Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

33. KINH THỊ GIẢ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa tại thành Vương Xá.
Bấy giờ, có các đại đệ tử là những Tỳ-kheo Trưởng lão thượng thủ nhiều đức độ và danh tiếng như Tôn giả Câu-lân-nhã, Tôn giả A-nhiếp-bối, Tôn giả Bạt-đề Thích-ca Vương, Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ, Tôn giả Hòa-phá, Tôn giả Da-xá, Tôn giả Bân-nậu, Tôn giả Duy-ma-la, Tôn giả Già-hòa-ba-đề, Tôn giả Tu-đà-da, Tôn giả Xá-lê tử, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tỳ-la, Tôn giả Lệ-ba-đá, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Câu-hy-la, Tôn giả Đại Châu-na, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả Trưởng lão Bân-nậu-gia-nậu-tả, Tôn giả Trưởng lão Da-xá Hành-trù,2 cùng với nhiều vị đại đệ tử là những Tỳ-kheo Trưởng lão thượng thủ nhiều đức độ và danh tiếng khác, cũng đến thành Vương Xá và ở gần ngôi nhà lá của Phật.
[0472a09] Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nay Như Lai đã già, tuổi tác đã cao, thân thể ngày càng suy yếu nên cần có thị giả. Các thầy hãy cử một vị làm thị giả để chăm sóc Như Lai sao cho hợp ý, chớ đừng trái ý và có khả năng ghi nhớ lời Như Lai nói mà không quên mất nghĩa.
Lúc ấy, Tôn giả Câu-lân-nhã liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo bày vai, chắp tay hướng Phật thưa:
– Bạch Thế Tôn, con xin nguyện hầu Ngài hợp ý, chớ không trái ý và sẽ ghi nhớ những lời Thế Tôn nói mà không quên mất nghĩa.
Đức Phật dạy:
– Này Câu-lân-nhã, thầy cũng đã già, tuổi tác đã cao, thân thể ngày càng yếu. Chính thầy cũng cần có thị giả. Này Câu-lân-nhã, thầy nên về chỗ ngồi đi!
Nghe vậy, Tôn giả Câu-lân-nhã đảnh lễ Phật rồi trở về chỗ ngồi.
Cũng như vậy, lần lượt có Tôn giả A-nhiếp-bối, Tôn giả Bạt-đề Thích-ca Vương, Tôn giả Ma-ha-nam Câu-lệ, Tôn giả Hòa-phá, Tôn giả Da-xá, Tôn giả Bân-nậu, Tôn giả Duy-ma-la, Tôn giả Già-hòa-ba-đề, Tôn giả Tu-đà-da, Tôn giả Xá-lê tử, Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tỳ-la, Tôn giả Lệ-ba-đá, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Câu-hy-la, Tôn giả Đại Châu-na, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, rồi đến Tôn giả Trưởng lão Bân-nậu-gia-nậu-tả.
Tôn giả Trưởng lão Da-xá Hành-trù từ chỗ ngồi đứng dậy sửa áo bày vai, chắp tay hướng Phật thưa:
– Bạch Thế Tôn, con xin nguyện hầu Ngài hợp ý, chớ không trái ý và sẽ ghi nhớ những lời Ngài nói mà không quên mất nghĩa.
Đức Phật bảo:
– Này Da-xá, thầy cũng đã già, tuổi tác đã cao, thân thể ngày càng yếu. Chính thầy cũng cần có thị giả. Này Da-xá, thầy nên về chỗ ngồi đi!
Nghe Phật bảo vậy, Tôn giả Da-xá liền đảnh lễ và trở về chỗ ngồi.
[0472b01] Ngay lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ngồi trong đại chúng suy nghĩ như vầy: “Thế Tôn muốn tìm vị nào làm thị giả? Ý Ngài đặt vào Tỳ-kheo nào? Muốn ai chăm sóc Ngài hợp ý chứ không trái ý và ghi nhớ những lời Ngài dạy mà không quên mất nghĩa? Có lẽ ta nên nhập Như kỳ tượng định3 để quán sát tâm niệm của chúng Tỳ-kheo.”
