Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

31. KINH PHÂN BIỆT THÁNH ĐẾ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Đây là giáo pháp được chân chánh thuyết giảng,2 phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị, hướng dẫn,3 thâu nhiếp rộng rãi và quán chiếu toàn diện, là giáo pháp bốn Thánh đế. Trong quá khứ, các đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã từng thuyết giảng, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị, hướng dẫn, thâu nhiếp rộng rãi và quán chiếu toàn diện giáo pháp chân chánh này, là giáo pháp bốn Thánh đế. Trong tương lai, các đấng Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng sẽ thuyết giảng, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị, hướng dẫn, thâu nhiếp rộng rãi và quán chiếu toàn diện giáo pháp chân chánh này, là giáo pháp bốn Thánh đế. Trong đời hiện tại, Ta là Như Lai, bậc Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác cũng có thuyết giảng, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị, hướng dẫn, thâu nhiếp rộng rãi và quán chiếu toàn diện giáo pháp chân chánh này, là giáo pháp bốn Thánh đế.
Tỳ-kheo Xá-lợi-phất4 là bậc có trí tuệ thông đạt, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ linh hoạt, trí tuệ sắc bén, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ sâu xa, trí tuệ xuất yếu, trí tuệ minh đạt và trí tuệ biện tài. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu thật tuệ. Vì sao như vậy? Vì Ta chỉ nói sơ lược về bốn Thánh đế này mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã có thể giáo hóa rộng rãi, quán chiếu toàn diện, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị và hướng dẫn cho người khác nghe.
Khi Tỳ-kheo Xá-lợi-phất giáo hóa rộng rãi, chỉ bày rộng khắp, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị và hướng dẫn về bốn Thánh đế này, đã giúp cho vô số người đạt đến chánh quán. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất có khả năng dùng chánh kiến để soi đường chỉ lối.
Tỳ-kheo Mục-kiền-liên có khả năng an lập chúng sanh nơi chân đế tối thượng, tức là cứu cánh Niết-bàn.5 Tỳ-kheo Xá-lợi-phất sanh ra các bậc Phạm hạnh, ví như sanh mẫu. Tỳ-kheo Mục-kiền-liên nuôi lớn các bậc Phạm hạnh, ví như dưỡng mẫu. Do đó, các bậc Phạm hạnh nên phụng sự, cúng dường, cung kính, lễ bái Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Vì sao như vậy? Vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên thường mong cầu ý nghĩa và lợi ích, mong cầu an ổn và hân hoan cho các bậc Phạm hạnh.
Sau khi giảng nói xong, đức Phật từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Lúc đó, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Đức Thế Tôn vì chúng ta mà xuất hiện ở thế gian, vì mọi người mà giáo hóa, chỉ bày rộng rãi, phân biệt, rộng tuyên, mở bày, an lập, hiển thị và hướng dẫn về bốn Thánh đế này. Bốn Thánh đế là những gì? Đó là Thánh đế về khổ, Thánh đế về nguyên nhân của khổ, Thánh đế về khổ diệt và Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Này chư Hiền, thế nào là Thánh đế về khổ? Đó là, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ, thương yêu mà chia lìa là khổ, cầu mong mà không được là khổ, tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói sanh là khổ? Này chư Hiền, sanh nghĩa là nói chúng sanh kia, mỗi mỗi chủng loại chúng sanh khác nhau, đến lúc sanh thì sanh, xuất hiện thì xuất hiện, hình thành thì hình thành, tạo thành năm uẩn, từ đó có mạng căn, đây gọi là sanh.
Này chư Hiền! Sanh là khổ, nghĩa là chúng sanh khi sanh ra thì thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói sanh là khổ.
[0467c11] Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói già là khổ? Này chư Hiền! Già là nói chúng sanh kia, mỗi mỗi chủng loại chúng sanh khác nhau, chúng trở nên già yếu, tóc bạc, răng rụng, khi xưa cường tráng, ngày mỗi suy hao, thân còng gối rũ, khí chất kém suy, hơi thở mệt nhọc, đi phải chống gậy, thịt rút da nhăn, xù xì như gai, các căn hư hoại, nhan sắc xấu xí, như vậy gọi là già.
Này chư Hiền! Già là khổ, nghĩa là khi chúng sanh già đi thì thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói già là khổ.
Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói bệnh là khổ? Này chư Hiền! Bệnh nghĩa là đau đầu, đau mắt, đau tai, đau mũi, đau mặt, đau môi, đau răng, đau lưỡi, đau nướu, đau cổ, phong suyễn, ho hen, nôn mửa, cứng họng, cuồng loạn, co giật, ung thư, mọc bướu, kinh nguyệt thất thường, viêm đỏ, nóng sốt, gầy còm, bệnh trĩ, mụt nhọt, kiết lỵ và tất cả những bệnh khác tương tự như vậy đều từ xúc,6 do xúc mà sanh ra, không rời khỏi tâm, ở ngay trong thân, đó gọi là bệnh.
Này chư Hiền, bệnh là khổ nghĩa là khi chúng sanh bị bệnh thì thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói bệnh là khổ.
[0468a04] Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói chết là khổ? Này chư Hiền, chết là nói đến chúng sanh kia, mỗi mỗi chủng loại chúng sanh khác nhau đều chịu sự vô thường nên phải qua đời, tử vong tan hoại, tuổi thọ đã hết, mạng căn chấm dứt, đó gọi là chết.
Này chư Hiền! Chết là khổ nghĩa là khi chúng sanh chết đi, thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự nóng bức dữ dội, sự giày vò, sự buồn lo, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói chết là khổ.
Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói oán ghét mà gặp nhau là khổ? Này chư Hiền! Oán ghét mà gặp nhau nghĩa là, chúng sanh thật có sáu căn bên trong7 là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn vốn không ưa thích, nhưng chúng cùng tụ hội một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự hòa hợp ấy là khổ. Cũng vậy, các trần bên ngoài8 với xúc, thọ, tưởng, tư9 và ái10 cũng lại như vậy. Này chư Hiền, chúng sanh thật có sáu giới là đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới, chúng vốn không ưa thích, nhưng cùng tụ hội một chỗ, có sự gắn bó, hòa hợp, tập hợp. Sự tập hợp ấy là khổ. Đó gọi là oán ghét gặp nhau.
Này chư Hiền, oán ghét mà gặp nhau là khổ, nghĩa là chúng sanh khi có sự tụ hội của những thứ oán ghét thì thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói oán ghét gặp nhau là khổ.
Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói thương yêu mà chia lìa là khổ? Này chư Hiền! Nỗi khổ của sự yêu thương nhau mà lại xa lìa nghĩa là, chúng sanh thật có sáu căn bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý xứ đáng yêu thích, nhưng những thứ ấy lại phân tán cách biệt, không được tương ứng, xa cách không gặp, không gắn bó, không tập hợp, không hòa hợp, đó là khổ. Cũng vậy, các trần bên ngoài với xúc, thọ, tưởng, tư và ái cũng lại như vậy. Này chư Hiền, chúng sanh thật có sáu giới là đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới đáng ưa thích, nhưng chúng phân tán chia lìa, không được tương ứng, xa cách không gặp, không gắn bó, không tập hợp, không hòa hợp, đó là khổ. Đó gọi là nỗi khổ của sự yêu thương nhau mà lại chia lìa.
Này chư Hiền, thương yêu mà chia lìa là khổ, nghĩa là khi chúng sanh xa cách nhau, thân nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện.
Thân tâm nhận chịu sự khổ, nhận chịu toàn diện; cảm thọ, cảm thọ toàn diện. Này chư Hiền, vì lẽ ấy nên nói thương yêu mà chia lìa là khổ.
[0468b04] Này chư Hiền, vì nguyên do gì mà nói mong cầu mà không được là khổ? Này chư Hiền, nghĩa là chúng sanh lệ thuộc vào sự sanh, không thể lìa xa sự sanh, nhưng lại ước muốn rằng “mong tôi không sanh ra”, điều này quả thật không thể muốn mà được. Với sự già, chết, ưu, sầu, buồn, lo mà ước muốn rằng “mong tôi không có già, chết,… buồn, lo”, điều này cũng không thể muốn mà được.
Này chư Hiền, chúng sanh nào chấp nhận sự sanh là khổ, không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ thế này: “Nếu sự sanh của ta là khổ, không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao chuyển đổi nó thành đáng yêu, đáng nghĩ nhớ.” Điều này cũng không thể muốn mà được.
Này chư Hiền, chúng sanh nào chấp nhận sự sanh là vui, đáng yêu thích, đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ như vầy: “Nếu sự sanh của ta là vui, đáng yêu thích, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó là pháp thường hằng, vĩnh cữu và không bị vô thường biến đổi.” Điều này cũng không thể muốn mà được.
