Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Nếu có vô lượng pháp lành thì tất cả những pháp ấy đều thâu nhiếp trong bốn Thánh đế, nằm trong bốn Thánh đế. Nghĩa là, trong tất cả các pháp thì bốn Thánh đế là tối thượng bậc nhất. Vì sao như vậy? Vì bốn Thánh đế thâu nhiếp tất cả các pháp lành. Này chư Hiền! Giống như trong những dấu chân của các loài vật thì dấu chân voi là bậc nhất. Vì sao như vậy? Vì dấu chân voi rất to lớn.
Như vậy, này chư Hiền! Nếu có vô lượng pháp lành thì tất cả pháp ấy đều thâu nhiếp trong bốn Thánh đế, nằm trong bốn Thánh đế. Nghĩa là, trong tất cả pháp, bốn Thánh đế là tối thượng bậc nhất. Bốn Thánh đế ấy là gì? Đó là khổ Thánh đế, khổ tập Thánh đế, khổ diệt Thánh đế và khổ diệt đạo Thánh đế.
Này chư Hiền! Thế nào là khổ Thánh đế? Đó là, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ, thương yêu mà chia lìa là khổ, cầu mong mà không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.
[0464c01] Này chư Hiền! Năm thủ uẩn là những gì? Đó là, sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn.
Này chư Hiền! Sắc thủ uẩn là gì? Là bốn đại và những gì được tạo thành từ bốn đại, đó gọi là sắc.
Này chư Hiền! Bốn đại là gì? Là địa giới, thủy giới, hỏa giới và phong giới.
Này chư Hiền! Thế nào là địa giới? Này chư Hiền, địa giới có hai loại, đó là nội địa giới và ngoại địa giới.
Này chư Hiền! Thế nào là nội địa giới?2 Đó là, những gì ở trong thân, được thân thâu nhiếp, có tính cứng chắc, bị chấp thủ,3 như: Tóc, lông, răng, móng, da thô hay mịn, da non, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, lá lách, ruột, bao tử, phẩn và những thứ khác tương tự như vậy ở trong thân, được thân thâu nhiếp, có tính cứng chắc, bị chấp thủ. Đó gọi là nội địa giới.
Này chư Hiền! Ngoại địa giới là những gì lớn lao, là thanh tịnh, là không đáng nhờm gớm. Này chư Hiền! Khi nạn nước dấ y lên thì lúc ấy ngoại địa giới bị hủy hoại sạch.
Này chư Hiền! Ngoại địa giới này rất lớn, rất thanh tịnh và rất không đáng nhờm gớm, song chúng đều là pháp vô thường, pháp diệt tận, pháp suy vong, pháp biến đổi, huống gì tấm thân tạm bợ do khát ái chấp thủ này? Chỉ có hạng phàm phu mê muội thiếu hiểu biết mới nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.”4 Vị Thánh đệ tử đa văn không nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vì sao vị ấy lại nghĩ như vậy? Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận dữ, quở trách thì vị ấy suy nghĩ: “Ta có nỗi khổ đau này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ không ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu ấy mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, có người đến nói những lời lẽ êm ái, vị ấy suy nghĩ: “Ta có niềm vui này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành, thức cũng đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu ấy mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, nếu có người tuổi thiếu niên, trung niên hay trưởng lão đến làm điều không vừa ý, hoặc dùng nắm đấm, hoặc ném đá, hoặc dùng gậy đánh, dao chém, vị ấy suy nghĩ như vầy: “Ta thọ thân này vốn là sắc pháp thô cứng thuộc bốn đại, từ cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng thức ăn, được che kín bởi y phục, được chăm sóc bồng ẵm vỗ về, thường được tắm rửa… thảy đều là pháp hư hoại, là pháp diệt tận, là pháp ly tán. Ta vì thân này đến nỗi bị nắm đấm, bị ném đá, hoặc bị gậy đánh, dao chém.” Từ ý niệm đó, vị ấy rất siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Vị ấy suy nghĩ: “Ta siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Ta thọ thân này đáng để cho nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém cũng không sao, chỉ cần siêng năng học tập giáo pháp của đức Thế Tôn.”
