Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

51. KINH KHỞI ĐIỂM ĐẦU TIÊN1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Luận về hữu ái2 thì không thể biết được khởi điểm đầu tiên3 của nó. Do trước kia vốn không có hữu ái, nhưng nay sanh khởi hữu ái, nhờ đó mới biết được nguyên nhân của hữu ái. Hữu ái cũng có nguyên nhân4 chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của hữu ái là gì? Vô minh chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, vô minh cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của vô minh là gì? Năm thứ ngăn che5 chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, năm loại ngăn che cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của năm loại ngăn che là gì? Ba hạnh xấu ác6 chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, ba hạnh xấu ác cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của ba hạnh xấu ác là gì? Không phòng hộ các căn chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, không phòng hộ các căn cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của việc không phòng hộ các căn là gì? Không chánh niệm, không tỉnh giác chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, không chánh niệm, không tỉnh giác cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của không chánh niệm, không tỉnh giác là gì? Không chánh tư duy chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, không chánh tư duy cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của không chánh tư duy là gì? Không có niềm tin chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, không có niềm tin cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của không có niềm tin là gì? Nghe theo pháp xấu ác chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, nghe theo pháp xấu ác cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của việc nghe pháp xấu ác là gì? Gần gũi ác tri thức chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, gần gũi ác tri thức cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân gần gũi ác tri thức là gì? Người ác chính là nguyên nhân.

Như vậy, khi cùng gần gũi với người ác thì sẽ cùng gần gũi với ác tri thức. Khi đã cùng gần gũi với ác tri thức thì sẽ cùng nghe pháp xấu ác. Khi đã cùng nghe pháp xấu ác thì sẽ không có niềm tin. Khi đã không có niềm tin thì sẽ không có chánh tư duy. Khi đã không có chánh tư duy thì sẽ không có chánh niệm tỉnh giác. Khi đã không có chánh niệm tỉnh giác thì sẽ không có sự hộ trì các căn. Khi đã không hộ trì các căn thì sẽ có đủ ba hạnh xấu ác. Khi đã có ba hạnh xấu ác thì sẽ có đủ năm loại ngăn che. Khi đã có đủ năm loại ngăn che thì sẽ có đủ vô minh. Khi đã có vô minh liền có đủ hữu ái. Như vậy, hữu ái này do sự triển chuyển mà hình thành trọn vẹn.

Lại nữa, Minh và Giải thoát cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của Minh và Giải thoát là gì? Bảy giác chi chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, bảy giác chi cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của bảy giác chi là gì? Bốn niệm xứ chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, bốn niệm xứ cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của bốn niệm xứ là gì? Ba diệu hạnh7 chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, ba diệu hạnh cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của ba diệu hạnh là gì? Phòng hộ các căn chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, việc phòng hộ các căn cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của phòng hộ các căn là gì? Chánh niệm tỉnh giác chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, chánh niệm tỉnh giác cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của chánh niệm tỉnh giác là gì? Chánh tư duy chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, chánh tư duy cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của chánh tư duy là gì? Niềm tin chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, niềm tin cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.
Nguyên nhân của niềm tin là gì? Nghe pháp lành chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, nghe pháp lành cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của nghe pháp lành là gì? Gần gũi thiện tri thức chính là nguyên nhân. Tuy nhiên, gần gũi thiện tri thức cũng có nguyên nhân chứ không phải không có nguyên nhân.

Nguyên nhân của gần gũi thiện tri thức là gì? Người hiền thiện8 chính là nguyên nhân.

Như vậy, khi cùng gần gũi với người hiền thiện thì sẽ cùng gần gũi thiện tri thức. Khi đã cùng gần gũi thiện tri thức thì sẽ cùng nghe pháp lành. Khi đã được nghe pháp lành thì sẽ có đủ niềm tin. Khi đã có niềm tin thì sẽ đầy đủ chánh tư duy. Khi đã có chánh tư duy thì sẽ có đủ chánh niệm tỉnh giác. Khi đã có chánh niệm tỉnh giác thì sẽ có đủ sự phòng hộ các căn. Khi đã có sự phòng hộ các căn thì sẽ có đủ ba diệu hạnh. Khi đã có ba diệu hạnh thì sẽ có đủ bốn niệm xứ. Khi đã có bốn niệm xứ thì sẽ có đủ bảy giác chi. Khi đã có bảy giác chi thì sẽ có đủ Minh và Giải thoát. Như vậy, Minh và Giải thoát này do sự triển chuyển mà thành tựu trọn vẹn.

Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích
1 Nguyên tác: Bổn tế kinh 本際經 (T.01. 0026.51. 0487b03). Tham chiếu: Thực kinh, thượng 食經, 上 (T.01. 0026.52. 0487c24); Thực kinh, hạ 食經, 下 (T.01. 0026.53. 0489a25); A. 10.61 - V. 113; A. 10.62 - V. 116.
2 Hữu ái (有愛, bhavataṇhā): Khát vọng sinh tồn.
3 Bổn tế (本際, pubbā koṭi): Điểm cùng cực đầu tiên.
4 Hữu tập (有習) chỉ cho nguyên nhân sanh khởi. Theo Khang Hy từ điển (康煕辭典), “tập” chính là “nhân” (習, 因也). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.52.1. 0822c10-c13): Bấy giờ, nghe các Thầy đều đã diệt độ, trong tâm của 2 Sa-di-ni rất đỗi lo sợ, liền tự mình tư duy, xét thấy các pháp nếu có tập khởi đều là pháp diệt tận, lập tức ngay tại chỗ ngồi 2 vị chứng đạt được Ba minh và Sáu thông (爾時,二沙彌聞諸師皆取滅度,心懷恐怖,即自思惟,觀有習之法皆是盡法,即於坐處得三明六通). MĀ. 97 cũng xác nhận nghĩa tương tự: Này A-nan, phải biết rằng nguyên nhân của hữu, sự tập khởi của hữu, gốc rễ của hữu, duyên của hữu, tức là thủ. Vì sao như thế? Vì do duyên thủ nên có hữu (阿難! 是故當知是有因, 有習, 有本, 有緣者, 謂此受也. 所以者何?緣受故則有有). Bản Pāli: Āhāra (thức ăn) cũng đồng nghĩa paccāya. Theo thư tịch Nikāya, các thuật ngữ như: Nhân (hetu), lý do (kāraṇaṃ), nguồn gốc (nidānaṃ), căn nguyên (sambhavo), nguồn cội (pabhavo)… đều đồng nghĩa với chữ duyên (paccāya).
5 Nguyên tác: Ngũ cái (五蓋, pañca nīvaraṇā). Xem chú thích 9, kinh số 19, tr. 112.
6 Nguyên tác: Tam ác hạnh (三惡行, tīṇi duccaritāni). Theo A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.32. 0378a28), ba ác hạnh gồm thân làm điều ác, miệng nói lời ác, tâm nghĩ điều ác (三惡行者,謂身惡行,語惡行,意惡行).
7 Tam diệu hạnh (三妙行, tīṇi sucaritāni). Theo A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536. 32. 0378b12), “ba diệu hạnh” gồm thân làm điều thiện, miệng nói lời thiện, tâm nghĩ điều thiện (三妙行者,謂身妙行,語妙行,意妙行).
8 Thiện nhân (善人, sappurisa): Người hiền, bậc chân nhân.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.