Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu Tỳ-kheo nào không biết tự thẹn,2 không biết xấu hổ3 thì sẽ làm tổn hại ái và kính.4 Nếu không có ái và kính thì sẽ làm tổn hại tín. Nếu không có tín thì sẽ làm tổn hại chánh tư duy. Nếu không chánh tư duy thì sẽ làm tổn hại chánh niệm tỉnh giác. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác thì sẽ làm tổn hại việc giữ gìn các căn, tổn hại sự giữ giới, tổn hại sự không hối tiếc, tổn hại sự hân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định, thấy như thật, biết như thật, nhàm chán, không tham dục và giải thoát. Nếu không giải thoát thì sẽ làm tổn hại Niết-bàn.
Nếu Tỳ-kheo nào biết hổ thẹn thì sẽ thường thực hành ái và kính. Nếu đã có ái và kính thì thường thực hành tín. Nếu có tín thì sẽ được chánh tư duy. Nếu có chánh tư duy thì sẽ thành tựu chánh niệm tỉnh giác. Nếu có chánh niệm tỉnh giác thì thường hộ trì các căn, giữ giới, được sự không hối tiếc, đạt được hân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định, thấy như thật, biết như thật, nhàm chán, không tham dục và giải thoát. Nếu giải thoát thì liền được Niết-bàn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Tàm quý kinh, thượng 慚愧經, 上 (T.01. 0026.45. 0486a05). Tham chiếu: MĀ. 44; 46-50; SĀ. 495; A. 6.50 - III. 360; A. 7.65 - IV. 99; A. 10.3 - V. 4; A. 10.4 - V. 5; A. 11.3 - V. 313; A. 11.4 - V. 315; A. 5.168 - III. 200; A. 5.21 - III. 14; A. 5.22 - III. 15; A. 5.24 - III. 19; A. 8.81 - IV. 336.
2 Tàm (慚, hiri): Biết hổ thẹn đối với bản thân về tội lỗi đã làm. Xem TTTĐPGVN, tập 3, tr. 897; A. IV. 99, Tàm là biết hổ thẹn với tội lỗi đã làm.
3 Quý (愧, ottappa): Biết hổ thẹn đối với người khác khi mình phạm tội (theo Duy thức học). Theo kinh điển Pāli, “quý” là sự sợ hãi tội lỗi. Xem TTTĐPGVN, tập 3, tr. 897; A. IV. 99.
4 Ái cung kính (愛恭敬). Theo A-tỳ-đạt-ma Câu-xá luận 阿毘達磨俱舍論 (T.29. 1558.4. 0021a26-0021a28), “ái” có hai trường hợp: Nhiễm ô và không nhiễm ô. Nhiễm ô gọi là “tham”, như yêu thương vợ con, v.v… Không nhiễm ô gọi là “tín”, như quý kính thầy tổ, v.v... (愛有二: 一有染污,二無染污. 有染謂貪, 如愛妻子等. 無染謂信, 如愛師長等). Trong ngữ cảnh nêu trên, “ái” (愛) mang nghĩa thứ 2.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.