Nghĩ rồi, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên liền nhập Như kỳ tượng định để quán sát tâm niệm của chúng Tỳ-kheo. Tôn giả biết đức Phật muốn chọn Hiền giả A-nan làm thị giả, ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm sóc hợp ý chứ không trái ý và ghi nhớ lời dạy mà không quên mất nghĩa.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên xuất định rồi thưa với đại chúng:
– Chư Hiền nên biết, đức Thế Tôn muốn chọn Hiền giả A-nan làm thị giả nên ý Ngài đặt vào A-nan, muốn A-nan chăm sóc, hợp ý chứ không trái ý, ghi nhớ lời dạy mà không quên mất nghĩa. Bây giờ, chúng ta sẽ cùng đến chỗ Hiền giả A-nan để khuyến thỉnh thầy ấy làm thị giả của Phật.
Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng các Tỳ-kheo đến chỗ A-nan, chào hỏi nhau xong rồi ngồi sang một bên. Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói:
– Hiền giả A-nan nên biết, đức Thế Tôn muốn chọn thầy làm thị giả nên ý Ngài đặt vào thầy, muốn thầy chăm sóc Ngài, vì hợp ý Ngài chứ không trái ý và ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên mất nghĩa. Này A-nan, ví như ngoài thôn xóm không xa có một tòa lâu đài to lớn, cửa sổ ở phía Đông mở ra, khi mặt trời lên, ánh sáng sẽ chiếu thẳng vào vách phía Tây. Hiền giả A-nan, đức Thế Tôn cũng vậy, muốn chọn thầy làm thị giả nên ý Ngài đặt vào thầy, muốn thầy chăm sóc Ngài, vì hợp ý Ngài chứ không trái ý, ghi nhớ lời dạy của Ngài mà không quên mất nghĩa. Này Hiền giả A-nan, thầy nên làm thị giả đức Thế Tôn.
Tôn giả A-nan thưa:
– Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, con không thể kham lãnh trách nhiệm hầu đức Thế Tôn. Vì sao như vậy? Vì thật khó hợp ý Thế Tôn, thật khó hầu cận, nghĩa là khó làm thị giả. Thưa Tôn giả, ví như con voi rất hùng mạnh, đã hơn sáu mươi tuổi, khỏe mạnh kiêu căng, răng ngà đầy đủ, thể trạng dồi dào, khó hợp khó gần, nghĩa là thật khó chăm sóc. Thưa Tôn giả, với đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng lại như vậy, khó hợp ý, khó gần gũi, nghĩa là khó làm thị giả, cho nên con không thể kham lãnh trách nhiệm thị giả được.
Tôn giả Đại Mục-kiền-liên nói:
– Này Hiền giả A-nan, thầy hãy nghe tôi ví dụ. Người trí nhờ nghe ví dụ liền hiểu được nghĩa lý của nó. Này Hiền giả, như hoa Ưu-đàm-bát-la đúng thời mới xuất hiện ở thế gian. Này Hiền giả, đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng lại như vậy, đúng thời mới thị hiện nơi đời. Này Hiền giả, hãy mau nhận làm thị giả của đức Thế Tôn Cù-đàm, thầy sẽ được phước quả lớn.
[0472c04] Tôn giả A-nan lại thưa:
– Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu đức Thế Tôn chấp thuận cho con ba việc thì con mới làm thị giả. Ba việc ấy là:
Xin cho con không đắp y của đức Thế Tôn, dù cũ hay mới.
Xin cho con không nhận thực phẩm biệt thỉnh của đức Thế Tôn.
Xin cho con được đến gặp Phật bất cứ khi nào.4
Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, nếu đức Thế Tôn chấp thuận cho con ba việc ấy thì con sẽ làm thị giả của Thế Tôn.
