Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Câu-tát-la.2
Bấy giờ, Thế Tôn cùng với đại chúng Tỳ-kheo đang đi trên đường, bỗng nhiên Ngài mỉm cười hoan hỷ. Thấy như vậy, Tôn giả A-nan liền chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà Ngài mỉm cười? Các đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác nếu không có nhân duyên gì thì không bao giờ mỉm cười. Con muốn được nghe về ý nghĩa đó.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo:
– Này A-nan! Ngay tại nơi này, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã từng ngồi và thuyết pháp cho chúng đệ tử.
Lúc ấy, Tôn giả A-nan liền nhanh chóng trải tọa cụ ngay nơi ấy, rồi chắp tay hướng Phật và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Cúi xin Thế Tôn cũng ngồi tại đây mà thuyết pháp cho chúng đệ tử. Như vậy, chỗ này là nơi hành đạo của hai đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Bấy giờ, đức Thế Tôn liền ngồi xuống chỗ mà Tôn giả A-nan đã trải. Sau khi đã ngồi xuống, Ngài bảo:
– Này A-nan! Ngay tại nơi này, có một giảng đường vào thời đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã ngồi trong giảng đường ấy để thuyết pháp cho chúng đệ tử. Này A-nan! Thuở xưa, ở nơi này có thôn tên Tỳ-bà-lăng-kỳ3 giàu có vô cùng, dân chúng đông đúc. Trong thôn có Phạm chí đại trưởng giả tên Vô Nhuế, giàu sang tột bậc, của cải vô số, sản nghiệp vật nuôi không thể tính kể, phong hộ thực ấp4 mọi thứ đầy đủ. Này A-nan! Phạm chí đại trưởng giả Vô Nhuế có người con thiếu niên tên Ưu-đa-la,5 được cha mẹ nuông chiều, sanh trong gia đình thuần tịnh, bảy đời cha mẹ luôn giữ gìn huyết thống, đời đời không bị pha tạp,6 học rộng hiểu nhiều, thông thuộc bốn bộ Vệ-đà,7 am tường năm thể tài ngôn ngữ là căn nguyên, chú giải, nghi quỹ, văn chương và cổ sử.8 Này A-nan! Thiếu niên Ưu-đa-la có người bạn hiền làm nghề thợ gốm tên Nan-đề-ba-la,9 thường được Ưu-đa-la quý mến, gặp gỡ chuyện trò không biết nhàm chán.
[0499b04] Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la đã quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý, không nghi ngờ chân lý khổ, tập, diệt, đạo; có chánh tín, giữ giới, học rộng, hay bố thí, thành tựu trí tuệ, xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xả bỏ đao gậy, biết hổ biết thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh cho đến các loài côn trùng. Đối với việc sát sanh, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc lấy vật không cho, đoạn trừ việc lấy vật không cho, được cho mới lấy, vui lòng nhận những gì được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không tiếc, không mong báo đáp. Đối với việc lấy vật không cho, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa tà dâm,10 đoạn trừ tà dâm, siêng tu Phạm hạnh, gắng tu hạnh lành, thanh tịnh không nhiễm, lìa dục đoạn dâm. Đối với việc tà dâm, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, chỉ nói lời chân thật, ưa sự chân thật, giữ tâm chân thật không hề dao động, hoàn toàn đáng tin, không dối với đời. Đối với việc nói dối, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói chia rẽ, đoạn trừ lời nói hai chiều, không nói lời hai chiều, không phá hoại người, không nghe chuyện người này rồi nói lại người kia với ý phá hoại người này; không nghe chuyện người kia rồi nói lại người này với ý phá hoại người kia, ai chia lìa thì làm cho hòa hợp, ai hòa hợp thì khiến cho hoan hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè đảng, không khen bè đảng. Đối với việc nói hai chiều, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói lời thô ác, đoạn trừ nói lời thô ác. Nếu có lời lẽ thô lỗ cộc cằn, nặng nề khó nghe, khiến người không vui, khiến người không thích, khiến người khổ não, không thể định tĩnh thì vị ấy không nói những lời như vậy. Nếu có lời lẽ hòa nhã nhu thuận, nhẹ nhàng dễ nghe, đáng ưa đáng thích, khiến người an lạc, thanh âm rõ ràng, không làm người sợ, khiến người định tĩnh thì vị ấy nói những lời như vậy. Đối với việc nói lời thô ác, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt nói đúng lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, lời nói từ tốn, thích nói từ tốn, đúng thời đúng phép, khéo dạy khéo răn. Đối với việc nói thêu dệt, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0499c01] Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa buôn bán, đoạn trừ buôn bán, từ bỏ cân đong và đấu hộc, không tích trữ đầu cơ, không ép giá người khác, không cân non đong thiếu, không vì lợi nhỏ mà lường gạt người. Đối với việc buôn