Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Viết-địa,2 thuộc nước Kim Cang.3
Bấy giờ, vùng đất ấy rung chuyển mạnh.4 Lúc đó, chứng kiến cảnh đất rung chuyển mạnh,5 Tôn giả A-nan kinh sợ, toàn thân sởn gai ốc, liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Hôm nay mặt đất rung chuyển mạnh.6
[0477c02] Bấy giờ, Phật bảo A-nan:
– Đúng vậy, này A-nan, hôm nay mặt đất rung chuyển mạnh! Đúng vậy, này A-nan!7
Tôn giả A-nan thưa:
– Bạch Thế Tôn! Có bao nhiêu nhân duyên khiến đất rung chuyển mạnh?8
Phật bảo:
– Này A-nan! Có ba nhân duyên9 khiến đất rung chuyển mạnh.10 Là ba nhân duyên nào?
Này A-nan! Đất này ở trên nước, nước ở trên gió, gió nương hư không. Này A-nan, khi có gió lớn trong hư không nổi lên thì nước bị khuấy động, nước bị khuấy động thì đất bị rung chuyển mạnh. Đó là nhân duyên thứ nhất khiến đất rung chuyển mạnh.11
Lại nữa, này A-nan! Tỳ-kheo có thần thông lớn,12 có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai thần lớn, tâm tự tại nhờ có thần thông.13 Vị ấy khởi ý tưởng nhỏ14 đối với đất, khởi ý tưởng vô lượng đối với nước. Do vị ấy khởi ý tưởng như vậy nên đất này tùy theo ước muốn, tùy theo ý tưởng của vị ấy mà bị khuấy động rồi lại khuấy động, bị chấn động rồi lại chấn động. Vị trời theo hộ vệ Tỳ-kheo ấy cũng lại như vậy, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai thần lớn, tâm tự tại nhờ có thần thông. Vị trời ấy khởi ý tưởng nhỏ đối với đất, khởi ý tưởng vô lượng đối với nước. Vị trời ấy khởi tưởng như vậy nên đất này tùy theo ước muốn, tùy theo ý tưởng của vị trời ấy mà bị khuấy động rồi lại khuấy động, bị chấn động rồi lại chấn động. Đó là nhân duyên thứ hai khiến đất rung chuyển mạnh.15
Lại nữa, này A-nan! Không bao lâu nữa, sau khoảng ba tháng, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, do duyên cớ ấy khiến đất rung chuyển mạnh. Đó là nhân duyên thứ ba khiến đất rung chuyển mạnh.16
Bấy giờ, sau khi nghe xong, Tôn giả A-nan buồn rầu than khóc, nước mắt đầm đìa, chắp tay hướng Phật và thưa rằng:
– Bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thành tựu công đức, có nhiều pháp chưa từng có.17 Vì sao như vậy? Vì không bao lâu nữa, sau khoảng ba tháng, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, khi ấy khiến đất rung chuyển mạnh.18
[0478a04] Phật bảo A-nan:
– Đúng vậy, này A-nan! Đúng vậy, này A-nan! Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thành tựu công đức, có nhiều pháp chưa từng có. Vì sao như vậy? Vì không bao lâu nữa, sau khoảng ba tháng, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn, khi ấy khiến đất rung chuyển mạnh.19
Lại nữa, này A-nan! Như Lai đến giữa vô lượng trăm ngàn chúng Sát-lợi, cùng ngồi đàm luận, khiến họ vừa ý. Cùng ngồi yên định rồi, giống như sắc tướng của họ, sắc tướng của Ta cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của Ta cũng vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai nghi lễ tiết của Ta cũng vậy. Nếu họ có hỏi về nghĩa gì thì Ta sẽ trả lời về nghĩa ấy. Lại nữa, Như Lai sẽ thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ.20 Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ rồi, Ta liền ẩn mất khỏi nơi ấy. Khi Ta đã ẩn mất rồi, họ không biết Ta là ai, là người hay khác với loài người. Này A-nan! Như vậy, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thành tựu công đức, có nhiều pháp chưa từng có.
Cũng như vậy đối với chúng Phạm chí, chúng Cư sĩ và chúng Sa-môn.
Này A-nan! Như Lai đến giữa vô lượng trăm ngàn chúng trời Tứ Thiên Vương,21 cùng ngồi đàm luận, khiến họ vừa ý. Cùng ngồi yên định rồi, giống như sắc tướng của họ, sắc tướng của Ta cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của Ta cũng vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai nghi lễ tiết của Ta cũng vậy. Nếu họ có hỏi về nghĩa gì thì Ta sẽ trả lời về nghĩa ấy. Lại nữa, Ta sẽ thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ rồi, Ta liền ẩn mất khỏi nơi ấy. Khi Ta ẩn mất rồi, họ không biết Ta là ai, là trời hay khác với hàng trời. Này A-nan! Như vậy, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thành tựu công đức, có nhiều pháp chưa từng có.