Bấy giờ, sau khi khuyên Tôn giả A-nan chấp thuận làm thị giả, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh Tôn giả A-nan rồi về chỗ đức Phật, cúi lạy sát chân Ngài, ngồi sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn, con đã khuyến thỉnh Hiền giả A-nan làm thị giả. Bạch Thế Tôn, Hiền giả A-nan xin Thế Tôn chấp thuận ba việc. Ba việc ấy là: Xin không đắp y của Thế Tôn, dù mới hay cũ; xin không nhận thực phẩm biệt thỉnh của Thế Tôn; xin được đến gặp Thế Tôn bất cứ khi nào cần. Bạch Thế Tôn, nếu Ngài chấp thuận ba việc ấy của Hiền giả A-nan thì Tôn giả ấy mới đồng ý làm thị giả.
Đức Phật dạy:
– Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh, trí tuệ, biết trước sẽ có những lời tị hiềm, hoặc các vị đồng Phạm hạnh sẽ nói như vầy: “Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên làm thị giả Thế Tôn.” Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh, trí tuệ, biết trước sẽ có những lời tị hiềm, hoặc các vị đồng Phạm hạnh sẽ nói như vầy: “Tỳ-kheo A-nan vì y áo nên làm thị giả Thế Tôn.” Đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh, trí tuệ, biết trước sẽ có những lời tị hiềm, hoặc các vị đồng Phạm hạnh sẽ nói như vầy: “Tỳ-kheo A-nan vì thực phẩm nên làm thị giả Thế Tôn.” Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan thông minh, trí tuệ, biết trước sẽ có những lời tị hiềm, hoặc các vị đồng Phạm hạnh sẽ nói như vầy: “Tỳ-kheo A-nan vì thực phẩm nên làm thị giả Thế Tôn.” Đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Này Đại Mục-kiền-liên, Tỳ-kheo A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời; biết lúc nào mình nên đến gặp Như Lai, biết lúc nào mình không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào chúng ưu-bà-tắc và ưu-bà-di nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào chúng ưu-bà-tắc và ưu-bà-di không nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo không nên đến gặp Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nào có thể bàn luận với Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nào không thể bàn luận với Như Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào đức Như Lai dùng sẽ an ổn, lợi ích; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào đức Như Lai dùng sẽ không được an ổn, không được lợi ích; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào đức Như Lai dùng sẽ được biện tài thuyết pháp; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào đức Như Lai dùng sẽ không được biện tài thuyết pháp. Đó là những pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
[0473a12] Này Đại Mục-kiền-liên, mặc dù chưa có tha tâm trí nhưng Tỳ-kheo A-nan có thể khéo biết trước Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi rời nơi tĩnh tọa vào lúc xế chiều, hôm nay đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc trú như vậy, nhận xét đúng như lời Như Lai nói, chắc thật, không thể sai khác. Đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con đã làm thị giả đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, nếu bảo vì thế mà con khởi tâm kiêu ngạo thì hoàn toàn không có.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con đã làm thị giả đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, cho đến nay chưa có khi nào con đến gặp đức Thế Tôn mà không đúng thời.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con đã làm thị giả đức Thế Tôn trong hai mươi lăm năm, chưa từng một lần bị Phật khiển trách, trừ có một lỗi, lỗi đó cũng vì người khác.”5 Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con theo đức Thế Tôn thọ nhận tám mươi ngàn pháp tụ,6 thọ trì không quên, nếu nhân việc này mà khởi tâm kiêu ngạo thì hoàn toàn không có.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con theo đức Thế Tôn thọ trì tám mươi ngàn pháp tụ, chưa hề hỏi lại lần thứ hai, trừ có một câu mà câu ấy quả thật cũng không dễ.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