bán, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận quả phụ, thiếu nữ, đoạn trừ việc nhận quả phụ, thiếu nữ. Đối với việc nhận quả phụ và thiếu nữ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận tôi tớ, đoạn trừ việc nhận tôi tớ. Đối với việc nhận tôi tớ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi, ngựa, trâu, dê. Đối với việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan, thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo. Đối với việc nhận gà, heo, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận ruộng đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng đất, quán xá. Đối với việc nhận ruộng đất, quán xá, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận nếp, lúa, đậu, đoạn trừ việc nhận nếp, lúa, đậu. Đối với việc nhận nếp, lúa, đậu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Đối với việc uống rượu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nằm giường cao rộng, đoạn trừ việc nằm giường cao rộng. Đối với việc nằm giường cao rộng, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, đoạn trừ việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, phấn sáp. Đối với việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, thoa hương, phấn sáp, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, đoạn trừ việc ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe. Đối với việc ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc cất giữ vàng bạc, châu báu, đoạn trừ việc cất giữ vàng bạc, châu báu. Đối với việc cất giữ vàng bạc, châu báu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa ăn quá ngọ, đoạn trừ ăn quá ngọ, thường ăn một bữa, không ăn ban đêm, tập ăn đúng thời. Đối với việc ăn quá ngọ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la trọn đời không cày cuốc, không tự tay đào đất, không bảo người đào, chỉ lấy đất sạt lở nơi bờ đê hoặc đất do chuột đào hang để làm đồ gốm, rồi đem ra trao đổi với người mua, bảo với họ: “Các vị nếu có đậu oản,11 lúa thóc, lúa mì, hạt mè, hạt cải thì đem đến đây, rồi mang đồ gốm này đi, tùy theo ý muốn.”
Này A-nan! Thợ gốm Nan-đề-ba-la trọn đời phụng dưỡng cha mẹ, bởi cha mẹ mù lòa cần nơi nương tựa nên Nan-đề-ba-la hết lòng hầu hạ.
[0500a04] Này A-nan! Khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Nan-đề-ba-la đi đến chỗ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ rồi ngồi sang một bên. Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho ông ta, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ. Sau khi dùng nhiều phương tiện thuyết pháp cho ông ấy, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ rồi, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ngồi yên lặng.
Này A-nan! Sau khi được đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ rồi, thợ gốm Nan-đề-ba-la từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh đức Phật ba vòng rồi ra về.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, thiếu niên Ưu-đa-la cưỡi xe ngựa trắng cùng năm trăm thiếu niên khác từ thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ đi đến một nơi thanh vắng để giảng dạy Thánh điển Vệ-đà12 cho chúng đệ tử từ nhiều nơi khác đến học. Giữa đường, thiếu niên Ưu-đa-la nhìn thấy Nan-đề-ba-la từ xa, liền tiến đến hỏi:
– Này Nan-đề-ba-la, anh từ đâu đến đây?
Nan-đề-ba-la đáp:
– Hôm nay, tôi đến cúng dường, đảnh lễ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, xong rồi đến đây. Này Ưu-đa-la! Anh có thể cùng tôi đến chỗ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cúng dường, đảnh lễ không?
Thiếu niên Ưu-đa-la đáp:
– Này Nan-đề-ba-la! Tôi không muốn thấy Sa-môn trọc đầu. Sa-môn trọc đầu không thể đắc đạo, vì đạo khó chứng đắc.
Nghe vậy, thợ gốm Nan-đề-ba-la liền nắm lấy búi tóc của thiếu niên Ưu-đa-la rồi kéo xuống khỏi xe. Khi ấy, Ưu-đa-la nghĩ: “Thợ gốm Nan-đề-ba-la này bình thường không bỡn cợt, không dễ nổi nóng nhưng nay lại nắm tóc mình, chắc có gì đây?” Nghĩ thế rồi, liền nói:
– Nan-đề-ba-la! Tôi đi theo anh, tôi đi theo anh.
Nghe vậy, Nan-đề-ba-la vui vẻ đáp:
– Đi thì tốt lắm!
Thế rồi, cả hai cùng đến chỗ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đảnh lễ xong rồi ngồi sang một bên. Khi ấy, Nan-đề-ba-la thưa với đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác rằng:
– Bạch Thế Tôn! Thiếu niên Ưu-đa-la này là bạn của con, rất quý mến con, thường thích gặp con không hề biết chán, nhưng đối với Thế Tôn thì bạn ấy không có lòng tôn kính và tin tưởng. Cúi mong Ngài hãy vì bạn ấy mà thuyết pháp, khiến bạn ấy hoan hỷ, có lòng tôn kính và tin tưởng Ngài.