Cũng như vậy đối với các cõi trời Tam Thập Tam, Diệm-ma, Đâu-suất-đà, Hóa Lạc, Tha Hóa Lạc, Phạm Thân, Phạm Phú Lâu, Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Hoảng Dục, Thiểu Tịnh, Vô Lượng Tịnh, Biến Tịnh, Vô Quái Ngại, Thọ Phước, Quả Thật, Vô Phiền, Vô Nhiệt, Thiện Kiến và Thiện Hiện.22
[0478b01] Này A-nan! Như Lai đến giữa vô lượng trăm ngàn chúng trời Sắc Cứu Cánh,23 cùng ngồi đàm luận, khiến họ vừa ý. Cùng ngồi yên định rồi, giống như sắc tướng của họ, sắc tướng Như Lai cũng vậy; giống như âm thanh của họ, âm thanh của Ta cũng vậy; giống như oai nghi lễ tiết của họ, oai nghi lễ tiết của Ta cũng vậy. Nếu họ có hỏi về nghĩa gì thì Ta sẽ trả lời về nghĩa ấy. Lại nữa, Như Lai sẽ thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến cho hoan hỷ rồi, Ta liền ẩn mất khỏi nơi ấy. Khi Ta đã ẩn mất, họ không biết Ta là ai, là trời hay khác với hàng trời. Này A-nan! Như vậy, thật là kỳ diệu, thật là hy hữu! Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác thành tựu công đức, có nhiều pháp chưa từng có.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo kia nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Quyển 9. Nguyên tác: Địa động kinh 地動經 (T.01. 0026.36. 0477b23). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.42.5. 0753c11); D.16, Mahāparinibbāna Sutta (Kinh Đại Bát-niết-bàn); S. 51.10 - V. 258; A. 8.70 - IV. 308.
2 Nguyên tác: Viết-địa (曰地), phiên âm đặc dị, có thể chỉ cho Vesāli.
3 Kim Cang (金剛), nguyên tác Pāli là Vajira, là cách dịch chưa đúng về tên nước Bạt-kỳ (Vajjī). S. 51.10 - V. 258, A. 8.70 - IV. 308 đều xác định tại Vesāli, thủ đô nước Bạt-kỳ.
4 Trên cơ sở tham chiếu các bản kinh như Tăng. 增 (T.02. 0125.42.5. 0753c11); D. 16, Mahāparinibbāna Sutta (Kinh Đại Bát-niết-bàn); S. 51.10 - V. 258; A. 8.70 - IV. 308, bản dịch Việt lược bỏ 22 chữ sau: 地大動時,四面大風起,四方彗星出,屋舍牆壁皆崩壞盡. Vì 22 chữ này không có trong những bản kinh tham chiếu kể trên và điều quan trọng nhất là làm sai lạc giáo nghĩa của đức Phật.
5 Lược bỏ 22 chữ trong nguyên tác. Xem chú thích 4.
6 Như trên.
7 Như trên.
8 Như trên.
9 Nguyên tác: Hữu tam nhân duyên (有三因緣). Tăng. 增 (T.02. 0125.42.5. 0753c11) và A. 8.70 - IV. 308 xác định có 8 nguyên nhân.
10 Lược bỏ 22 chữ trong nguyên tác. Xem chú thích 4.
11 Như trên.
12 Nguyên tác: Đại như ý túc (大如意足). Tạp. 雜 (T.02. 0099.447. 0115b06) ghi là “thần thông đại lực” (神通大力) hay “đại thần thông lực” (大神通力); Tăng. 增 (T.02. 0125.42.5. 0753c27) ghi là “đại thần túc” (大神足).
13 Nguyên tác: Tâm tự tại như ý túc (心自在如意足). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.42.5. 0753c27): Hữu đại thần túc Tỳ-kheo tâm đắc tự tại (有大神足比丘心得自在), nghĩa là có đại thần túc nên tâm Tỳ-kheo được tự tại. Tâm tự tại ở đây nghĩa là có thể hóa hiện thần thông tùy theo ý muốn.
14 Nguyên tác đề cập đến 2 loại tưởng là “tiểu tưởng” (小想) và “vô lượng tưởng” (無量想). A-tỳ-đạt-ma Tập dị môn túc luận 阿毘達磨集異門足論 (T.26. 1536.06. 0392a23) ghi nhận 4 loại tưởng, gồm: (i) Tiểu tưởng (小想), (ii) Đại tưởng (大想), (iii) Vô lượng tưởng (無量想), (iv) Vô sở hữu tưởng (無所有想).