[0473b02] Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con theo đức Thế Tôn thọ trì tám mươi ngàn pháp tụ, chưa từng theo người khác thọ pháp.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, con theo đức Thế Tôn thọ trì tám mươi ngàn pháp tụ, vốn chưa từng có ý niệm rằng: ‘Tôi thọ trì pháp ấy là để giáo hóa người khác.’ Này chư Hiền, con chỉ muốn tự điều ngự, tự tịch tịnh, tự Bát-niết-bàn.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều này rất kỳ lạ! Đó là có bốn bộ chúng đi đến chỗ con để nghe pháp, nếu vì điều này mà con khởi tâm kiêu ngạo thì hoàn toàn không có. Con cũng không hề tác ý trước, để khi có người đến hỏi, con sẽ trả lời như vầy, như vầy. Này chư Hiền, bấy giờ, con chỉ ngồi đó, rồi tùy theo nghĩa người kia hỏi để ứng đáp.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Tôn giả A-nan lại nói như vầy: “Thưa chư Hiền, có điều này rất kỳ lạ. Đó là có chúng Sa-môn, Phạm chí, người theo chủ thuyết khác đến hỏi việc nơi con; nếu vì điều này mà con sợ hãi, thân sởn gai ốc thì hoàn toàn không có. Con cũng không hề tác ý trước, để khi có người đến hỏi thì sẽ trả lời như vầy, như vầy. Thưa chư Hiền, bấy giờ, con chỉ ngồi đó, rồi tùy theo nghĩa lý họ hỏi mà ứng đáp.” Nếu Tỳ-kheo A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
Lại nữa, một thời Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Tôn giả A-nan ở trong núi Ba-la-la, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi A-nan:
– Này Hiền giả A-nan, thầy làm thị giả đức Thế Tôn đến nay đã hai mươi lăm năm, thầy nhớ có lần nào khởi tâm tham muốn không?
Tôn giả A-nan thưa:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con còn là hàng hữu học chưa ly dục.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại bảo:
– Này Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là hàng hữu học hay vô học; tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm làm thị giả đức Thế Tôn, thầy nhớ có lần nào khởi tâm tham muốn không?
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi lần thứ hai, rồi lần thứ ba rằng:
– Này Hiền giả A-nan, trong hai mươi lăm năm làm thị giả đức Thế Tôn, thầy nhớ đã có lần nào khởi tâm tham muốn không?
Tôn giả A-nan cũng đáp đến lần thứ hai, rồi thứ ba rằng:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con còn là hàng hữu học nên chưa ly dục.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại bảo:
– Này Hiền giả A-nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữu học hay vô học; tôi chỉ hỏi, trong hai mươi lăm năm làm thị giả Thế Tôn, thầy nhớ đã có lần nào khởi tâm tham muốn không?
Ngay lúc đó, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên lên tiếng:
– Này Hiền giả A-nan, trả lời nhanh đi, trả lời nhanh đi. Này A-nan, thầy chớ làm phiền đến bậc Trưởng lão thượng tôn!
Lúc đó A-nan trả lời:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con làm thị giả đức Phật đã hai mươi lăm năm qua, con nhớ chưa lần nào sanh khởi tâm tham muốn. Vì sao như vậy? Vì con luôn hướng đến Thế Tôn và các vị Phạm hạnh có trí với tâm niệm hổ thẹn.
Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tỳ-kheo A-nan.
[0473c09] Lại nữa, một thời, Thế Tôn du hóa ở thành Vương Xá, trụ trong Nham sơn. Bấy giờ, Phật bảo A-nan:
– Này A-nan, thầy nên nằm như cách nằm của loài sư tử!
Tôn giả A-nan bạch Phật:
– Kính bạch Thế Tôn, cách nằm của sư tử, chúa tể muông thú7 như thế nào?
Đức Phật đáp:
– Này A-nan, sư tử, chúa tể muông thú, ban ngày đi tìm ăn, xong rồi trở về hang. Khi muốn ngủ, nó nằm chân xếp chồng lên nhau, đuôi thẳng ra sau, hông bên phải hướng xuống. Qua đêm, đến sáng hôm sau, nó tự quay lại nhìn thân thể. Nếu thân thể của sư tử, chúa tể muông thú không được ngay thẳng thì khi thấy rồi nó sẽ không vui; nếu thân thể của sư tử, chúa tể muông thú được chỉnh chu thì khi nhìn ngắm rồi nó liền vui vẻ. Khi thức dậy, sư tử liền ra khỏi hang, vươn mình gầm gừ, rồi tự ngắm thân thể, sau đó lại nhìn khắp bốn hướng, nhìn khắp bốn hướng rồi rống lên vài ba tiếng, rống lên vài ba tiếng rồi lại đi tìm ăn. Cách nằm của sư tử, chúa tể muông thú là như vậy.