[0465a06] Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể các thầy, khi các thầy bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ra mà tâm các thầy bị dao động hoặc nói lời hung dữ, tức là các thầy đã bị suy thoái. Các thầy nên nghĩ như vầy: ‘Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ta ra thành từng mảnh thì mong sao tâm ta không bị dao động, không nói lời hung dữ mà còn khởi tâm thương xót đối với người đã đến cắt rời thân thể ta ra từng mảnh. Vì nhờ người đó mà tâm ta tương ưng với tâm từ, trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như thế, đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, trùm khắp tất cả, tâm vị ấy tương ưng với tâm từ, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên vô lượng, khéo léo tu tập, trùm khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú.’”
Này chư Hiền! Tỳ-kheo kia nếu nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện thì này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.”
Này chư Hiền! Ví như cô dâu mới rước về nhà chồng, gặp cha mẹ chồng, hoặc gặp chồng mình thì cảm thấy xấu hổ, thẹn thùng. Này chư Hiền! Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng như vậy, nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.” Do tự thẹn với mình, xấu hổ với người, vị ấy liền an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện. Đó là diệu, là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả ly tất cả hữu, lìa ái, vô dục, diệt sạch không còn lại gì. Này chư Hiền! Đó gọi là Tỳ-kheo học rộng về tất cả.
Này chư Hiền! Thế nào là thủy giới? Này chư Hiền! Thủy giới có hai loại, đó là nội thủy giới và ngoại thủy giới.
Này chư Hiền! Thế nào là nội thủy giới? Đó là những gì ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về nước, có tính thấm nhuần và bị chấp thủ. Trong đó gồm những gì? Gồm mỡ, óc, nước mắt, mồ hôi, nước mũi, nước bọt, mủ, máu, tủy, nước dãi, đàm, nước tiểu và những chất khác tương tự như vậy ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về nước, có tính thấm nhuần và bị chấp thủ. Này chư Hiền! Đó là nội thủy giới.
Này chư Hiền! Về ngoại thủy giới, đó là những gì lớn lao, là thanh tịnh, là không đáng nhờm gớm. Này chư Hiền! Khi nạn lửa dấ y lên, lúc ấy ngoại thủy giới thảy đều khô kiệt.
[0465b02] Này chư Hiền! Ngoại thủy giới này rất lớn, rất thanh tịnh và không đáng nhờm gớm, song chúng đều là pháp vô thường, pháp diệt tận, pháp suy vong, pháp biến đổi, huống gì tấm thân tạm bợ do khát ái chấp thủ này? Chỉ có hạng kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết mới nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia”; còn vị Thánh đệ tử đa văn không khởi nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vì sao vị ấy lại nghĩ như vậy? Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận dữ, quở trách thì vị ấy suy nghĩ: “Ta có nổi khổ đau này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ không ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, có người khác đến nói những lời lẽ êm ái, vị ấy suy nghĩ: “Ta có niềm vui này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Là từ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu ấy mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, nếu có người tuổi thiếu niên, trung niên hay trưởng lão đến làm điều không vừa ý, hoặc dùng nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém, vị ấy suy nghĩ như vầy: “Ta thọ thân này vốn là sắc pháp thô cứng thuộc bốn đại, từ cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng thức ăn, được che kín bởi y phục, được chăm sóc bồng ẵm vỗ về, thường được tắm rửa… chúng đều là pháp hư hoại, là pháp diệt tận, là pháp ly tán. Ta vì thân này đến nỗi bị nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém.” Từ ý niệm đó, vị ấy liền siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định Vị ấy nghĩ thế này: “Ta siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Ta thọ thân này đáng để cho nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém cũng không sao, chỉ cần ta siêng năng học giáo pháp của đức Thế Tôn.”
Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể các thầy, khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ra mà tâm các thầy bị dao động, hoặc nói lời hung dữ, tức là các thầy đã bị suy thoái. Các thầy nên nghĩ như vầy: ‘Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ta ra thành từng mảnh thì mong sao tâm ta không bị dao động, không nói lời hung dữ mà còn khởi tâm thương xót đối với người đã đến xẻ thân thể ta ra từng mảnh. Vì nhờ người đó mà tâm ta tương ưng với tâm từ, trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như thế, đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới trùm khắp tất cả, tâm vị ấy tương ưng với tâm từ, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên vô lượng, khéo léo tu tập, trùm khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú.’”