Khi ấy, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác vì thợ gốm Nan-đề-ba-la và thiếu niên Ưu-đa-la mà thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ. Sau khi dùng nhiều phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ cho hai vị ấy xong, Ngài ngồi yên lặng.
Bấy giờ, sau khi được nghe đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ xong, thợ gốm Nan-đề-ba-la và thiếu niên Ưu-đa-la liền từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi ra về.
[0500b11] Trên đường trở về, đi chưa được bao xa, thiếu niên Ưu-đa-la hỏi bạn:
– Này Nan-đề-ba-la! Anh đã được nghe pháp vi diệu như thế từ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, tại sao còn ở nhà? Sao không lìa bỏ gia đình để học Thánh đạo?
Thợ gốm Nan-đề-ba-la đáp:
– Này Ưu-đa-la! Anh cũng biết là tôi phải trọn đời phụng dưỡng cha mẹ. Cha mẹ mù lòa, cần nơi nương tựa, bởi vậy tôi phải ở nhà hầu hạ cha mẹ.
Khi ấy, thiếu niên Ưu-đa-la hỏi:
– Này Nan-đề-ba-la! Tôi có thể theo đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, làm vị Tỳ-kheo, tu hành Phạm hạnh được chăng?
Lúc đó, thợ gốm Nan-đề-ba-la và thiếu niên Ưu-đa-la liền quay lại chỗ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác. Đến rồi, hai người đảnh lễ đức Phật rồi ngồi sang một bên. Thợ gốm Nan-đề-ba-la bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Trên đường trở về chưa được bao xa, thiếu niên Ưu-đa-la này hỏi con rằng: “Này Nan-đề-ba-la! Anh đã được nghe pháp vi diệu như thế từ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, tại sao còn ở nhà? Sao không lìa bỏ gia đình để học Thánh đạo?” Bạch Thế Tôn! Con đã trả lời: “Này Ưu-đa-la! Anh cũng biết là tôi phải trọn đời phụng dưỡng cha mẹ. Cha mẹ mù lòa, cần nơi nương tựa, bởi vậy tôi phải ở nhà hầu hạ cha mẹ.” Ưu-đa-la lại hỏi: “Này Nan-đề-ba-la! Tôi có thể theo đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác xuất gia học đạo, thọ giới Cụ túc, làm vị Tỳ-kheo, tu hành Phạm hạnh được chăng?” Bạch Thế Tôn! Xin Ngài hãy độ cho bạn con xuất gia học đạo, truyền giới Cụ túc để bạn ấy được làm Tỳ-kheo.
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác im lặng nhận lời. Sau khi biết đức Phật đã chấp thuận, thợ gốm Nan-đề-ba-la từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi ra về.
[0500c06] Sau khi Nan-đề-ba-la ra về không lâu, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác độ cho thiếu niên Ưu-đa-la xuất gia học đạo, truyền trao giới Cụ túc. Sau khi độ Ưu-đa-la xuất gia học đạo và thọ giới Cụ túc xong rồi, đức Ca-diếp Như Lai ở thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ thêm vài ngày nữa, rồi Ngài đắp y, ôm bát cùng đại chúng Tỳ-kheo du hành, hướng đến thành Ba-la-nại,13 nước Ca-tư.14 Sau thời gian tuần tự du hành, Ngài đã đến thành Ba-la-nại, trú tại vườn Nai,15 chỗ của các tiên nhân.
Bấy giờ, Vua Giáp-tỳ16 nghe tin đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cùng đại chúng Tỳ-kheo du hành qua nước Ca-tư và đã đến thành Ba-la-nại, hiện đang trú tại vườn Lộc Dã, nhà vua liền bảo người đánh xe:
– Khanh hãy chuẩn bị xa giá! Hôm nay, trẫm muốn đến chỗ đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác.
Tuân lệnh vua, người đánh xe liền chuẩn bị xa giá, xong rồi trở lại tâu:
– Thần đã chuẩn bị xe xong, xin Thiên vương ngự giá!