Tôn giả A-nan thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, cách nằm của sư tử, chúa tể muông thú là như thế. Vậy thì cách nằm của thầy Tỳ-kheo phải như thế nào?
Đức Phật bảo:
– Này A-nan, nếu thầy Tỳ-kheo sống nơi thôn ấp, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, đắp y ôm bát, đi vào thôn khất thực thì phải khéo hộ trì thân thể, giữ gìn các căn, an trú chánh niệm. Vị ấy từ thôn ấp khất thực xong, xếp y, cất bát, rửa sạch tay chân, vắt tọa cụ lên vai, đến nơi yên vắng, hoặc đến dưới bóng cây, hoặc vào trong nhà trống để kinh hành, hoặc tọa thiền, diệt sạch những chướng ngại trong tâm. Ban ngày, vị Tỳ-kheo sau khi kinh hành hoặc tọa thiền để diệt sạch những chướng ngại trong tâm rồi, lại đến đầu hôm hoặc kinh hành hoặc tọa thiền để diệt sạch những điều chướng ngại trong tâm. Sau khi kinh hành hoặc tọa thiền để diệt sạch những chướng ngại trong tâm ở thời đầu hôm rồi, đến lúc nửa đêm thì đi vào thất để nằm nghỉ, xếp y Ưu-đa-la-tăng8 làm bốn rồi trải lên giường, gấp y Tăng-già-lê9 làm gối, nằm nghiêng hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, ý buộc vào tưởng ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, luôn nhớ nghĩ đến ý tưởng thức dậy. Sau nửa đêm, vị Tỳ-kheo liền nhanh chóng thức dậy, hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, để diệt sạch những pháp chướng ngại trong tâm. Như thế là cách nằm như sư tử của thầy Tỳ-kheo.
Tôn giả A-nan thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, như vậy là cách nằm như sư tử của một Tỳ-kheo.
[0474a05] Tôn giả A-nan lại nói:
– Này chư Hiền, đức Thế Tôn dạy con cách nằm như sư tử, từ đó trở đi, con chưa lần nào nằm nghiêng về bên trái.
Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tôn giả A-nan.
Lại nữa, một thời, Thế Tôn du hóa Câu-thi-na-kiệt,10 trụ trong rừng Sa-la của lực sĩ Hòa-bạt-đan.11 Bấy giờ là thời khắc cuối cùng, đức Phật muốn vào Bát-niết-bàn. Ngài bảo A-nan:
– Này A-nan, thầy hãy đi đến giữa hai cây Sa-la, trải giường đầu xoay về hướng Bắc cho Như Lai. Nửa khuya đêm nay, Như Lai sẽ vào Bát-niết-bàn.
Vâng lời Phật dạy, Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Sa-la, trải giường nằm đầu xoay về hướng Bắc cho đức Phật, sau đó trở về cúi lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, ở giữa hai cây Sa-la, con đã trải giường đầu xoay về hướng Bắc cho đức Như Lai. Kính mong Thế Tôn tự biết thời!
Bấy giờ, Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan đến giữa hai cây Sa-la, xếp làm tư y Ưu-đa-la-tăng rồi trải lên giường, gấp y Tăng-già-lê để làm gối, sau đó nằm nghiêng về bên phải, hai chân chồng lên nhau. Lúc cuối cùng Thế Tôn vào Bát-niết-bàn, Tôn giả A-nan quạt hầu đức Phật, đưa tay gạt nước mắt và tự nghĩ: “Từ trước đến nay có chúng Tỳ-kheo ở các nơi đến thăm viếng cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn thì đều được tùy thời thăm viếng, cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn. Nếu hay tin Thế Tôn đã Bát-niết-bàn thì họ sẽ không đến thăm viếng, cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn nữa. Ta cũng không còn được tùy thời thăm viếng cúng dường và đảnh lễ đức Phật.”
Bấy giờ, Phật hỏi các thầy Tỳ-kheo:
– Tỳ-kheo A-nan hiện đang ở đâu?