[0465c05] Này chư Hiền! Tỳ-kheo kia nếu nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện thì này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.”
Này chư Hiền! Ví như cô dâu mới rước về nhà chồng, gặp cha mẹ chồng, hoặc gặp chồng mình thì cảm thấy xấu hổ, thẹn thùng. Này chư Hiền! Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng như vậy, nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.” Do tự thẹn với mình, xấu hổ với người, vị ấy liền an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện. Đó là diệu, là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả ly tất cả hữu, lìa ái, vô dục, diệt sạch không còn lại gì. Này chư Hiền! Đó gọi là Tỳ-kheo học rộng về tất cả.
Này chư Hiền! Thế nào là hỏa giới? Này chư Hiền! Hỏa giới có hai loại, đó là nội hỏa giới và ngoại hỏa giới.
Này chư Hiền! Thế nào là nội hỏa giới? Đó là những gì ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về lửa, có tính nóng bức và bị chấp thủ. Trong đó gồm những gì? Gồm hơi ấm trong thân, những thứ khiến thân bức bối hoặc ôn hòa, làm cho thức ăn được tiêu hóa và những thứ khác tương tự như vậy ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về lửa, có tính nóng bức và bị chấp thủ. Này chư Hiền! Đó là nội hỏa giới.
Này chư Hiền! Về ngoại hỏa giới, đó là những gì lớn lao, là thanh tịnh, là không đáng nhờm gớm. Này chư Hiền! Khi nạn lửa bên ngoài phát khởi, lửa đốt cháy, thiêu rụi cả thôn ấp, thành quách, núi rừng, đồng ruộng. Thiêu rụi những nơi ấy rồi, lửa lan đến đường sá, đến sông nước, cho đến khi không còn gì để cháy thì lửa mới tắt.5 Này chư Hiền! Sau khi ngoại hỏa giới diệt, dân chúng muốn lấy lửa thì phải dùng gỗ hoặc tre cọ vào nhau, hoặc dùng đá lửa bằng châu ngọc.
Này chư Hiền! Ngoại hỏa giới này rất lớn, rất thanh tịnh và rất không đáng nhờm gớm, song chúng đều là pháp vô thường, pháp diệt tận, pháp suy vong, pháp biến đổi, huống gì tấm thân tạm bợ, do khát ái chấp thủ này? Chỉ có hạng kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết mới nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vị Thánh đệ tử đa văn thì không suy nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vì sao vị ấy lại nghĩ như vậy? Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận dữ, quở trách thì vị ấy suy nghĩ: “Ta có nỗi khổ đau này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ không ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, có người khác đến nói những lời lẽ êm ái, vị ấy suy nghĩ: “Ta có niềm vui này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu ấy mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, nếu có người tuổi thiếu niên, trung niên hay trưởng lão đến làm điều không vừa ý, hoặc dùng nắm đấm, hoặc ném đá, hoặc dùng gậy đánh, dao chém, vị ấy suy nghĩ như vầy: “Ta thọ thân này vốn là sắc pháp thô cứng thuộc bốn đại, từ cha mẹ sanh, được nuôi dưỡng bằng thức ăn, được che kín bởi y phục, được chăm sóc bồng ẵm vỗ về, thường được tắm rửa, chúng đều là pháp hư hoại, là pháp diệt tận, là pháp ly tán. Ta vì thân này đến nỗi bị nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém.” Từ ý niệm đó, vị ấy liền siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Vị ấy nghĩ thế này: “Ta siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Ta thọ thân này đáng để cho nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém cũng không sao, chỉ cần ta siêng năng học giáo pháp của đức Thế Tôn.”