Lúc ấy, Vua Giáp-tỳ ngự trên xe báu, từ thành Ba-la-nại đi đến vườn Lộc Dã. Từ xa, nhà vua trông thấy đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ở giữa rừng cây, thân tướng đoan chánh rạng ngời như vầng trăng giữa các vì sao, chói lọi tỏa sáng tựa như núi vàng, tướng tốt vẹn toàn, uy nghiêm sừng sững, các căn vắng lặng, không bị ngăn che, thành tựu sự tự chế ngự, tâm tư tĩnh lặng. Thấy vậy rồi, nhà vua liền xuống xe đi bộ đến chỗ đức Ca-diếp Như Lai, cung kính đảnh lễ rồi ngồi sang một bên. Khi Vua Giáp-tỳ đã ngồi xuống, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thuyết pháp cho vua nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ. Sau khi đã dùng nhiều phương tiện thuyết pháp cho nhà vua nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ rồi, Ngài ngồi yên lặng.
Bấy giờ, sau khi được đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ rồi, Vua Giáp-tỳ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai, chắp tay hướng về đức Ca-diếp thưa:
– Cúi xin Thế Tôn cùng đại chúng Tỳ-kheo ngày mai nhận lời mời cúng dường bữa cơm trưa của con!
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác vì Vua Giáp-tỳ mà im lặng nhận lời thỉnh. Biết Như Lai đã chấp thuận, nhà vua cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi lui ra, quay trở về cung.
Đêm ấy, vua cho chuẩn bị đầy đủ món ăn thơm ngon, tinh khiết, với nhiều loại thức ăn mềm và cứng, ngay trong đêm đã bày biện hoàn tất. Sáng sớm hôm sau, vua cho trải chỗ ngồi rồi đến bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Nay đã đến giờ, thức ăn dọn sẵn, cúi mong Thế Tôn đúng thời quang lâm.
[0501a08] Bấy giờ, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đắp y, ôm bát, cùng đại chúng Tỳ-kheo tháp tùng theo sau, đi đến cung điện của Vua Giáp-tỳ, rồi Ngài ngồi vào tòa phía trên các Tỳ-kheo. Thấy Phật và đại chúng đã ngồi xong, Vua Giáp-tỳ liền tự tay múc nước rửa, tự tay dâng cúng đầy đủ món ăn thơm ngon tinh khiết, với nhiều loại thức ăn mềm và cứng, khiến Phật và đại chúng được no đủ. Thọ thực rồi thu dọn bát, lấy nước rửa xong, vua lấy cái ghế nhỏ ngồi sang bên cạnh nghe pháp. Vua Giáp-tỳ ngồi xuống rồi, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác liền thuyết pháp cho vua, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ. Sau khi dùng nhiều phương tiện thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến vua được hoan hỷ xong, Phật ngồi yên lặng.
Sau khi được nghe Như Lai thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ rồi, Vua Giáp-tỳ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai, chắp tay hướng về đức Phật thưa:
– Cúi mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời thỉnh của con mà an cư mùa mưa tại thành Ba-la-nại này. Con xin xây cất năm trăm gian phòng, sắm sửa năm trăm giường nệm và chăn bằng lông dê,17 gạo trắng, cũng như các loại thức ăn, những vật phẩm như vua dùng để dâng lên cúng dường Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo!
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác bảo Vua Giáp-tỳ:
– Thôi, thôi, Đại vương! Chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
Vua Giáp-tỳ ba lần chắp tay hướng về đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thưa thỉnh:
– Cúi mong Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo nhận lời thỉnh của con mà an cư mùa mưa tại thành Ba-la-nại này. Con xin xây cất năm trăm gian phòng, sắm sửa năm trăm giường nệm và chăn bằng lông dê, gạo trắng, cũng như các loại thức ăn, những vật phẩm như vua dùng để dâng lên cúng dường Thế Tôn và chúng Tỳ-kheo.
Thế nhưng, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng ba lần bảo nhà vua:
– Thôi, thôi, Đại vương! Chỉ cần có tâm hoan hỷ là đủ.
[0501b03] Bấy giờ, Vua Giáp-tỳ ấm ức bất mãn, tâm tư ưu sầu, thầm nghĩ: “Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và chúng Tỳ-kheo không vì ta mà an cư mùa mưa tại Ba-la-nại này.” Nghĩ như thế rồi, vua bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Có cư sĩ tại gia nào phụng sự Thế Tôn giống con chăng?