Lúc ấy, các vị Tỳ-kheo thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, Tôn giả A-nan đang cầm quạt hầu Phật, đưa tay gạt nước mắt và tự nghĩ: “Từ trước đến nay có chúng Tỳ-kheo ở các nơi đến thăm viếng cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn thì đều được tùy thời thăm viếng, cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn. Nếu hay tin Thế Tôn đã Bát-niết-bàn thì họ sẽ không đến thăm viếng, cúng dường và đảnh lễ Thế Tôn nữa. Ta cũng không còn được tùy thời thăm viếng cúng dường và đảnh lễ đức Phật.”
Bấy giờ, Thế Tôn nói:
– Này A-nan, thầy chớ than khóc, cũng chớ buồn đau. Vì sao như vậy? Này A-nan, thầy làm thị giả Như Lai, thân hành từ hòa, miệng và ý hành từ hòa, chưa từng chểnh mảng lơ là,12 an lạc vô lượng, vô biên, vô hạn. Này A-nan, trong đời quá khứ, các bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác không có người thị giả nào hơn thầy được. Này A-nan, nếu các bậc Như lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đời vị lai có thị giả thì cũng không có người thị giả nào hơn thầy được. Này A-nan, Ta là bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác trong đời hiện tại, nếu có người làm thị giả cũng không ai hơn thầy được. Vì sao như vậy? Này A-nan, vì thầy khéo biết thời, khéo phân biệt thời, biết lúc nào mình nên đến gặp Như Lai, lúc nào không nên đến gặp Như Lai. Biết lúc nào chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni nên đến thăm hỏi Như Lai; biết lúc nào chúng Tỳ-kheo và chúng Tỳ-kheo-ni không nên đến thăm hỏi Như Lai; biết lúc nào chúng ưu-bà-tắc và chúng ưu-bà-di nên đến thăm hỏi Như Lai và lúc nào chúng ưu-bà-tắc và chúng ưu-bà-di không nên đến thăm hỏi Như Lai; biết lúc nào hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nên đến gặp Như Lai; biết lúc nào các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo không nên đến gặp Như Lai; biết các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nào có thể bàn luận với Như Lai, biết các hàng Sa-môn, Phạm chí, ngoại đạo nào không thể bàn luận với Như Lai; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Như Lai dùng rồi sẽ an ổn, lợi ích; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Như Lai dùng rồi sẽ không an ổn, không lợi ích; biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Như Lai dùng rồi sẽ được biện tài thuyết pháp, biết thức ăn loại cứng hay loại mềm nào Như Lai dùng rồi sẽ không được biện tài thuyết pháp.
Lại nữa, A-nan, tuy thầy chưa có tha tâm trí, nhưng có thể biết trước Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai khi rời nơi tĩnh tọa vào lúc xế chiều; hôm nay, Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc trú như vậy, nhận xét đúng như lời Như Lai dạy, chắc thật, không sai khác.
[0474b23] Bấy giờ, vì muốn làm cho Tôn giả A-nan hoan hỷ nên Thế Tôn bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Chuyển Luân Thánh Vương được bốn pháp chưa từng có. Bốn pháp ấy là gì? Đó là chúng Sát-lợi đến yết kiến Chuyển Luân Vương, nếu lúc ấy vua im lặng, họ nhìn thấy liền hoan hỷ; nếu lúc ấy vua có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ. Chúng Phạm chí, chúng cư sĩ và chúng Sa-môn đến yết kiến Chuyển Luân Vương, nếu lúc ấy vua im lặng, họ nhìn thấy liền hoan hỷ; nếu lúc ấy vua có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ.
Tỳ-kheo A-nan cũng giống như vậy, cũng có bốn pháp chưa từng có. Bốn pháp ấy là gì? Đó là khi chúng Tỳ-kheo đến gặp A-nan, nếu lúc ấy A-nan im lặng, họ nhìn thấy liền hoan hỷ; nếu lúc ấy A-nan có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ. Chúng Tỳ-kheo-ni, chúng ưu-bà-tắc và chúng ưu-bà-di nếu gặp A-nan, gặp lúc A-nan im lặng, họ nhìn thấy liền hoan hỷ, nếu lúc ấy A-nan có nói gì, họ nghe rồi liền hoan hỷ.
