương! Chúng sanh này khi còn làm người đã bất hiếu với cha mẹ, không tôn kính Sa-môn, Phạm chí, cư xử không đúng đắn, không biết tạo phước, không sợ tội đời sau, cúi xin Thiên vương xử phạt thích đáng!
Ngay lúc đó, Diêm vương đưa thiên sứ thứ nhất để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia rằng:
– Ông đã từng thấy thiên sứ thứ nhất đến chưa?
Chúng sanh kia đáp:
– Tâu Thiên vương, không thấy!
Diêm vương hỏi lại:
– Chẳng lẽ trước đây ông không thấy trong thôn xóm có trẻ nhỏ hoặc nam hoặc nữ, thân thể yếu ớt, nằm ngửa mà đại tiểu tiện, không thể kêu cha mẹ, phải nhờ cha mẹ ẵm khỏi chỗ dơ, tắm rửa cho nó sạch sẽ ư?
Chúng sanh ấy đáp:
– Tâu Thiên vương, có thấy!
Diêm vương lại hỏi:
– Sau khi lớn khôn hiểu biết, tại sao ông không nghĩ rằng: “Chính ta cũng bị sanh ra, không thoát khỏi sự sanh, ta nên tạo nghiệp lành cho thân, miệng và ý?”
Người ấy thưa:
– Tâu Thiên vương! Vậy lẽ nào tôi là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái ư?
Diêm vương đáp:
– Ông đúng là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái. Nay ta phải trừng trị ông như trừng trị kẻ buông lung, người có hành vi buông lung. Nghiệp ác này của ông chẳng phải do cha mẹ tạo ra, cũng chẳng phải do vua, do trời hay do Sa-môn, Phạm chí tạo ra. Chính ông đã tự tạo nghiệp ác, bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn phải thọ nhận quả báo.
[0504a12] Sau khi đưa thiên sứ thứ nhất để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia xong, Diêm vương lại đưa thiên sứ thứ hai để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia rằng:
– Ông đã từng thấy thiên sứ thứ hai đến chưa?
Chúng sanh kia đáp:
– Tâu Thiên vương, không thấy!
Diêm vương hỏi lại:
– Lẽ nào trước đây trong thôn xóm ông không thấy có kẻ nam hoặc người nữ tuổi tác già nua, mạng sống sắp hết, sức tàn lực kiệt, tóc bạc răng rụng, lưng còng gối mỏi, chống gậy mà đi, toàn thân run rẩy ư?
Chúng sanh ấy đáp:
– Tâu Thiên vương, có thấy!
Diêm vương lại hỏi:
– Sau khi lớn khôn hiểu biết, tại sao ông không nghĩ rằng: “Chính ta cũng bị già, không thoát khỏi sự già, ta nên tạo nghiệp lành cho thân, miệng và ý?”
Chúng sanh kia thưa:
– Tâu Thiên vương! Vậy lẽ nào tôi là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái ư?
Diêm vương bảo:
– Ông đúng là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái. Nay ta phải trừng trị ông như trừng trị kẻ buông lung, người có hành vi buông lung. Nghiệp ác này của ông chẳng phải do cha mẹ tạo ra, cũng chẳng phải do vua, do trời hay do Sa-môn, Phạm chí tạo ra. Chính ông đã tự tạo nghiệp ác, bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn phải thọ nhận quả báo.
[0504a25] Sau khi đưa thiên sứ thứ hai để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia xong, Diêm vương lại đưa thiên sứ thứ ba để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia rằng:
– Ông đã từng thấy thiên sứ thứ ba đến chưa?
Chúng sanh kia đáp:
– Tâu Thiên vương, không thấy!
Diêm vương hỏi lại:
– Lẽ nào trước đây trong thôn xóm ông không nhìn thấy có kẻ nam hoặc người nữ bị bệnh tật nguy kịch, hoặc ngồi nằm trên giường, ngồi nằm trên chõng, hoặc ngồi nằm dưới đất, thân thể đau đớn cùng cực, không thể chịu đựng nổi, gần như mất mạng ư?
Chúng sanh ấy đáp:
– Tâu Thiên vương, có thấy!
Diêm vương lại hỏi:
– Sau khi lớn khôn hiểu biết, tại sao ông không nghĩ rằng: “Chính ta cũng bị bệnh tật, không thoát khỏi bệnh tật, ta nên tạo nghiệp lành cho thân, miệng và ý?”
Chúng sanh kia thưa:
– Tâu Thiên vương! Vậy lẽ nào tôi là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái ư?