[0466a17] Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, cắt rời thân thể các thầy. Khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ra mà tâm các thầy bị dao động hoặc nói lời hung dữ, tức là các thầy đã bị suy thoái. Các thầy nên nghĩ như vầy: ‘Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ta ra thành từng mảnh thì mong sao tâm ta không bị dao động, không nói lời hung dữ mà còn khởi tâm thương xót đối với người đã đến cắt rời thân thể ta ra từng mảnh; vì nhờ người đó mà tâm ta tương ưng với tâm từ, trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như thế đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, trùm khắp tất cả, tâm vị ấy tương ưng với tâm từ, không gây thù chuốc oán, không sân giận não hại, rộng lớn vô biên, vô lượng, khéo tu tập, trùm khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú.’”
Này chư Hiền! Tỳ-kheo kia nếu nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện thì này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.”
Này chư Hiền! Ví như cô dâu mới rước về nhà chồng, gặp cha mẹ chồng, hoặc gặp chồng mình thì cảm thấy xấu hổ, thẹn thùng. Này chư Hiền! Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng như vậy, nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.” Do tự thẹn với mình, xấu hổ với người, vị ấy liền an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện. Đó là diệu, là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả ly tất cả hữu, lìa ái, vô dục, diệt tận không sót. Này chư Hiền! Đó gọi là Tỳ-kheo học rộng về tất cả.
[0466b06] Này chư Hiền! Thế nào là phong giới? Này chư Hiền! Phong giới có hai loại, đó là nội phong giới và ngoại phong giới.
Này chư Hiền! Thế nào là nội phong giới? Đó là những gì ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về gió, có tính chuyển động và bị chấp thủ. Trong đó gồm những gì? Gồm gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió khi đi, gió co thắt lại, gió như dao cắt,6 gió giật lên, gió không một hướng, gió khi cử động tay chân, gió từ hơi thở ra, gió từ hơi thở vào và tất cả những thứ khác tương tự như vậy ở trong thân, được thân thâu nhiếp, thuộc về gió, có tính chuyển động và bị chấp thủ. Đó gọi là nội phong giới.
Này chư Hiền! Về ngoại phong giới, đó là những gì lớn lao, là thanh tịnh, là không đáng nhờm gớm. Này chư Hiền! Khi nạn gió từ bên ngoài thổi đến thì nhà sập, cây trốc, núi lở. Khi núi non đã lở, gió liền dừng lại, mảy lông cũng chẳng lay động. Này chư Hiền! Sau khi ngoại phong giới dừng lại, dân chúng muốn tìm kiếm gió thì phải dùng quạt, hoặc dùng lá phất, hoặc dùng áo phất để tìm gió.
Này chư Hiền! Ngoại phong giới này rất lớn lao, rất thanh tịnh, rất không đáng nhờm gớm, song chúng đều là pháp vô thường, pháp diệt tận, pháp suy vong, pháp biến đổi, huống gì tấm thân tạm bợ do khát ái chấp thủ này? Chỉ có hạng kẻ phàm phu mê muội thiếu hiểu biết mới nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vị Thánh đệ tử đa văn thì không suy nghĩ như vầy: “Đây là ta, đây là của ta, ta thuộc về cái kia.” Vì sao vị ấy lại nghĩ như vậy? Nếu có người khác mắng chửi, đánh đập, giận dữ, quở trách thì vị ấy suy nghĩ: “Ta có nổi khổ đau này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ không ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, có người khác đến nói những lời lẽ êm ái, vị ấy suy nghĩ: “Ta có niềm vui này là có nguyên do chứ không phải không có nguyên do. Nguyên do từ đâu? Đó là từ sự tiếp xúc với những thứ ưa thích.” Vị ấy quán sự xúc chạm này là vô thường, quán thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường. Tâm vị ấy an trú vào đối tượng quán chiếu ấy mà được tịnh chỉ, hợp nhất, định tĩnh, không lay động. Sau đó, nếu có người tuổi thiếu niên, trung niên hay trưởng lão đến làm điều không vừa ý, hoặc dùng nắm đấm, hoặc ném đá, hoặc dùng gậy đánh, dao chém, vị ấy suy nghĩ như vầy: “Ta thọ thân này vốn là sắc pháp thô cứng thuộc bốn đại, từ cha mẹ sanh, nuôi dưỡng bằng thức ăn, được che kín bởi y phục, chăm sóc bồng ẵm vỗ về, thường được tắm rửa, chúng đều là pháp hư hoại, là pháp diệt tận, là pháp ly tán. Ta vì thân này đến nỗi bị nắm đấm, ném đá, hoặc bị gậy đánh, dao chém.” Từ ý niệm đó, vị ấy liền siêng năng lên, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Vị ấy nghĩ thế này: “Ta siêng năng, không buông lung, chánh thân, chánh niệm, chuyên chú, không mê mờ, nhất tâm an định. Ta thọ thân này đáng để cho nắm đấm, đá ném, gậy đánh, dao chém cũng không sao, chỉ cần ta siêng năng học giáo pháp của đức Thế Tôn.”