15 Lược bỏ 22 chữ trong nguyên tác. Xem chú thích 4.
16 Như trên.
17 Nguyên tác: Vị tằng hữu (未曾有, adbhuta, abbhuta): Những việc lạ lùng, phi thường, không thể nghĩ bàn.
18 Lược bỏ 22 chữ trong nguyên tác. Xem chú thích 4.
19 Như trên.
20 Nguyên tác: Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發, 渴仰, 成就歡喜). Xem chú thích 7, kinh số 9, tr. 48.
21 Tứ Vương thiên (四王天, Catummahārājikā devā) còn gọi Tứ Thiên Vương thiên (四天王天), Tứ Đại Thiên Vương Chúng thiên (四大天王衆天), Tứ Đại Vương Chúng thiên (四大王衆天). Đây là tầng trời thứ nhất trong 6 tầng trời Dục giới (欲界).
22 Nguyên tác: Tam Thập Tam thiên (三十三天, Tāvatiṃsā devā), Diệm-ma thiên (焰摩天, Yāmā devā), Đâu-suất-đà thiên (兜率哆天, Tusitā devā), Hóa Lạc thiên (化樂天, Nimmānarati devā), Tha Hóa Lạc thiên (他化樂天, Paranimmitavasavattī devā), Phạm Thân thiên (梵身天, Brahmakāyikā devā), Phạm-phú-lâu thiên (梵富樓天, Brahmapurohitā devā), Thiểu Quang thiên (少光天, Parittābhā devā), Vô Lượng Quang thiên (無量光天, Appamāṇābhā devā), Hoảng Dục thiên (晃昱天, Ābhassarā devā), Thiểu Tịnh thiên (少淨天, Parittasubhā devā), Vô Lượng Tịnh thiên (無量淨天, Appamāṇasubhā devā), Biến Tịnh thiên (遍淨天, Subhakiṇṇā devā), Vô Quái Ngại thiên (無罫礙天, Anabhrakā devā), Thọ Phước thiên (受福天, Puṇyaprasavā devā), Quả Thật thiên (果實天, Vehapphalā devā), Vô Phiền thiên (無煩天, Avihā devā), Vô Nhiệt thiên (無熱天, Atappā devā), Thiện Kiến thiên (善見天, Sudassā devā) và Thiện Hiện thiên (善現天, Sudassī devā). Pāli: Tám chúng (aṭṭha parisā), biểu hiện 8 pháp vị tằng hữu của đức Như Lai giữa loài trời và loài người: Sát-lợi, Bà-la-môn, Cư sĩ, Sa-môn, Tứ Thiên Vương, Tam Thập Tam thiên, chúng Ma và Phạm Thiên.
23 Nguyên tác: Sắc Cứu Cánh thiên (色究竟天, Akaniṭṭha), còn được phiên âm là A-ca-ni-trá (阿迦尼吒), A-ca-ni-sư-trá (阿迦尼師吒), A-ca-nị-trá (阿迦膩吒), A-ca-ni-sắt-trỉ (阿迦抳瑟搋); cũng gọi là Ngại Cứu Cánh thiên (礙究竟天), Chất Ngại Cứu Cánh thiên (質閡究竟天), Nhất Cứu Cánh thiên (一究竟天), Nhất Thiện thiên (一善天), Vô Kết Ái thiên (無結愛天), Vô Tiểu thiên (無小天). Đây là tầng trời cao nhất trong Tứ thiền thiên thuộc trời Sắc giới (色界), một trong 16 tầng trời Sắc giới, một trong ngũ Tịnh Cư thiên (五淨居天). Người tu tứ thiền tối thượng phẩm được sanh về cõi trời này, quả báo ở đây thù thắng nhất trong trời Sắc giới. Về tuổi thọ của chúng sanh ở cõi trời này, theo Đại-lâu-thán kinh 大樓炭經 (T.01. 0023.4. 0296c20) là 100 kiếp, tuy nhiên cũng có sự chết yểu. Theo Thế ký kinh 世記經 (T.01. 0001.30.8. 0133b10), tuổi thọ ở đây là 5 ngàn kiếp, hoặc giảm chút ít; còn Lập thế A-tỳ-đàm luận 立世阿毘曇論 (T.32. 1644.7. 0206c23) và Câu-xá luận 俱舍論 (T.29. 1558.11. 0061a26) cho là 1 vạn 6 ngàn đại kiếp và thân cao 1 vạn 6 ngàn do-tuần.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.