Diêm vương bảo:
– Ông đúng là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái. Nay ta phải trừng trị ông như trừng trị kẻ buông lung, người có hành vi buông lung. Nghiệp ác này của ông chẳng phải do cha mẹ tạo ra, cũng chẳng phải do vua, do trời hay do Sa-môn, Phạm chí tạo ra. Chính ông đã tự tạo nghiệp ác, bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn phải thọ nhận quả báo.
[0504b09] Sau khi đưa thiên sứ thứ ba để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia xong, Diêm vương lại đưa thiên sứ thứ tư để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia rằng:
– Ông đã từng thấy thiên sứ thứ tư đến chưa?
Chúng sanh kia đáp:
– Tâu Thiên vương, không thấy!
Diêm vương hỏi lại:
– Chẳng lẽ trước đây trong thôn xóm, ông không thấy có kẻ nam hoặc người nữ qua đời một, hai ngày,... (cho đến) sáu, bảy ngày, rồi thân xác bị diều hâu mổ, bị chó hoang ăn, bị lửa củi thiêu đốt, hoặc bị vùi chôn xuống đất, da thịt thối rữa ư?
Chúng sanh ấy đáp:
– Tâu Thiên vương, có thấy!
Diêm vương lại hỏi:
– Sau khi khôn lớn hiểu biết, tại sao ông không nghĩ rằng: “Chính ta cũng sẽ chết, không thoát khỏi sự chết, ta nên tạo nghiệp lành cho thân, miệng và ý?”
Chúng sanh kia thưa:
– Tâu Thiên vương! Vậy lẽ nào tôi là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái ư?
Diêm vương bảo:
– Ông đúng là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái. Nay ta phải trừng trị ông như trừng trị kẻ buông lung, người có hành vi buông lung. Nghiệp ác này của ông chẳng phải do cha mẹ tạo ra, cũng chẳng phải do vua, do trời hay do Sa-môn, Phạm chí tạo ra. Chính ông đã tự tạo nghiệp ác, bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn phải thọ nhận quả báo.
[0504b22] Sau khi đưa thiên sứ thứ tư để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia xong, Diêm vương lại đưa thiên sứ thứ năm để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia rằng:
– Ông đã từng thấy thiên sứ thứ năm đến chưa?
Chúng sanh kia đáp:
– Tâu Thiên vương, không thấy!
Diêm vương hỏi lại:
– Chẳng lẽ trước đây ông không thấy quan binh truy nã tội nhân, trừng trị đủ cách: Chặt tay, chặt chân hoặc chặt cả tay lẫn chân, cắt tai xẻo mũi hoặc cắt cả tai lẫn mũi, hoặc thái hoặc bằm, nhổ râu nhổ tóc hoặc cả râu lẫn tóc, bỏ vào trong cũi hay quấn trong vải rồi đốt, hoặc phủ cát quấn cỏ mà đốt, hoặc cho vào bụng lừa sắt, miệng heo sắt hay miệng cọp sắt rồi đốt, hoặc bỏ vào chảo đồng hay chảo sắt rồi nấu, hoặc chặt ra từng đoạn, hoặc dùng chĩa nhọn mà đâm, hoặc dùng câu liêm mà móc, hoặc bắt nằm trên giường sắt rồi dội dầu sôi, hoặc bắt ngồi vào cối sắt rồi dùng chày sắt giã, hoặc cho rắn rết cắn, hoặc dùng roi da mà quất, hoặc dùng gậy mà đánh, hoặc dùng hèo mà phang, hoặc treo trên ngọn cây, hoặc chặt đầu đem bêu ư?
Chúng sanh ấy đáp:
– Tâu Thiên vương, có thấy!
Diêm vương lại hỏi:
– Sau khi lớn khôn hiểu biết, tại sao ông không nghĩ rằng: “Nay ta đã thấy rõ điều ác, điều bất thiện?”
Chúng sanh kia thưa:
– Tâu Thiên vương! Vậy lẽ nào tôi là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái ư?
Diêm vương bảo:
– Ông đúng là kẻ bại hoại, suy đồi và luôn sai trái. Nay ta phải trừng trị ông như trừng trị kẻ buông lung, người có hành vi buông lung. Nghiệp ác này của ông chẳng phải do cha mẹ tạo ra, cũng chẳng phải do vua, do trời hay do Sa-môn, Phạm chí tạo ra. Chính ông đã tự tạo nghiệp ác, bất thiện, cho nên hôm nay chắc chắn phải thọ nhận quả báo.