[0466c10] Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén, cắt rời thân thể các thầy, khi bị giặc cướp cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ra mà tâm các thầy bị dao động hoặc nói lời hung dữ, tức là các thầy đã bị suy thoái. Các thầy nên nghĩ như vầy: ‘Giả sử có giặc cướp đến cầm cưa hay dao bén cắt rời thân thể ta ra thành từng mảnh thì mong sao tâm ta không bị dao động, không nói lời hung dữ mà còn khởi tâm thương xót đối với người đã đến cắt rời thân thể ta ra từng mảnh; vì nhờ người đó mà tâm ta tương ưng với từ, trùm khắp một phương, thành tựu và an trú. Cứ như thế, đối với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, trùm khắp tất cả, tâm vị ấy tương ưng với tâm từ, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên, vô lượng, khéo tu tập, trùm khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú.’”
Này chư Hiền! Tỳ-kheo kia nếu nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện thì này chư Hiền, Tỳ-kheo ấy nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.”
Này chư Hiền! Ví như cô dâu mới rước về nhà chồng, gặp cha mẹ chồng, hoặc gặp chồng mình thì cảm thấy xấu hổ, thẹn thùng. Này chư Hiền, nên biết, Tỳ-kheo kia cũng như vậy, nên tự thẹn với mình, xấu hổ với người: “Ta ở nơi lợi ích mà không được lợi ích, ở trong công đức lại không có công đức. Nghĩa là ta nương tựa Phật, nương tựa Pháp và nương tựa Đại chúng mà vẫn không an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện.” Do tự thẹn với mình, xấu hổ với người, vị ấy liền an trú nơi sự buông xả tương ưng với pháp thiện. Đó là diệu, là tịnh, là tịch diệt, nghĩa là xả ly tất cả hữu, lìa ái, vô dục, diệt sạch không còn lại gì. Này chư Hiền! Đó gọi là Tỳ-kheo học rộng về tất cả.
Này chư Hiền! Ví như nhờ cây gỗ, nhờ bùn đất, nhờ nước và rơm rạ che chắn phủ kín một khoảng không gian nên sanh ra vật thể gọi là “nhà.” Này chư Hiền, nên biết, thân này cũng giống như vậy, nhờ gân cốt, nhờ da dẻ, nhờ thịt máu vây bọc kín một khoảng không gian nên sanh ra vật thể gọi là “thân.”
Này chư Hiền! Nếu như nhãn căn7 bị hư hoại thì không thể tiếp nhận ánh sáng từ cảnh sắc bên ngoài chiếu đến và do đó sẽ không có tác ý8 nên nhãn thức không phát sanh. Này chư Hiền! Nếu như nhãn căn không bị hư hoại thì sẽ tiếp nhận ánh sáng từ cảnh sắc bên ngoài chiếu đến và do đó sẽ tác ý nên nhãn thức sẽ phát sanh.
Này chư Hiền! Nếu như cảnh sắc nằm trong tầm của nhãn căn9 thì nhãn thức sẽ nhận biết cảnh sắc bên ngoài, đó là thuộc về sắc uẩn, nếu đó là thọ thì thuộc về thọ uẩn, nếu đó là tưởng thì thuộc về tưởng uẩn, nếu đó là tư thì thuộc về tư uẩn, nếu đó là thức thì thuộc về thức uẩn. Hãy quán sát sự tập hợp của các uẩn như vậy!
[0467a09] Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Nếu thấy duyên khởi là thấy pháp, nếu thấy pháp là thấy duyên khởi.” Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Đức Thế Tôn dạy, năm thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh. Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn cũng như vậy.
