Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

32. KINH PHÁP HY HỮU1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ Phật, lạy sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Kính bạch Thế Tôn, con đã được nghe, ở thời Phật Ca-diếp,2 Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh. Nếu ở thời Phật Ca-diếp, Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, ở thời Phật Ca-diếp, Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh và sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà.3 Nếu thời Phật Ca-diếp, Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh và sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, thời Phật Ca-diếp, Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh và sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà. Dẫu sanh lên sau, nhưng Thế Tôn có ba điều thù thắng hơn so với các vị sanh lên trước, đó là thọ mạng cõi trời, dung mạo cõi trời và danh dự cõi trời. Cho nên, các vị trời Đâu-suất-đà vui mừng hớn hở rồi khen ngợi rằng: “Kỳ diệu thay và hy hữu thay! Vị thiên tử này có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn. Vì sao như vậy? Tuy sanh lên đây sau, nhưng vị ấy có ba điều thù thắng hơn so với những vị sanh lên trước, đó là thọ mạng cõi trời, dung mạo cõi trời và danh dự cõi trời.” Nếu ở thời Phật Ca-diếp, Thế Tôn mới phát nguyện Phật đạo, thực hành Phạm hạnh và sanh lên cõi trời Đâu-suất-đà; dù sanh lên sau, nhưng Thế Tôn có ba điều thù thắng hơn so với các vị sanh lên trước, đó là thọ mạng cõi trời, dung mạo cõi trời và danh dự cõi trời. Cho nên, các vị trời Đâu-suất-đà vui mừng hớn hở rồi khen ngợi rằng: “Kỳ diệu thay và hy hữu thay! Vị thiên tử này có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn. Vì sao như vậy? Tuy sanh lên đây sau, nhưng vị ấy có ba điều thù thắng hơn so với những vị sanh lên trước, đó là thọ mạng cõi trời, dung mạo cõi trời và danh dự cõi trời.” Vậy thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0470a13] Con nghe rằng, lúc sắp lâm chung ở cung trời Đâu-suất-đà, Thế Tôn biết sẽ vào thai mẹ, lúc ấy đất trời rung chuyển, ánh sáng nhiệm mầu rộng lớn chiếu khắp thế gian, kể cả những nơi u ám, tối tăm cũng không ngăn ngại. Nghĩa là nơi nào mà mặt trời, mặt trăng dù có như thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được thì tất cả những nơi ấy đều được sáng ngời. Cho nên, chúng sanh ở các nơi ấy nhờ ánh sáng nhiệm mầu này mà phát sanh sự hiểu biết rằng: “Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!” Nếu lúc sắp lâm chung ở cung trời Đâu-suất-đà, Thế Tôn biết sẽ vào thai mẹ, lúc ấy đất trời rung chuyển, ánh sáng nhiệm mầu rộng lớn chiếu khắp thế gian, kể cả những nơi u ám, tối tăm. Nghĩa là nơi nào mà mặt trời, mặt trăng dù có như thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được thì tất cả những nơi ấy đều được sáng ngời. Cho nên, chúng sanh ở các nơi ấy nhờ ánh sáng nhiệm mầu này mà phát sanh sự hiểu biết rằng: “Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!” Vậy thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn biết mình ở trong thai mẹ, nương nơi hông bên phải. Nếu đức Thế Tôn biết mình ở trong thai mẹ, nương nơi hông bên phải thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn thân thể thư thái ở trong thai mẹ. Nếu đức Thế Tôn thân thể thư thái ở trong thai mẹ thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn được bảo bọc trong thai mẹ, không bị máu nhơ làm ô uế, cũng không bị tinh khí và các thứ bất tịnh khác làm ô uế. Nếu đức Thế Tôn được bảo bọc trong thai mẹ, không bị máu nhơ làm ô uế, cũng không bị tinh khí và các thứ bất tịnh khác làm ô uế thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0470b05] Con nghe rằng, Thế Tôn biết mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy trời đất rung chuyển, ánh sáng nhiệm mầu, rộng lớn chiếu khắp thế gian, kể cả những nơi u ám, tối tăm cũng không ngăn ngại. Nghĩa là nơi nào mà mặt trời, mặt