[0504c12] Sau khi đưa thiên sứ thứ năm để tra hỏi, kiểm xét, dạy bảo và quở trách tội nhân kia xong, Diêm vương liền giao tội nhân cho cai ngục.3 Cai ngục đem tội nhân giam vào địa ngục lớn Bốn Cửa, rồi nói bài tụng:
Bốn cột có bốn cửa, Vách vuông, mười hai cạnh,4
Dùng sắt làm tường thành, Mái sắt lợp lên trên.
Nền ngục cũng bằng sắt, Lửa sắt hừng hực nung,
Sâu vô lượng do-diên, Đến tận cùng đáy đất.
Chỗ cực hiểm, khó kham, Lửa dữ, nhìn hoa mắt,
Thấy rồi, lông dựng đứng, Khủng khiếp, khổ vô cùng.
Chúng sanh đọa địa ngục, Chân treo, đầu chúc xuống,
Do chê bai bậc Thánh, Đấng Điều ngự, Thanh tịnh.
Thời gian rất lâu về sau, cửa ngục phía Đông của địa ngục lớn Bốn Cửa mở ra cho chúng sanh kia. Khi cửa ngục được mở rồi, các chúng sanh kia liền chạy về hướng cửa này, muốn tìm nơi an ổn, muốn tìm chỗ nương tựa. Thế nhưng, khi có vô lượng trăm ngàn chúng sanh tụ tập thì cửa ngục này liền tự động đóng lại. Chúng sanh ở trong đó chịu đựng khổ đau cùng cực, khóc lóc sầu não, lăn lộn kêu gào, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Thời gian rất lâu xa về sau nữa, cửa ngục phía Nam, phía Tây rồi phía Bắc lần lượt được mở ra. Cũng vậy, khi cửa ngục phía Bắc mở rồi, các chúng sanh kia liền chạy về hướng cửa này, muốn tìm nơi an ổn, muốn tìm chỗ nương tựa. Thế nhưng, khi có vô lượng trăm ngàn chúng sanh tụ tập thì cửa ngục này liền tự động đóng lại. Chúng sanh ở trong đó chịu đựng khổ đau cùng cực, khóc lóc sầu não, lăn lộn kêu gào, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
[0505a04] Thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, các chúng sanh kia thoát khỏi địa ngục lớn Bốn Cửa, ra khỏi địa ngục lớn Bốn Cửa lại rơi vào địa ngục Phong Nham. Ngục này đầy lửa nhưng không có khói, không có lửa ngọn. Chúng sanh trong ngục ấy phải đi qua đi lại liên tục trên lửa, bước chân xuống thì da thịt máu huyết ở hai bàn chân cháy sạch, nhấc chân lên liền trở lại như cũ. Địa ngục ấy hành hạ như vậy cho đến vô lượng trăm ngàn năm, các chúng sanh kia chịu đựng đau khổ cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Thời gian rất lâu về sau, các chúng sanh ấy thoát khỏi địa ngục lớn Phong Nham, ra khỏi địa ngục lớn Phong Nham rồi lại rơi vào địa ngục lớn Phẩn Thỉ.5 Ngục này đầy phân dơ, sâu đến hàng trăm trượng. Tất cả chúng sanh kia đều bị đọa vào trong đó. Trong địa ngục lớn Phẩn Thỉ có rất nhiều trùng tên lăng-cù-lai,6 mình trắng đầu đen, mỏ nhọn như mũi kim. Loại trùng này rúc rỉa, đục khoét bàn chân của chúng sanh kia; đục khoét bàn chân xong, lại đục khoét xương bắp vế; đục khoét xương bắp vế xong, lại đục khoét xương đùi; đục khoét xương đùi xong, lại đục khoét xương chậu; đục khoét xương chậu xong, lại đục khoét xương sống; đục khoét xương sống xong, lại đục khoét xương vai, xương cổ, xương đầu; đục khoét xương đầu xong, lại ăn sạch não. Các chúng sanh kia chịu bức bách vô lượng trăm ngàn năm như thế, chịu đau khổ cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Thời gian rất lâu xa về sau, các chúng sanh kia thoát khỏi địa ngục lớn Phẩn Thỉ, ra khỏi địa ngục lớn Phẩn Thỉ lại rơi vào địa ngục lớn Rừng Lá Sắt.7 Chúng sanh ấy nhìn thấy nơi này, tưởng là mát mẻ, nghĩ rằng: “Chúng ta hãy đến đó, thật sảng khoái mát mẻ.” Các chúng