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác bảo:
– Có chứ! Tại thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ thuộc lãnh thổ của Đại vương, nơi ấy giàu có tột cùng, dân chúng đông đúc, có người thợ gốm tên Nan-đề-bà-la. Đại vương! Nan-đề-ba-la đã quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý, không nghi ngờ chân lý khổ, tập, diệt, đạo. Vị ấy có chánh tín, giữ giới, học rộng, bố thí, thành tựu trí tuệ, xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, xả bỏ đao gậy, biết hổ biết thẹn, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả chúng sanh cho đến các loài côn trùng. Đối với việc sát sanh, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc lấy vật không cho, đoạn trừ việc lấy vật không cho, được cho mới lấy, vui lòng nhận những gì được cho, thường ưa bố thí, hoan hỷ không tiếc, không mong báo đáp. Đối với việc lấy vật không cho, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa tà dâm, đoạn trừ tà dâm, siêng tu Phạm hạnh, gắng tu hạnh lành, thanh tịnh không nhiễm, lìa dục đoạn dâm. Đối với việc tà dâm, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói dối, đoạn trừ nói dối, chỉ nói lời chân thật, ưa sự chân thật, giữ tâm chân thật không hề dao động, là người hoàn toàn đáng tin, không dối cuộc đời. Đối với việc nói dối, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói lời gây chia rẽ, đoạn trừ nói lời gây chia rẽ, không nói lời gây chia rẽ, không phá hoại người, không nghe chuyện người này rồi nói lại người kia với ý phá hoại người này, không nghe chuyện người kia rồi nói lại người này với ý phá hoại người kia, ai chia lìa thì muốn cho hòa hợp, ai hòa hợp thì khiến cho hoan hỷ, không lập bè đảng, không ưa bè đảng, không khen bè đảng. Đối với việc nói lời gây chia rẽ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói lời thô ác, đoạn trừ nói lời thô ác. Nếu có lời lẽ thô lỗ cộc cằn, nặng nề khó nghe, khiến người không vui, khiến người không thích, khiến người khổ não, không thể định tĩnh thì vị ấy không nói những lời như vậy. Nếu có lời lẽ hòa nhã nhu thuận, nhẹ nhàng dễ nghe, đáng ưa đáng thích, khiến người an lạc, thanh âm rõ ràng, không làm người sợ, khiến người định tĩnh thì vị ấy nói những lời như vậy. Đối với việc nói lời thô ác, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa nói thêu dệt, đoạn trừ nói thêu dệt, nói đúng lúc, nói chân thật, nói về pháp, nói về nghĩa, lời nói từ tốn, thích nói từ tốn, đúng thời đúng phép, khéo dạy khéo răn. Đối với việc nói thêu dệt, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0501c07] Này Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa buôn bán, đoạn trừ buôn bán, từ bỏ cân đong và đấu hộc, không tích trữ đầu cơ, không ép giá người khác, không cân non đong thiếu, không vì lợi nhỏ mà lường gạt người. Đối với việc buôn bán, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận quả phụ, thiếu nữ, đoạn trừ việc nhận quả phụ, thiếu nữ. Đối với việc nhận quả phụ và thiếu nữ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận tôi tớ, đoạn trừ việc nhận tôi tớ. Đối với việc nhận tôi tớ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, đoạn trừ việc nhận voi, ngựa, trâu, dê. Đối với việc nhận voi, ngựa, trâu, dê, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận gà, heo, đoạn trừ việc nhận gà, heo. Đối với việc nhận gà, heo, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận ruộng đất, quán xá, đoạn trừ việc nhận ruộng đất, quán xá. Đối với việc nhận ruộng đất, quán xá, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nhận nếp, lúa, đậu, đoạn trừ việc nhận nếp, lúa, đậu. Đối với việc nhận nếp, lúa, đậu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa rượu, đoạn trừ rượu. Đối với việc uống rượu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc nằm giường cao rộng, đoạn trừ việc nằm giường cao rộng. Đối với việc nằm giường cao rộng, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, đoạn trừ việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp. Đối với việc đeo vòng hoa, chuỗi ngọc, xoa hương, phấn sáp, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, đoạn trừ ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe. Đối với việc ca múa hát xướng cho đến đi xem nghe, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa việc cất giữ vàng bạc, châu báu, đoạn trừ việc cất giữ vàng bạc, châu báu. Đối với việc cất giữ vàng bạc, châu báu, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la xa lìa ăn quá ngọ, đoạn trừ ăn quá ngọ, thường ăn một bữa, không ăn ban đêm, tập ăn đúng thời. Đối với việc ăn quá ngọ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0502a04] Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la trọn đời không cày cuốc, không tự tay đào đất, không bảo người đào, chỉ lấy đất sạt lở nơi bờ đê hoặc đất do chuột đào hang để làm đồ gốm, rồi đem ra trao đổi với người mua, bảo với họ: “Các vị nếu có đậu oản, lúa thóc, lúa mì, hạt mè, hạt cải thì đem đến đây, rồi mang đồ gốm này đi, tùy theo ý muốn.” Thợ gốm Nan-đề-ba-la trọn đời phụng dưỡng cha mẹ, bởi cha mẹ mù lòa cần nơi nương tựa, nên Nan-đề-ba-la hết lòng hầu hạ.