trăng dù có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được thì tất cả những nơi ấy đều được sáng ngời. Cho nên, chúng sanh ở các nơi ấy nhờ ánh sáng nhiệm mầu này mà phát sanh sự hiểu biết rằng: “Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!” Nếu Thế Tôn biết mình ra khỏi thai mẹ, lúc ấy trời đất rung chuyển, ánh sáng nhiệm mầu, rộng lớn chiếu khắp thế gian, kể cả những nơi u ám, tối tăm cũng không ngăn ngại. Nghĩa là nơi nào mà mặt trời, mặt trăng dù có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn cũng không chiếu rọi ánh sáng đến được thì tất cả những nơi ấy đều được sáng ngời. Cho nên, chúng sanh ở các nơi ấy nhờ ánh sáng nhiệm mầu này mà phát sanh sự hiểu biết rằng: “Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời! Có một chúng sanh kỳ diệu, hy hữu ra đời!” Vậy thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn có thân thể thư thái ra khỏi thai mẹ. Nếu đức Thế Tôn có thân thể thư thái ra khỏi thai mẹ thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn được bảo bọc khi ra khỏi thai mẹ nên không bị máu nhơ làm ô uế, cũng không bị tinh khí và các vật bất tịnh khác làm ô uế. Nếu đức Thế Tôn được bảo bọc khi ra khỏi thai mẹ nên không bị máu nhơ làm ô uế, cũng không bị tinh khí và các vật khác làm ô uế thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, khi Thế Tôn vừa ra đời, có bốn vị thiên tử, tay cầm chiếc áo đẹp mịn màng đứng trước người mẹ làm cho người mẹ hoan hỷ rồi khen ngợi rằng: “Đứa trẻ này rất kỳ diệu, rất hy hữu, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn!” Nếu khi Thế Tôn vừa được sanh ra, liền có bốn vị thiên tử tay cầm chiếc áo đẹp mịn màng đứng trước người mẹ làm cho người mẹ hoan hỷ rồi khen ngợi rằng: “Đứa trẻ này rất kỳ diệu, rất hy hữu, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn, có oai thần lớn”, con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, khi Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước, không khiếp sợ, không kinh hãi, quán sát các phương. Nếu đức Thế Tôn vừa mới sanh ra, liền đi bảy bước, không khiếp sợ, không kinh hãi, quán sát các phương thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0470c03] Con nghe rằng, khi Thế Tôn vừa được sanh ra, ngay phía trước người mẹ bỗng xuất hiện một hồ nước lớn, nước tràn bờ, giúp cho người mẹ được tẩy gội thanh tịnh tại đây. Nếu khi đức Thế Tôn vừa được sanh ra, ngay phía trước người mẹ bỗng xuất hiện một hồ nước lớn, nước đầy tràn bờ, giúp cho người mẹ được tẩy gội thanh tịnh tại đây thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, khi Thế Tôn vừa được sanh ra, từ giữa hư không nước mưa rưới xuống, một dòng nước lạnh và một dòng nước ấm để tắm gội thân thể Thế Tôn. Nếu khi Thế Tôn vừa sanh ra, từ giữa hư không nước mưa rưới xuống, một dòng nước lạnh và một dòng nước ấm để tắm gội thân thể Thế Tôn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, khi Thế Tôn vừa sanh ra, chư thiên ở giữa hư không đánh trống và tấu nhạc trời; lại có hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng và hoa mạn-đà-la4 của cõi trời và bột hương chiên-đàn rải trên thân thể Ngài. Nếu khi Thế Tôn vừa sanh ra, chư thiên ở giữa hư không đánh trống và tấu nhạc trời; lại có hoa sen xanh, hoa sen hồng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng, hoa văn-đà-la của cõi trời và bột hương chiên-đàn rải trên thân thể của đức Thế Tôn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, đức Thế Tôn ở trong hoàng cung của Phụ vương Bạch Tịnh, vào một ngày đi dự lễ Hạ điền, Ngài ngồi bên cội cây diêm-phù,5 lìa dục, lìa các pháp ác và bất thiện, có giác có quán, được hỷ lạc do lìa dục sanh, thành tựu và an trụ Thiền thứ nhất. Bấy giờ là lúc xế trưa, bóng của các cây khác đều ngả dần, chỉ có bóng cây diêm-phù là không ngả, vẫn che mát thân Ngài. Lúc đó, Thích Bạch Tịnh đến quan sát việc lễ Hạ điền, đến chỗ người làm ruộng hỏi:
– Này nông phu, Vương tử hiện đang ở đâu?