sanh kia liền chạy về hướng đó, muốn tìm nơi an ổn, muốn tìm chỗ nương tựa. Thế nhưng, khi có vô lượng trăm ngàn chúng sanh tụ tập thì họ liền bị đọa vào địa ngục lớn Rừng Lá Sắt. Trong địa ngục lớn Rừng Lá Sắt này, bốn bề gió nóng thổi mạnh, hễ gió nóng thổi thì lá sắt rơi rụng, khi lá sắt rụng xuống thì chúng sanh trong ngục này bị cắt lìa tay, lìa chân hoặc lìa cả tay lẫn chân, cắt lìa tai, lìa mũi hoặc lìa cả tai lẫn mũi cho đến các bộ phận khác. Toàn thân nhuốm máu trải qua vô lượng trăm ngàn năm như thế, những chúng sanh kia chịu đựng khổ đau cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Lại nữa, trong địa ngục lớn Rừng Lá Sắt ấy xuất hiện loài chó rất to lớn, bộ răng thật dài, vồ lấy chúng sanh kia, ngoạm đầu mà ăn, lột da từ đầu đến chân mà ăn. Các chúng sanh ấy bị bức bách vô lượng trăm ngàn năm như thế, chịu đựng khổ đau cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ. Trong địa ngục lớn Rừng Lá Sắt ấy còn có loài quạ rất lớn, chúng có hai đầu, với mỏ bằng sắt, đậu trên trán chúng sanh kia, mổ mắt mà nuốt, mổ vỡ sọ rồi lấy não ăn. Các chúng sanh ấy bị bức bách vô lượng trăm ngàn năm như thế, chịu đựng khổ đau cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
[0505b08] Thời gian hết sức lâu xa về sau nữa, các chúng sanh ấy thoát khỏi địa ngục lớn Rừng Lá Sắt, ra khỏi địa ngục lớn Rừng Lá Sắt lại rơi vào địa ngục lớn Rừng Cây Kiếm Sắt.8 Cây ở đây cao một do-diên, gai dài một thước sáu, các chúng sanh kia bị bắt leo lên tuột xuống cây này. Khi họ leo lên thì gai của cây liền hướng xuống, khi họ tuột xuống thì gai của cây lại dựng lên, đâm thủng toàn thân chúng sanh, đâm tay, chân hoặc cả tay lẫn chân, đâm tai, mũi hoặc cả tai lẫn mũi cho đến các bộ phận khác. Toàn thân nhuốm máu suốt vô lượng trăm ngàn năm như thế, những chúng sanh kia chịu đựng đau khổ cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Thời gian rất lâu về sau, các chúng sanh ấy thoát khỏi địa ngục lớn Rừng Cây Kiếm Sắt, ra khỏi địa ngục lớn Rừng Cây Kiếm Sắt rồi lại rơi vào địa ngục Sông Tro.9 Địa ngục Sông Tro này có hai bờ rất cao, bao quanh toàn gai nhọn, nước tro sôi vọt lên, lòng sông lại rất tối. Các chúng sanh kia nhìn thấy rồi tưởng nước sông kia mát và sông ấy thường có nước mát mẻ nên khởi niệm: “Chúng ta hãy đến đó, tắm rửa thỏa thích, mặc sức mà uống, mát mẻ khoái lạc.” Các chúng sanh ấy liền tranh nhau chạy đến, rồi lội xuống đó, muốn tìm nơi an ổn, muốn tìm chỗ nương tựa. Thế nhưng, khi có vô lượng trăm ngàn chúng sanh tụ tập lại thì họ liền bị đọa xuống địa ngục lớn Sông Tro. Sau khi đọa vào đó, chúng sanh hoặc trôi ngược dòng, hoặc trôi xuôi dòng, hoặc cả xuôi dòng lẫn ngược dòng. Lúc chúng sanh trôi ngược, trôi xuôi, hoặc cả ngược lẫn xuôi như thế thì da chín rã, thịt chín rã hoặc cả da và thịt cùng chín rã, chỉ còn trơ lại bộ xương. Hai bên bờ sông có cai ngục cầm sẵn đao kiếm, gậy gộc, chĩa ba lớn bằng sắt, nếu có chúng sanh nào muốn leo lên bờ thì lập tức bị đẩy xuống trở lại. Lại nữa, hai bên bờ sông có cai ngục tay cầm móc câu ném xuống lòng sông, móc chúng sanh lên rồi bỏ trên nền sắt đang nóng hừng hực, hoặc móc lấy chúng sanh ấy đưa lên rồi quật mạnh xuống, khiến họ quằn quại xoay tròn trên đất, rồi lại hỏi:
– Ông từ đâu đến?