Này chư Hiền, chúng sanh nào chấp nhận sự sanh là tư duy không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy sẽ tự nghĩ: “Nếu sự sanh của ta là tư duy không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, mong sao nó đổi thành đáng yêu thích, đáng nghĩ nhớ.” Điều này cũng không thể muốn mà được.
Này chư Hiền, chúng sanh nào chấp nhận sự sanh ra là tư duy đáng yêu thích, đáng nghĩ nhớ, người ấy liền khởi nghĩ: “Nếu sự sanh của ta là tư duy đáng yêu thích, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó là pháp thường hằng, vĩnh cửu và không bị vô thường biến đổi.” Điều này cũng không thể muốn mà được. Này chư Hiền, vì lẽ ấy nên nói mong cầu không được là khổ.
Này chư Hiền, nói khái lược năm thủ uẩn là khổ, vì nguyên do gì mà nói như vậy? Đó là, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn. Này chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói khái lược năm thủ uẩn là khổ.
Này chư Hiền, đời quá khứ là Thánh đế về khổ, đời vị lai và hiện tại cũng là Thánh đế về khổ. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát chắc thật. Toàn bộ chân lý chắc thật như vậy là điều mà bậc Thánh có được, được nhận thức bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh, được thấu suốt bởi bậc Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh, cho nên nói là Thánh đế về khổ.
Này chư Hiền! Tại sao sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ? Là bởi vì chúng sanh thật sự có tham ái đối với sáu căn bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn. Trong đó nếu có ái, có cáu bẩn, có nhiễm ô, có đắm trước thì đó gọi là tập. Này chư Hiền, vị Thánh đệ tử đa văn biết rằng: “Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó gọi là sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ.”
Biết như vậy là biết như thế nào? Nghĩa là biết rõ nếu có sự tham ái đối với vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng vườn, nhà cửa, quán xá, đổi chác kiếm lời, tạo dựng sự nghiệp, có ái, có cáu bẩn, có nhiễm ô, có đắm trước thì đó gọi là tập. Vị ấy biết sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ. Cũng vậy, với sáu trần bên ngoài với xúc, thọ, tưởng, tư và ái cũng lại như vậy.
Này chư Hiền, chúng sanh thật sự có tham ái đối với sáu giới, đó là đất, nước, gió, lửa, hư không và thức giới. Trong đó nếu có ái, có cáu bẩn, có nhiễm ô, có đắm trước thì đó gọi là tập. Này chư Hiền, vị Thánh đệ tử đa văn biết rằng: “Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và giác tri như vậy, đó là sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ.”
Biết như vậy là biết như thế nào? Nghĩa là biết rõ nếu có sự tham ái đối với vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng vườn, nhà cửa, quán xá, buôn bán đổi chác, tạo tác các nghiệp mà có tham ái, có cáu bẩn, có nhiễm ô, có đắm trước thì đó gọi là tập. Người kia biết rõ sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
Này chư Hiền, thời quá khứ sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ; thời vị lai và hiện tại sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát một cách chắc thật. Những gì khế hợp với sự chắc thật như vậy là điều mà bậc Thánh có được, được nhận thức bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh, được thấu suốt bởi bậc Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Vì vậy, nên nói đó là sự tập khởi của ái là Thánh đế về nguyên nhân của khổ.
[0468c19] Này chư Hiền, tại sao ái diệt là Thánh đế về khổ diệt? Nghĩa là chúng sanh thật sự có tham ái đối với sáu căn bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn. Chúng sanh ấy nếu khéo giải thoát, không nhiễm ô, không đắm trước, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đã trừ sạch, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ thì đó gọi là khổ diệt.
Này chư Hiền, vị Thánh đệ tử đa văn, biết rằng “Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó là ái diệt, là Thánh đế về khổ diệt.”
Biết như vậy là biết như thế nào? Nghĩa là biết rõ nếu không có sự tham ái đối với vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng vườn, nhà cửa, quán xá, buôn bán đổi chác, tạo tác các nghiệp, người ấy khéo giải thoát, không có nhiễm ô, không có đắm trước, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đã trừ sạch, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ thì đó gọi là khổ diệt. Vị ấy biết rõ ái diệt là Thánh đế về khổ diệt. Cũng vậy, các trần bên ngoài với xúc, thọ, tưởng, tư và ái cũng lại như vậy.