Người ấy trả lời:
– Vương tử hiện đang ngồi bên cội cây diêm-phù.
Rồi Thích Bạch Tịnh đến chỗ cây diêm-phù. Bấy giờ là xế trưa, nhà vua thấy bóng của các cây khác đều đã ngả, chỉ có bóng cây diêm-phù là không ngả, vẫn che mát thân Vương tử, liền nghĩ: “Vương tử này thật kỳ diệu, rất hy hữu, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và có oai thần lớn. Vì sao như vậy? Vì vào lúc xế trưa, bóng các cây khác đều ngả, riêng bóng cây diêm-phù là không ngả để che mát thân của Vương tử.” Nếu vào buổi xế trưa, bóng các cây khác đều ngả, riêng bóng cây diêm-phù là không ngả, vẫn che mát thân thể của đức Thế Tôn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0471a01] Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn du hóa ở Tỳ-xá-ly, trong Đại Lâm. Lúc đó, khi đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y, ôm bát vào thành Tỳ-xá-ly khất thực. Sau khi thọ thực xong, Ngài xếp y, cất bát, rửa tay chân, vắt tọa cụ6 lên vai, đi vào rừng, đến bên một gốc cây sa-la rồi trải tọa cụ ngồi kiết-già. Bấy giờ là buổi xế trưa, tất cả bóng cây đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la không ngả, vẫn che mát thân thể đức Thế Tôn. Bấy giờ là buổi xế trưa, Thích Ma-ha-nam tản bộ đến Đại Lâm, nhìn thấy tất cả bóng cây đều ngả chỉ trừ bóng cây sa-la không ngả, vẫn che mát thân thể Thế Tôn, liền suy nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm thật kỳ diệu, rất hy hữu, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn! Vì sao như vậy? Vì vào xế trưa, tất cả bóng cây đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la không ngả, vẫn che mát thân thể của Sa-môn Cù-đàm.” Nếu vào buổi xế trưa, tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la không ngả, vẫn che mát thân thể Thế Tôn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn du hóa tại Tỳ-xá-ly, trong Đại Lâm. Bấy giờ các thầy Tỳ-kheo để bình bát của mình và của Thế Tôn ngoài chỗ đất trống. Lúc ấy, có một con khỉ ôm bình bát của Ngài đi. Các thầy Tỳ-kheo liền la lên, sợ nó làm vỡ bình bát của Phật, nhưng Ngài bảo các Tỳ-kheo: “Hãy để yên, hãy để yên, đừng la, nó không làm vỡ bình bát đâu!” Thế rồi, con khỉ ấy ôm bình bát của Ngài đến một cây sa-la, chậm rãi leo lên cây lấy đầy bát mật, rồi chậm rãi leo xuống, trở về chỗ Phật, đem dâng bát mật lên Thế Tôn nhưng Thế Tôn không thọ nhận. Lúc đó, khỉ liền ôm bát đứng qua một bên, nhặt bỏ rác và sâu bọ trong bát. Sau khi nhặt bỏ sâu bọ xong, nó ôm bình bát trở lại dâng lên Thế Tôn. Thế Tôn cũng không nhận. Khỉ lại ôm bát đứng qua một bên, múc nước đổ vào trong mật, rồi trở lại dâng lên Thế Tôn. Thế Tôn liền thọ nhận. Thấy Thế Tôn nhận bát mật, khỉ vui mừng hớn hở, múa may nhảy nhót rồi ra đi. Nếu đức Thế Tôn có thể khiến cho con khỉ kia khi thấy Ngài nhận bát mật, nó liền vui mừng hớn hở, múa may nhảy nhót rồi ra đi thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn du hóa tại