Các chúng sanh ấy đều đáp:
– Chúng tôi không biết từ đâu đến đây, chỉ biết là đang rất đói.
Cai ngục liền tóm lấy các chúng sanh kia ném lên giường sắt đang nóng hừng hực, bắt phải ngồi trên đó, dùng kẹp sắt nóng vạch miệng bỏ hòn sắt nóng rực vào. Hòn sắt ấy đốt cháy môi, cháy môi xong rồi đốt cháy lưỡi, cháy lưỡi xong rồi đốt cháy nướu răng, cháy nướu răng xong rồi đốt cháy cuống họng, cháy cuống họng xong rồi lại đốt cháy tim, cháy tim xong rồi lại đốt cháy dạ dày, cháy dạ dày xong rồi lại đốt cháy ruột non, cháy ruột non xong rồi lại đốt cháy ruột già, cháy ruột già xong thì viên sắt từ thân rơi xuống. Các chúng sanh ấy bị bức bách như vậy suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
[0505c11] Cai ngục ấy lại hỏi chúng sanh:
– Ông muốn đi đâu?
Chúng sanh đó trả lời:
– Chúng tôi chẳng biết muốn đi đâu, chỉ biết là đang rất khát!
Cai ngục liền tóm lấy chúng sanh ấy ném lên giường sắt đang nóng, đang cháy đỏ rực, buộc họ ngồi trên đó, dùng kẹp sắt nóng vạch miệng ra rồi đổ nước đồng sôi vào. Nước đồng sôi ấy đốt cháy môi, cháy môi xong rồi đốt cháy lưỡi, cháy lưỡi xong rồi đốt cháy nướu răng, cháy nướu răng xong rồi đốt cháy cuống họng, cháy cuống họng xong rồi lại đốt cháy tim, cháy tim xong rồi lại đốt cháy dạ dày, cháy dạ dày xong rồi lại đốt cháy ruột non, cháy ruột non xong rồi lại đốt cháy ruột già, cháy ruột già xong thì nước ấy từ thân chảy xuống. Các chúng sanh ấy bị bức bách như vậy suốt vô lượng trăm ngàn năm, chịu khổ đau cùng tột, nhưng rốt cuộc không thể chết được, vì cốt là để khiến cho nghiệp ác, bất thiện của kẻ kia được tiêu trừ.
Nếu nghiệp ác của những chúng sanh ở địa ngục kia chưa được dứt sạch, chưa dứt sạch hoàn toàn đến mức chẳng còn sót lại gì thì những chúng sanh ấy lại phải bị đọa vào địa ngục lớn Sông Tro, lại phải leo lên tuột xuống ở địa ngục lớn Rừng Cây Kiếm Sắt, lại đọa vào địa ngục lớn Rừng Lá Sắt, lại rơi xuống địa ngục lớn Phẩn Thỉ, lại phải qua lại trong địa ngục Phong Nham, lại vào địa ngục lớn Bốn Cửa.
Nếu nghiệp ác, bất thiện của những chúng sanh kia được dứt sạch, dứt sạch hoàn toàn đến mức không còn sót lại gì thì những chúng sanh ấy từ đó về sau hoặc sanh vào loài súc sanh, hoặc sanh vào loài ngạ quỷ, hoặc sanh về cõi trời. Nếu chúng sanh ấy khi làm người vốn đã bất hiếu cha mẹ, không tôn kính Sa-môn, Phạm chí, không cư xử đúng đắn, không biết tạo phước, không sợ tội đời sau thì phải nhận khổ báo không đáng thương, không đáng nhớ, không đáng vui, giống như đang còn ở trong địa ngục kia vậy. Nếu chúng sanh ấy khi làm người đã hiếu thảo cha mẹ, lại tôn kính Sa-môn, Phạm chí, cư xử đúng đắn, biết tạo phước lành, sợ tội đời sau thì được hưởng lạc báo thương, đáng nhớ, đáng vui, giống như đang ở cung điện của thiên thần trong hư không vậy.