Đại vương! Ta nhớ lúc trước, có lần du hóa tại thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ. Bấy giờ, trời vừa hừng sáng, Ta đắp y ôm bát vào thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ theo thứ tự từng nhà khất thực, rồi dần đi đến trước nhà thợ gốm Nan-đề-ba-la. Lúc đó, Nan-đề-ba-la đi vắng, Ta liền hỏi cha mẹ vị ấy: “Trưởng lão, thợ gốm đang ở đâu?” Họ đáp: “Bạch Thế Tôn! Nó vì bận chút việc nên vừa ra khỏi nhà. Thưa Thiện Thệ! Nó vì bận chút việc nên vừa đi khỏi. Bạch Thế Tôn! Trong rá có cơm, trong nồi có canh đậu, cúi xin Ngài thương xót chúng con mà lấy dùng tùy ý!” Đại vương! Ta liền thọ nhận theo pháp Uất-đan-việt,18 lấy một ít cơm canh rồi ra đi.
Khi thợ gốm Nan-đề-ba-la trở về nhà, thấy cơm trong rá còn ít, canh trong nồi giảm bớt, liền hỏi cha mẹ mình: “Thưa, ai đã lấy cơm canh vậy?” Cha mẹ đáp: “Này con! Hôm nay, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đến nhà mình khất thực. Ngài ấy đã lấy cơm trong rá, lấy canh trong nồi rồi ra đi.” Nan-đề-ba-la nghe xong, liền nghĩ: “Ta được lợi ích, được công đức lớn! Vì đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã tùy ý tự tại đối với gia đình ta.” Do việc này, vị ấy vô cùng hân hoan, ngồi kiết-già, tâm tư tĩnh mặc suốt cả bảy ngày, cho đến mười lăm ngày sau tâm vẫn còn hoan hỷ. Cha mẹ vị ấy cũng được hoan hỷ suốt bảy ngày.
Lại nữa, Đại vương! Ta nhớ trước đây cũng có lần du hóa tại thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ. Bấy giờ, trời vừa hừng sáng, Ta đắp y ôm bát vào thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ theo thứ tự từng nhà mà khất thực, rồi dần đi đến trước nhà thợ gốm Nan-đề-ba-la. Lúc đó, Nan-đề-ba-la nên đi vắng, Ta liền hỏi cha mẹ vị ấy: “Trưởng lão, thợ gốm đang ở đâu?” Họ đáp: “Bạch Thế Tôn! Nó vì bận chút việc nên vừa ra khỏi nhà. Thưa Thiện Thệ! Nó vì bận chút việc nên vừa đi khỏi. Bạch Thế Tôn! Trong rá có cơm, trong nồi có canh đậu, cúi xin Ngài thương xót chúng con mà lấy dùng tùy ý!” Đại vương! Ta liền thọ nhận theo pháp Uất-đan-việt, lấy một ít cơm canh rồi ra đi.
[0502b09] Khi thợ gốm Nan-đề-ba-la trở về nhà, thấy cơm trong rá còn ít, canh trong nồi giảm bớt, liền hỏi cha mẹ mình: “Thưa, ai đã lấy cơm canh vậy?” Cha mẹ đáp: “Này con! Hôm nay, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đến nhà mình khất thực. Ngài ấy đã lấy cơm trong rá, lấy canh trong nồi rồi ra đi.” Nan-đề-ba-la nghe xong, liền nghĩ: “Ta được lợi ích, được công đức lớn! Vì đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã tùy ý tự tại đối với gia đình ta.” Do đây, vị ấy vô cùng hân hoan, ngồi kiết-già lắng tâm tĩnh mặc suốt cả bảy ngày, cho đến mười lăm ngày sau tâm vẫn còn hoan hỷ. Cha mẹ vị ấy cũng được hoan hỷ suốt bảy ngày.
Lại nữa, Đại vương! Ta nhớ xưa kia có lần an cư mùa mưa tại thôn Tỳ-bà-lăng-kỳ. Bấy giờ, Ta mới làm thất, chưa kịp lợp mái. Xưởng gốm của Nan-đề-ba-la vừa lợp mới. Đại vương! Ta bảo các Tỳ-kheo đang giúp việc xây cất: “Các thầy hãy đến dỡ mái xưởng gốm của thợ gốm Nan-đề-ba-la đem về lợp thất cho Ta!” Các Tỳ-kheo ấy vâng lời, liền đến nhà của Nan-đề-ba-la, dỡ mái xưởng gốm rồi bó lại để đem về lợp thất của Ta. Khi ấy, cha mẹ thợ gốm Nan-đề-ba-la nghe tiếng động, liền hỏi: “Ai phá xưởng gốm của Nan-đề-ba-la đó?” Các Tỳ-kheo đáp: “Trưởng lão! Chúng tôi là đệ tử của đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đến dỡ mái xưởng gốm của Nan-đề-ba-la, bó lại mang về lợp thất cho Thế Tôn.” Nghe vậy, cha mẹ thợ gốm bảo: “Chư Hiền! Cứ tùy ý đem đi, không ai ngăn cản!”