Tỳ-xá-ly, ở giảng đường Trùng Các,7 bên ao Di Hầu. Bấy giờ, đức Thế Tôn đang phơi tọa cụ, giũ bụi, phủi đất. Lúc ấy có một đám mây trái mùa kéo đến, giăng kín khắp hư không, sắp mưa nhưng dừng lại chờ Ngài phơi tọa cụ, giũ bụi, xếp cất một nơi, mang chổi đi cất, rồi vào đứng trong nền nhà. Bấy giờ đám mây lớn ấy thấy Thế Tôn đã xếp cất tọa cụ, mới tuôn một trận mưa lớn, từ chỗ đất thấp cho đến nơi cao, nước đều ngập lai láng. Nếu đức Thế Tôn có thể khiến cho đám mây lớn kia thấy Ngài xếp cất tọa cụ rồi mới tuôn một trận mưa lớn, từ chỗ đất thấp cho đến nơi cao, nước đều ngập lai láng thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0471b08] Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn du hóa tại Bạt-kỳ,8 ngồi bên cội sa-la chúa, trong rừng Suối nước nóng. Bấy giờ là buổi xế trưa, tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la chúa không ngả, vẫn che mát thân thể Ngài. Khi ấy, chủ vườn là La-ma đi dạo xem vườn, thấy vào xế trưa, tất cả bóng cây khác đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la chúa không ngả, vẫn che mát thân thể của Thế Tôn, ông ấy liền nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm thật kỳ diệu, rất hy hữu, có thần thông lớn, có oai đức lớn, có phước đức lớn và oai thần lớn! Vì sao như vậy? Vì vào xế trưa, tất cả bóng cây đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la chúa không ngả, vẫn che mát thân thể của Sa-môn Cù-đàm.” Nếu vào xế trưa, tất cả bóng cây đều ngả, chỉ trừ bóng cây sa-la chúa không ngả, vẫn che mát thân thể đức Thế Tôn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn ở trong miếu thần A-phù.9 Bấy giờ, đêm đã qua, vào buổi sáng sớm, Thế Tôn đắp y, ôm bát vào thôn A-phù khất thực. Sau khi thọ thực xong, Ngài xếp y, cất bát, rửa chân tay, vắt tọa cụ lên vai rồi đi vào miếu thần ngồi nghỉ.
Bấy giờ, trời đổ mưa lớn, sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày. Lúc chôn cất cho hai người chết ấy, mọi người huyên náo, tiếng động inh tai, âm thanh vang dội.
Khi ấy, vào xế trưa, từ trong miếu thần, Thế Tôn rời nơi tĩnh toạ, ra ngoài kinh hành nơi khoảng đất trống. Trong đám đông đó có một người thấy Ngài vào lúc xế trưa, rời nơi tĩnh toạ, ra ngoài kinh hành nơi khoảng đất trống, liền đi đến cúi đầu làm lễ rồi kinh hành theo sau. Ngài thấy người ấy đi phía sau, liền hỏi:
– Vì việc gì mà mọi người huyên náo, tiếng động inh tai, âm thanh vang dội đến vậy?
Người ấy thưa:
– Bạch Thế Tôn, lúc trưa, trời đổ mưa lớn, sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày; lúc chôn cất hai người chết ấy, mọi người huyên náo, tiếng động inh tai, âm thanh vang dội. Bạch Thế Tôn, vừa rồi Ngài không nghe gì hết ư?
Thế Tôn bảo:
– Ta không nghe gì cả.
Người ấy lại hỏi:
– Vừa rồi Ngài ngủ sao?
Thế Tôn bảo:
– Không phải!
Người ấy lại hỏi:
– Lúc ấy Ngài tỉnh thức mà không nghe những âm thanh ồn ào huyên náo đó sao?
Thế Tôn bảo:
– Đúng vậy!