Này chư Hiền! Nếu các căn như tai, mũi, lưỡi, thân và ý bị hư hoại thì không thể tiếp nhận ánh sáng từ các pháp bên ngoài chiếu đến và do đó sẽ không có tác ý nên ý thức không phát sanh. Này chư Hiền! Nếu ý căn không hư hoại thì sẽ tiếp nhận ánh sáng từ các pháp bên ngoài chiếu đến và do đó liền tác ý, nên ý thức phát sanh.
Này chư Hiền! Khi pháp trần nằm trong tầm của ý căn10 thì ý thức liền nhận biết sắc pháp bên ngoài thì đó thuộc về sắc uẩn, nếu đó là thọ thì thuộc về thọ uẩn, nếu đó là tưởng thì thuộc về tưởng uẩn, nếu đó là tư thì thuộc về tư uẩn, nếu đó là thức thì thuộc về thức uẩn. Hãy quán sát sự tập hợp của các uẩn như vậy.
Này chư Hiền! Đức Thế Tôn từng dạy như vầy: “Nếu thấy duyên khởi tức thấy pháp, nếu thấy pháp tức thấy duyên khởi.” Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Đức Thế Tôn dạy, năm thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh. Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn và thức thủ uẩn cũng như vậy. Vị ấy chán ghét năm thủ uẩn quá khứ, vị lai và hiện tại này. Do chán ghét nên không còn tham muốn, do hết tham muốn nên liền được giải thoát, giải thoát rồi liền biết giải thoát và vị ấy biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Này chư Hiền! Đó gọi là Tỳ-kheo học rộng về tất cả.
Tôn giả Xá-lợi-phất dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Tôn giả dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Tượng tích dụ kinh 象跡喻經 (T.01. 0026.30. 0464b17). Tham chiếu: Phân biệt lục giới kinh 分別六界經 (T.01. 0026.162. 0690a19); M. 28, Mahāhatthipadopama Sutta (Đại kinh dụ dấu chân voi).
2 Nội địa giới (內地界, ajjhattikā paṭhavīdhātu).
3 Nội thân trung, tại nội sở nhiếp kiên, kiên tánh trụ, nội chi sở thọ (內身中,在內所攝堅,堅性住,內之所受). Tham chiếu: MĀ. 162: Trong thân này còn có những thứ khác nữa, là những thứ mà bên trong thuộc về chất cứng, có tánh cứng chắc bên trong, bị chúng sanh chấp thủ (此身中餘在內,內所攝堅,堅性住內,於生所受). Xem thêm M. 28: Yaṃ ajjhattaṃ paccattaṃ kakkhaḷaṃ kharigataṃ upādiṇṇaṃ (cái gì thuộc nội thân, cá biệt, thô cứng, thuộc thể rắn, bị chấp thủ).|
4 Nguyên tác: Ngã thị bỉ sở (我是彼所). Trong cấu trúc này, tiên sinh Trang Xuân Giang cho rằng giống như cấu trúc “ngã thuộc ư bỉ” (我屬於彼). Bỉ (彼) ở đây chỉ cho Đại Phạm (大梵) hoặc Chân ngã (真我).
5 Vô thọ nhi diệt (無受而滅): Không còn gì chấp thủ thì mới diệt. M. 28: Anāhārā nibbāyati (lửa bị tắt vì không nhiên liệu), HT. Thích Minh Châu dịch.
6 Đao phong (刀風): Gió rát như dao cắt.
7 Nội nhãn xứ (內眼處). Nội (內) ở đây chỉ cho các cơ quan nội tạng trong cơ thể người (指內臟) nên không cần dịch là “bên trong.”
8 Hữu niệm (有念, samannāhāra): Sự chú ý. MA. 28 gọi “hữu niệm” là sanh khởi tác ý (uppajjanamanasikāra).
9 Nội nhãn xứ cập sắc (內眼處及色): Sắc ở trong tầm của nhãn căn (眼根). Cập (及): Với tới, đạt đến. M. 28: Āpātha, trong cảnh giới của thức, thức vực (識域).
10 Ý xứ (意處) chỉ cho ý căn (意根).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.