[0502c01] Sau khi trở về nhà, thợ gốm Nan-đề-ba-la thấy xưởng gốm bị phá dỡ, liền hỏi cha mẹ: “Thưa, ai dỡ xưởng gốm của nhà mình vậy?” Cha mẹ đáp: “Này con! Hôm nay, các Tỳ-kheo đệ tử đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đến dỡ mái xưởng gốm, bó lại đem về lợp thất cho Ngài.” Nghe xong, Nan-đề-ba-la nghĩ: “Ta được lợi ích, được công đức lớn. Vì đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã tùy ý tự tại đối với gia đình ta.” Do đây, vị ấy vui mừng, ngồi kiết-già, tâm tư tĩnh mặc suốt bảy ngày, cho đến mười lăm ngày sau tâm vẫn còn hoan hỷ. Cha mẹ vị ấy cũng được tâm hoan hỷ suốt bảy ngày.
Đại vương! Xưởng gốm của Nan-đề-ba-la suốt bốn tháng an cư mùa mưa hoàn toàn không bị dột. Vì sao như vậy? Vì nhờ oai thần của Phật. Đại vương! Thợ gốm Nan-đề-ba-la không có ấm ức, không có bất mãn nên không ưu sầu, vì nghĩ rằng: “Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã tùy ý tự tại đối với gia đình ta!” Này Đại vương! Ngài có ấm ức, có bất mãn, nên quá ưu sầu vì nghĩ rằng: “Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác và chúng Tỳ-kheo không nhận lời thỉnh của ta mà an cư mùa mưa tại Ba-la-nại này.”
Thế rồi, đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác lại thuyết pháp cho Vua Giáp-tỳ nghe, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ. Sau khi dùng nhiều phương tiện thuyết pháp cho nhà vua, mở bày, dạy bảo, khích lệ khiến được hoan hỷ xong, đức Phật đứng dậy và ra đi.
Đức Ca-diếp Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác ra đi chưa bao lâu, Vua Giáp-tỳ hạ lệnh cho những người hầu cận: “Các ngươi dùng năm trăm cỗ xe chất đầy gạo trắng và đủ loại thực phẩm thượng hạng trong cung chở đến nhà thợ gốm Nan-đề-ba-la, nói với vị ấy rằng: ‘Nan-đề-ba-la! Năm trăm cỗ xe chất đầy gạo trắng và đủ loại thực phẩm thượng hạng trong cung đây do Vua Giáp-tỳ gởi đến ban tặng cho anh. Nay mong anh rủ lòng nhận lấy.’” Thế rồi, vâng lệnh vua, những người hầu cận dùng năm trăm cỗ xe chất đầy gạo trắng và đủ loại thực phẩm thượng hạng trong cung chở đến nhà thợ gốm Nan-đề-ba-la rồi nói: “Nan-đề-ba-la! Năm trăm cỗ xe chất đầy gạo trắng và đủ loại thực phẩm thượng hạng trong cung đây do Vua Giáp-tỳ gởi đến ban tặng cho anh. Nay mong anh rủ lòng nhận lấy.” Bấy giờ, thợ gốm Nan-đề-ba-la từ chối không nhận, nói với những người hầu cận vua rằng: “Chư Hiền! Nhà vua lo nhiều việc lớn cho nước nhà, phải chi dụng rất nhiều. Tôi biết như vậy, nên không dám nhận!”
[0503a03] Đức Phật bảo A-nan:
– Này A-nan! Ý thầy thế nào? Thiếu niên Ưu-đa-la lúc bấy giờ, thầy cho là người nào khác chăng? Chớ nghĩ như vậy, thầy nên biết rằng chính là Ta đây. A-nan! Lúc ấy, Ta làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người, cho nhiều người, thương xót thế gian, vì chư thiên và loài người mà mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan. Thế nhưng lúc ấy, Ta thuyết pháp không đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo thanh tịnh, không rốt ráo Phạm hạnh. Vì Phạm hạnh không rốt ráo, nên lúc ấy Ta không thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não, cũng chưa thể thoát khỏi mọi khổ đau. Này A-nan! Nay Ta thị hiện ở đời, là đấng Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Thế Tôn. Nay Ta đã làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người, cho nhiều người, thương xót thế gian, vì chư thiên và loài người mà mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan. Nay Ta thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo, thanh tịnh rốt ráo, Phạm hạnh rốt ráo. Khi Phạm hạnh đã rốt ráo, Ta lìa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, khóc than, ảo não và nay, Ta đã thoát khỏi mọi khổ đau.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích
1 Quyển 12. Nguyên tác: Tỳ-bà-lăng-kỳ kinh 鞞婆陵耆經 (T.01. 0026.63. 0499a09). Tham chiếu: Phật thuyết Hưng khởi hạnh kinh 佛說興起行經 (T.04. 0197.10. 0172c05); M. 81, Ghaṭikāra Sutta (Kinh Ghaṭikāra); S. 1.40 - I. 35.