[0474c04] Lại nữa, A-nan thuyết pháp cho đại chúng, có bốn pháp chưa từng có. Bốn pháp ấy là gì? Tỳ-kheo A-nan thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo với tâm chí thành, không phải tâm không chí thành. Chúng Tỳ-kheo ấy cũng nghĩ như vầy: “Kính mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp, không dừng lại nửa chừng.” Chúng Tỳ-kheo ấy nghe Tôn giả A-nan thuyết pháp không hề biết chán, nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên trụ trong thinh lặng. Tỳ-kheo A-nan thuyết pháp cho chúng Tỳ-kheo-ni, chúng ưu-bà-tắc và chúng ưu-bà-di với tâm chí thành, không phải tâm không chí thành. Các chúng này cũng nghĩ rằng: “Kính mong Tôn giả A-nan thường thuyết pháp, không dừng lại nửa chừng.” Các chúng này nghe Tôn giả A-nan thuyết pháp cũng không bao giờ biết chán, thế nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên trụ trong thinh lặng.
Lại nữa, một thời, sau khi Thế Tôn Bát-niết-bàn không lâu, Tôn giả A-nan du hóa tại Kim Cang, cư ngụ ở thôn Kim Cang. Bấy giờ, Tôn giả A-nan thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh trước sau. Bấy giờ, Tôn giả Kim Cang Tử cũng đang ở trong hội chúng này, trong tâm suy nghĩ: “Tôn giả A-nan vẫn còn là bậc Hữu học chưa ly dục sao? Ta nên nhập Như kỳ tượng định để quán sát tâm của Tôn giả A-nan.” Thế rồi Tôn giả Kim Cang Tử liền vào Như kỳ tượng định để quán sát tâm A-nan. Tôn giả Kim Cang Tử liền biết Tôn giả A-nan vẫn còn là bậc Hữu học chưa ly dục.
Bấy giờ, Tôn giả Kim Cang Tử xuất định, hướng về Tôn giả A-nan nói kệ rằng:
Tư duy nơi rừng vắng, Dẫn tâm về Niết-bàn,
Thiền Cù-đàm không loạn, Sẽ sớm chứng tịch diệt.
Bấy giờ, vâng lời dạy của Tôn giả Kim Cang Tử, Tôn giả A-nan rời bỏ đại chúng, du hành một mình, tinh tấn, không tán loạn, với mục đích mà một người thiện nam đã cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo chỉ vì thành tựu Phạm hạnh vô thượng. Thầy ấy ngay trong hiện tại, tự liễu tri, tự giác ngộ, tự mình tác chứng và thành tựu, biết đúng như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Sau khi Tôn giả A-nan biết pháp rồi13 cho đến chứng đắc A-la-hán,14 thầy ấy nói:
– Này chư Hiền, tôi ngồi trên giường, nghiêng đầu chưa chạm mặt gối, liền dứt sạch tất cả phiền não, thành tựu tâm giải thoát.
Nếu Tôn giả A-nan nói như vậy thì đó là pháp hy hữu của Tôn giả A-nan.
[0475a05] Tôn giả A-nan lại nói:
– Này chư Hiền, tôi sẽ ngồi kiết-già để Bát-niết-bàn.
Nói xong, Tôn giả A-nan liền ngồi kiết-già mà Bát-niết-bàn.