Này chư Hiền, chúng sanh sự thật có tham ái đối với sáu giới là đất, nước, lửa, gió, hư không và thức giới. Chúng sanh ấy nếu khéo giải thoát, không nhiễm ô, không đắm trước, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đã trừ sạch, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ thì đó gọi là khổ diệt. Này chư Hiền, vị Thánh đệ tử đa văn biết rằng: “Ta biết pháp như vậy, thấy như vậy, hiểu như vậy, nhận định như vậy và tri giác như vậy, đó gọi là ái diệt là Thánh đế về khổ diệt.”
Biết như vậy là biết như thế nào? Nghĩa là biết rõ nếu không tham ái đối với vợ con, nô tỳ, kẻ sai bảo, quyến thuộc, ruộng vườn, nhà cửa, quán xá, buôn bán đổi chác, không vì tạo tác các nghiệp, vị ấy khéo giải thoát, không nhiễm ô, không đắm trước, đã đoạn trừ hoàn toàn, đã xả ly, nhổ bỏ, đã trừ sạch, vô dục, tịch diệt, vắng lặng, ngưng nghỉ thì đó gọi là khổ diệt. Vị ấy biết rõ ái diệt là Thánh đế về khổ diệt.
Này chư Hiền! Thời quá khứ thì ái diệt là Thánh đế về khổ diệt; thời vị lai và hiện tại thì ái diệt là Thánh đế về khổ diệt. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát chắc thật. Những gì khế hợp với sự chắc thật như vậy là điều mà bậc Thánh có được, được nhận thức bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh, được thấu suốt bởi bậc Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Vì vậy nên nói đó là ái diệt là Thánh đế về khổ diệt.
[0469a13] Này chư Hiền, thế nào là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt? Đó là chánh kiến, chánh tư duy,11 chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,12 chánh niệm và chánh định.
Này chư Hiền, thế nào là chánh kiến? Đó là, khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt, hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc khi dùng tâm niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, có sự lựa chọn, lựa chọn toàn diện, lựa chọn quyết đoán, lựa chọn pháp, nhận định, nhận định khắp cả, quán sát thấu suốt rõ ràng. Đó gọi là chánh kiến.
Này chư Hiền, thế nào là chánh tư duy? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt, hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc khi dùng tâm niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, tâm có sự chuyên chú, chuyên chú toàn diện, chuyên chú tùy thuận, điều đáng nhớ nghĩ thì nhớ nghĩ, điều đáng mong đợi thì mong đợi. Đó gọi là chánh tư duy.
Này chư Hiền, thế nào là chánh ngữ? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc khi dùng tâm niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, ngoại trừ bốn diệu hạnh thuộc về miệng, còn các ác hạnh khác thuộc về miệng thì đều phải xa lìa và trừ diệt, không thực hành, không tạo tác, không gắn kết, không tiếp nối. Đó gọi là chánh ngữ.
[0469b01] Này chư Hiền, thế nào là chánh nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc trong lúc dùng niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, ngoài ba diệu hạnh của thân, còn các việc xấu ác khác nơi thân thì đều phải xa lìa và đoạn trừ, không thực hành, không tạo tác, không gắn kết, không tiếp nối. Đó gọi là chánh nghiệp.
Này chư Hiền, thế nào là chánh mạng? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc trong lúc dùng niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, không có sự mong cầu vô lý, không vì mong cầu nhiều mà không biết nhàm đủ. Không dùng các loại chú thuật, mưu sinh tà mạng mà chỉ tìm cầu y phục, thức ăn, giường chõng, v.v… theo đúng Chánh pháp chứ chẳng phải phi pháp. Đó gọi là chánh mạng.
Này chư Hiền, thế nào là chánh tinh tấn? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc trong lúc dùng niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, nếu có tinh tấn nỗ lực, một bề mong cầu tinh tấn thì nỗ lực hướng đến, chuyên giữ không buông, cũng không lui sụt, hàng phục tâm mình một cách chân chánh. Đó gọi là chánh tinh tấn.
Này chư Hiền, thế nào là chánh niệm? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc trong lúc dùng niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, hoặc niệm với tâm tùy thuận, hoặc niệm về sự giải thoát,13 hoặc suy niệm cùng khắp, niệm hồi ức, hồi tưởng lại, tâm luôn chuyên nhất, không có xao lãng. Đó gọi là chánh niệm.