Bấy giờ, người kia liền nghĩ: “Thật kỳ diệu, rất hy hữu, sở hành của Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác rất vắng lặng, rất tịch tĩnh! Vì sao như vậy? Vì lúc tỉnh thức mà vẫn không nghe những âm thanh ồn ào huyên náo này.” Nếu đức Thế Tôn tỉnh thức mà vẫn không nghe những âm thanh ồn ào huyên náo ấy thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
[0471c09] Con nghe rằng, một thời, Thế Tôn lúc mới thành đạo, trụ tại Uất-bệ-la,10 bên bờ sông Ni-liên-nhiên,11 ngồi bên cội cây A-xà-hòa-la Ni-câu-loại.12 Bấy giờ mưa lớn liên tục bảy ngày, từ chỗ thấp đến chỗ cao đều bị ngập nước, từng dòng nước lớn tuôn chảy cuồn cuộn. Trong vùng đất trống ấy, Thế Tôn đi kinh hành, đến chỗ nào thì nơi ấy có bụi bay lên. Nếu đức Thế Tôn ở trong vùng có luồng nước chảy xoáy ngang dọc mà đi kinh hành, bước đến chỗ nào thì chỗ ấy có bụi bay lên, vậy thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Ma vương theo Phật tìm chỗ sơ hở trong suốt sáu năm mà không được, nên chán nản bỏ về. Nếu đức Thế Tôn bị Ma vương tìm chỗ sơ hở trong suốt sáu năm mà không được, nên chán nản bỏ về thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Con nghe rằng, Thế Tôn suy niệm về thân trong suốt bảy năm, luôn luôn suy niệm, không gián đoạn. Nếu đức Thế Tôn suy niệm về thân trong suốt bảy năm, luôn luôn suy niệm, không gián đoạn thì con xin thọ trì pháp hy hữu ấy của Thế Tôn.
Bấy giờ, đức Phật dạy:
– Này A-nan, thầy hãy nghe từ nơi Như Lai mà thọ trì thêm các pháp hy hữu này. Này A-nan, Như Lai biết sự sanh khởi của cảm thọ, biết sự tồn tại, biết sự diệt, luôn luôn biết, không lúc nào không biết. Này A-nan, Như Lai biết sự sanh của tư và tưởng, biết sự tồn tại, biết sự diệt mất, luôn luôn biết, không lúc nào không biết. Cho nên, này A-nan, hãy nghe từ nơi Như Lai mà thọ trì thêm pháp hy hữu này.
Đức Phật dạy như vậy, Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích:
1 Nguyên tác: Vị tằng hữu pháp kinh 未曾有法經 (T.01. 0026.32. 0469c20). Tham chiếu: M. 123, Acchariyaabbhuta Sutta (Kinh hy hữu vị tằng hữu pháp); A. 4.127 - III. 130.
2 Ca-diếp (迦葉, Kassapa) là vị Phật thứ 3 trong số 1.000 vị Phật của Hiền kiếp (賢劫, Bhaddakappa).
3 Đâu-suất-đà (兜瑟哆, Tusita), tầng trời thứ 4 trong 6 tầng trời Dục giới (欲界, Kāmadhātu).
4 Nguyên tác: Văn-đà-la hoa (文陀羅華). Bản Tống, Nguyên, Minh ghi là mạn-đà-la hoa (曼陀羅華). Xem Đại trí độ luận 大智度論 (T.25. 1509.99. 0748a03).
5 Diêm-phù thọ (閻浮樹, Jamburukkha).
6 Nguyên tác: Ni-sư-đàn (尼師檀).
7 Nguyên tác: Cao Lâu đài quán (高樓臺觀, Kūṭāgārasālā), cũng gọi là giảng đường Trùng Các (重閣講堂).
8 Bạt-kỳ (跋耆, Vajjī).
9 A-phù (阿浮, Ātumā).
10 Uất-bệ-la (鬱鞞羅, Uruvelā).
11 Ni-liên-nhiên (尼連然, Nerañjarā) cũng gọi là sông Ni-liên-thiền (尼連禪河, 尼連禪那河).
12 A-xà-hòa-la Ni-câu-loại (阿闍和羅尼拘類, Ajapāla Nigrodha).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.