Nếu Tôn giả A-nan ngồi kiết-già để Bát-niết-bàn thì đó là pháp hy hữu của Tôn giả A-nan.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích
1 Nguyên tác: Thị giả kinh 侍者經 (T.01. 0026.33. 0471c27). Tham chiếu: Thag. 17.3.
2 Tên của các vị Tôn giả được phiên âm Hán-Việt, đính kèm chữ Hán và Pāli như sau: Câu-lân-nhã (拘鄰若, Koṇḍañña), A-nhiếp-bối (阿攝貝, Assaji), Bạt-đề (跋提, Bhaddiya), Ma-ha-nam Câu-lệ (摩訶男拘隸, Mahānāma Kolita), Hòa-phá (惒破, Vappa), Da-xá (耶舍, Yasa), Bân-nậu (邠耨, Puṇṇa), Duy-ma-la (維摩羅, Vimala), Già-hòa-ba-đề (伽惒波提, Gavampati), Tu-đà-da (須陀耶, Todeyya), Xá-lê tử (舍梨子, Sāriputta), A-na-luật-đà (阿那律陀, Anuruddha), Nan-đề (難提, Nandiya), Kim-tỳ-la (金毘羅, Kimbila), Lệ-ba-đá (隸婆哆, Revata), Đại Mục-kiền-liên (大目犍連, Mahāmoggallāna), Đại Ca-diếp (大迦葉, Mahākassapa), Đại Câu-hy-la (大拘絺羅, Mahākoṭṭhita), Đại Châu-na (大周那, Mahācunda), Đại Ca-chiên-diên (大迦旃延, Mahākaccāyana), Bân-nậu-gia-nậu-tả (邠耨耶耨寫).
3 Nguyên tác: Như kỳ tượng định (如其像定). Tham chiếu: A. IV. 204: Cetasā ceto paricca manasākāsi (với tâm của mình chú tâm tác ý đến...), HT. Thích Minh Châu dịch. Tương tự, M. 49: Cetasā ceto parivitakkamaññāya (với tự tâm biết được tâm của…), HT. Thích Minh Châu dịch; M. 119: Cetasā ceto paricca pajānāti (với tâm của vị ấy, vị ấy biết tâm của…), HT. Thích Minh Châu dịch. Trong trường hợp này, thành cú mang ý nghĩa: “Quán tâm của kẻ khác như tâm của chính mình.”
4 Nguyên tác: Nguyện bất phi thời kiến Phật (願不非時見佛). Căn cứ vào cú pháp thì câu kinh này được dịch là “Nguyện không gặp Thế Tôn phi thời.” Tuy nhiên, khi tham chiếu Thag. 17.3: Na nivāreti cakkhumā (Bậc có mắt không có / Từ chối ngăn chặn ai), HT. Minh Châu dịch; và căn cứ vào lịch sử sinh hoạt của giáo đoàn thời ấy và tâm từ bi của đức Phật thì câu 願不非時見佛 có thể hiểu là “Con nguyện được gặp Phật khi có việc cần.”
5 Xem thêm MĀ. 22.
6 Pháp tụ (法聚, dhammakkhandha) cũng gọi là “pháp uẩn” (法蘊).
7 Thú vương sư tử (獸王師子). Vì sư tử là chúa tể sơn lâm, chúa tể muông thú nên sư tử còn được gọi là “thú vương sư tử.”
8 Ưu-đa-la-tăng (優多羅僧) còn gọi Uất-đa-la-tăng, là áo che phần trên thân thể.
9 Tăng-già-lê (僧笳梨): Áo choàng, áo khoác bên ngoài.
10 Câu-thi-na-kiệt (拘尸那竭) phiên âm của Kusināra, thị trấn nơi đức Phật nhập Niết-bàn.
11 Hòa-bạt-đan lực sĩ Sa-la lâm (惒跋單力士裟羅林). D. 16: Rừng Upavattana có nhiều cây Sāla, ở bên bờ sông Hiraññavatī (Hi-liên-thiền), của dòng họ Mallā ở Kusinarā.
12 Nguyên tác: Sơ vô nhị tâm (初無二心).
13 Tri pháp (知法): Thấy rõ chân lý, tức “kiến đế” (見諦).
14 Nguyên tác: A-la-ha (阿羅訶). Bậc A-la-hán cũng được gọi là bậc Ứng Cúng. Đại trí độ luận 大智度論 (T.25. 1509.24. 0236a27) giải thích: Vì xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của tất cả thế gian nên được gọi là bậc Ứng Cúng (應受一切世間供養故,名為應供人).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.