Này chư Hiền, thế nào là chánh định? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về khổ đúng như khổ, suy niệm về nguyên nhân của khổ đúng như nguyên nhân của khổ, suy niệm về sự tịch diệt đúng như sự tịch diệt, suy niệm về con đường đưa đến sự tịch diệt đúng như con đường đưa đến sự tịch diệt; hoặc quán sát về những tạo tác trước đây, hoặc suy niệm về các hành, hoặc thấy rõ các hành là tai họa, hoặc thấy rõ Niết-bàn là tịch tĩnh, hoặc trong lúc dùng niệm không chấp trước để quán sát, tâm hoàn toàn giải thoát; trong đó, dù trụ ở tâm, trụ ở thiền, hay trụ cảnh thuận cũng đều không loạn động, không tán tâm, nhiếp trụ trong chánh định. Đó gọi là chánh định.
Này chư Hiền, đời quá khứ là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt, đời vị lai và hiện tại cũng là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt. Đó là điều chắc thật không hư dối, không xa rời sự thật, cũng chẳng phải điên đảo, được thẩm sát chắc thật. Những gì khế hợp với sự chắc thật như vậy là điều mà bậc Thánh có được, được nhận thức bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh, được thấu suốt bởi bậc Thánh, là sự giác ngộ tối thượng chân chánh của bậc Thánh. Vì vậy, nên nói đó là Thánh đế về con đường đưa đến khổ diệt.
[0469c04] Rồi Tôn giả nói kệ:

Phật thấu tỏ các pháp,
Thấy vô lượng đức lành,
Khổ, tập, diệt, đạo đế,
Khéo phân biệt hiển bày.

Tôn giả Xá-lợi-phất dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.14

Chú Thích
1 Nguyên tác: Phân biệt Thánh đế kinh 分別聖諦經 (T.01. 0026.31. 0467a28). Tham chiếu: Niệm xứ kinh 念處經 (T.01. 0026.98. 0582b07); Tứ đế kinh 四諦經 (T.02. 0032. 0814b08); Tăng. 增 (T.02. 0125.27.1. 0643a26); D. 22, Mahāsatipaṭṭhāna Sutta (Kinh đại niệm xứ); M. 10, Satipaṭṭhāna Sutta (Kinh niệm xứ); M. 141, Saccavibhaṅga Sutta (Kinh phân biệt sự thật).
2 Nguyên tác: Chánh hạnh thuyết pháp (正行說法). Tứ đế kinh 四諦經 (T.02. 0032. 0814b13) ghi là “chân chánh thuyết pháp” (真正法說).
3 Nguyên tác: Phân biệt, phát lộ, khai ngưỡng, thi thiết, hiển thị, thú hướng (分別,發露,開仰,施設,顯示,趣向). Tham chiếu: M. 141, Saccavibhaṅga Sutta (Kinh phân biệt sự thật): Ācikkhanā desanā paññāpanā paṭṭhapanā vivaraṇā vibhajanā uttānīkammaṃ (sự khai thị, tuyên thuyết, thi thiết, kiến lập, mở rộng, phân biệt, hiển lộ), HT. Thích Minh Châu dịch. Đây là một thể loại điệp ngữ, hàm nghĩa nhấn mạnh ở cổ văn.
4 Nguyên tác: Xá-lê tử (舍梨子).
5 Nguyên tác: Cứu cánh lậu tận (究竟漏盡): Sạch hết lậu hoặc, đạt được Niết-bàn rốt ráo.
6 Nguyên tác: Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
7 Nội lục xứ (內六處).
8 Ngoại xứ (外處), viết tắt của “ngoại lục xứ” (外六處), chỉ cho “lục trần” (六塵).
9 Nguyên tác: Cánh lạc, giác, tưởng, tư (更樂,覺,想,思). Đây là 4 “tâm sở biến hành” (心所遍行).
10 Ái (愛) ở đây chỉ cho “sáu ái thân” (六愛身, cha taṇhākāyā). Xem thêm Thuyết xứ kinh 說處經 (T.02. 0026.86. 0562c13); M. 148, Chachakkasutta (Kinh sáu sáu).
11 Chánh chí (正志) còn gọi là “chánh tư duy” (正思惟).
12 Chánh phương tiện (正方便) còn gọi là “chánh tinh tấn” (正精進).
13 Nguyên tác: Bối bất hướng niệm (背不向念), còn gọi “bối bất hướng” (背不向), “bối xả” (背捨) tức giải thoát, đồng nghĩa với “bối nhi bất hướng” (背而不向).
14 Bản Hán, hết quyển 7.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.