2 Câu-tát-la (拘薩羅, Kosala) còn gọi Kiêu-tát-la (憍薩羅), Cư-tát-la (居薩羅), Câu-xá-la (拘舍羅).
3 Tỳ-bà-lăng-kỳ (鞞婆陵耆, Vebhaḷinga), một thị trấn thuộc nước Câu-tát-la.
4 Phong hộ thực ấp (封戶食邑): Đất đai do nhà vua phong tặng.
5 Ưu-đa-la (優多羅). M. 81 ghi là Jotipalā.
6 Sanh sanh vô ác (生生無惡): Đây nói về dòng dõi huyết thống. Tham chiếu: D. 4 ghi là Anupakkuṭṭho jātivādena (không bị chê bai về phương diện huyết thống thọ sanh).
7 Nguyên tác: Tứ điển kinh (四典經), tức 4 bộ Vệ-đà (catur veda), là Thánh điển căn bản của Bà-la-môn giáo, cũng là tư tưởng chính thống trong xã hội Ấn Độ cổ đại. Bốn bộ gồm: Ṛgveda, Sāmaveda, Yajurveda, Atharvaveda.
8 Nhân, duyên, chánh, văn, hý, ngũ cú thuyết (因,緣,正,文,戲,五句說) là 5 thể tài (pañcamānaṃ) mà một vị Bà-la-môn cần phải tinh thông mới được gọi là Bà-la-môn thông đạt tam minh. Năm thể tài bao gồm: sanighaṇḍukeṭubhānaṃ sākkharappabhedānaṃ itihāsapañcamānaṃ (danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống là thứ năm), HT. Thích Minh Châu dịch. Tham khảo thêm từ “ngũ cú thuyết” trong Kinh Trung A-hàm về 5 thể tài trong kinh điển Bà-la-môn.
9 Nan-đề-ba-la (難提波羅). Tham chiếu: M. 81 ghi là Ghaṭikāra.
10 Nguyên tác: Phi Phạm hạnh (非梵行, abrahmacariya).
11 Nguyên tác: Oản đậu (豌豆), còn gọi là hồ đậu (胡豆), uyển đậu (豌豆). Một loại đậu mà ngày nay hay gọi là đậu Hà Lan, có tên khoa học là Pisum Sativum.
12 Nguyên tác: Phạm chí thư (梵志書), chỉ cho Thánh điển Vệ-đà.
13 Ba-la-nại (波羅㮈, 波羅柰, 波羅奈, Bārāṇasī hay Vāraṇasi).
14 Ca-tư (迦私, Kāsī).
15 Nguyên tác: Tiên nhân xứ Lộc Dã viên (仙人處鹿野園, Isipatana Migadāya), nơi này có rất nhiều nai rừng sinh sống nên gọi là Lộc Dã uyển hay Lộc Dã viên. Có thuyết cho rằng, chư tiên thường cư ngụ ở đây nên còn có tên “tiên nhân trụ xứ” (仙人住處) hay “tiên nhân xứ” (仙人處).
16 Giáp-tỳ (頰鞞, 頻鞞, Kikin hay Kikī).
17 Nguyên tác: Câu chấp (拘執) hay “câu nhiếp” (拘攝). Theo Nhất thiết kinh âm nghĩa 一切經音義 (T.54. 2128.26. 0472c19), giống tấm thảm len, dài, một mặt có lông, màu đen. Nhóm 6 Tỳ-kheo đã khoác ngược (khoác phần lông thú ra bên ngoài) ban đêm giả ma quỷ để dọa nhát các Tỳ-kheo khác.
18 Nguyên tác: Uất-đan-việt pháp (鬱單越法). Người xứ Uất-đan-việt (tức Bắc Câu-lô châu) không có chấp ngã nên tất cả mọi vật ở đó đều vô chủ. Vì vậy, khi lấy vật gì không cần hỏi chủ mà vẫn không phạm giới “không cho mà lấy”, gọi là theo pháp Uất-đan-việt.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.