[0506a04] Thuở xưa, tại khu vườn rừng có lầu gác,10 Diêm vương đã phát nguyện rằng: “Sau khi qua đời, ta mong được sanh vào cõi người, trong gia tộc giàu có tột cùng, của cải vô lượng, sản nghiệp vật nuôi không thể tính, phong hộ thực ấp11 đầy đủ mọi thứ. Điều đó có nghĩa gì? Là gia tộc đại trưởng giả thuộc dòng Sát-lợi, là gia tộc đại trưởng giả thuộc dòng Phạm chí, là gia tộc đại trưởng giả thuộc dòng Cư sĩ. Ta sanh vào những gia tộc đó với sự giàu có tột cùng, của cải vô lượng, sản nghiệp vật nuôi không thể tính, phong hộ thực ấp đầy đủ mọi thứ như vậy. Sanh vào đó rồi, thành tựu giác căn, ta mong có lòng tin thanh tịnh đối với Chánh pháp được Như Lai thuyết giảng. Có lòng tin thanh tịnh rồi, ta cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo. Sở dĩ một người thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo là chỉ vì muốn thành tựu Phạm hạnh vô thượng, ngay trong hiện đời, vị ấy tự biết, tự giác ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu an trú và biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Xưa kia nơi khu vườn rừng có lầu gác, Diêm vương đã nguyện như thế, rồi đọc kệ:
Bị thiên sứ quở trách, Người vẫn cứ buông lung,
Cứ mãi vương sầu não, Vì ác dục ngăn che.
Bị thiên sứ quở trách, Bậc Thượng nhân chân thật,
Đến chết không buông lung, Pháp bậc Thánh khéo nói.12
Hiểu thủ13 nên khiếp sợ, Mong cầu dứt sanh, già,
Thủ diệt sạch không còn, Sanh, lão liền kết thúc,
Được an vui, yên ổn,14 Được diệt độ15 hiện đời,
Vượt khỏi mọi khiếp sợ, Tức vượt dòng tử sanh.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.16
Chú Thích
1 Nguyên tác: Thiên sứ kinh 天使經 (T.01. 0026.64. 0503a21). Tham chiếu: Thế ký kinh 世記經 (T.01. 0001.30.4. 0121b28); Thiết thành Nê-lê kinh 鐵城泥犁經 (T.01. 0042. 0826c26); Diêm-la vương ngũ thiên sứ giả kinh 閻羅王五天使者經 (T.01. 0043. 0828b12); Nê-lê kinh 泥犁經 (T.01. 0084. 0907a10); Tăng. 增 (T.02. 0125.32.4. 0674b16); Tăng. 增 (T.02. 0125.42.2. 0747c05); Ngũ khổ chương cú kinh 五苦章句經 (T.17. 0741. 0543c03); M. 130, Devadūta Sutta (Kinh thiên sứ); A. 3.36 - I. 138.
2 Nguyên tác: Bát lăng thiện trị (八楞善治).
3 Nguyên tác: Ngục tốt (獄卒).
4 Nguyên tác: Bích phương thập nhị lăng (壁方十二楞). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.42.2. 0747c18): Tứ thành tứ môn hộ (四城四門戶). Trong trường hợp này có thể hiểu rằng, có bốn lớp thành vuông vức, mỗi lớp thành có bốn cửa, mỗi cạnh của tường thành có một cửa.
5 Phẩn thỉ (糞屎, gūtha): Phân, chất thải.
6 Lăng-cù-lai (凌瞿來).
7 Nguyên tác: Thiết Diệp lâm (鐵鍱林, Asipattavana).
8 Thiết Kiếm thọ lâm (鐵劍樹林).
9 Nguyên tác: Khôi hà (灰河, Khārodakā).
10 Nguyên tác: Viên quán (園觀), nơi có vườn cây xanh mát, lầu đài cao đẹp.
11 Phong hộ thực ấp (封戶食邑): Đất đai do nhà vua phong tặng.
12 Nguyên tác: Thiện thuyết diệu Thánh pháp (善說妙聖法). Tham chiếu: M. 130: Ariyadhamme kudācanaṃ (luôn sống trong giáo pháp của bậc Thánh).
13 Nguyên tác: Thọ (受), cách viết khác chỉ cho “chấp trước, thủ trước, thủ” (執著, 取著, 取, upādāna).
14 An ẩn lạc (安隱樂). Tham chiếu: M. 130: Khemappattā (đạt đến yên ổn).
15 Hiện pháp đắc diệt độ (現法得滅度). Diệt độ (滅度), tên khác của “tịch tịnh” (abhinibbuta). Tham chiếu: M. 130: Diṭṭhadhammābhinibbutā (ngay hiện tại tịch tịnh), HT. Thích Minh Châu dịch.
16 Bản Hán, hết quyển 12.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.