Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

29. KINH ĐẠI CÂU-HY-LA1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, vào lúc xế chiều, Tôn giả Xá-lợi-phất rời nơi tĩnh tọa, đi đến chỗ Tôn giả Đại Câu-hy-la.2 Cùng chào hỏi nhau xong, Tôn giả Xá-lợi-phất ngồi xuống một bên rồi hỏi Tôn giả Đại Câu-hy-la:
– Tôi có điều muốn hỏi, Hiền giả cho phép tôi hỏi chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la trả lời:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Ngài muốn hỏi điều gì xin cứ hỏi, nghe xong tôi sẽ suy nghĩ.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển3 và thể nhập Chánh pháp chăng?
[0461c03] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là trường hợp Tỳ-kheo biết bất thiện và cũng biết gốc rễ của bất thiện. Thế nào là biết bất thiện? Nghĩa là biết thân làm việc ác là bất thiện, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác là bất thiện, đó gọi là biết bất thiện. Thế nào là biết nguồn gốc của bất thiện? Nghĩa là biết tham là gốc rễ của bất thiện, sân và si là gốc rễ của bất thiện, đó gọi là biết gốc rễ của bất thiện. Thưa Tôn giả! Nếu Tỳ-kheo nào biết bất thiện và biết gốc rễ của bất thiện như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Lại có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là trường hợp vị Tỳ-kheo biết thiện và biết gốc rễ của thiện. Thế nào là biết thiện? Nghĩa là biết thân làm việc lành là thiện, miệng nói điều lành là thiện, ý nghĩ điều lành là thiện, đó là biết thiện. Thế nào là biết gốc rễ của thiện? Nghĩa là biết không tham là gốc rễ của thiện, không sân và không si là gốc rễ của thiện, đó gọi là biết gốc rễ của thiện. Thưa Tôn giả! Nếu có Tỳ-kheo nào biết thiện và biết về gốc rễ của thiện như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la trả lời:
– Thưa có, Tôn giả! Đó là khi Tỳ-kheo biết như thật về thức ăn, biết như thật về sự tập khởi của thức ăn, biết như thật về sự đoạn diệt của thức ăn và biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt thức ăn.
Thế nào là biết như thật về thức ăn? Nghĩa là biết có bốn loại thức ăn: Một là đoàn thực có thô và tế.4 Hai là xúc thực.5 Ba là tư niệm thực.6 Bốn là thức thực.7 Đó là biết như thật về thức ăn.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thức ăn? Nghĩa là biết do tham ái tập khởi nên mới có thức ăn. Đó là biết như thật về sự tập khởi của thức ăn.
Thế nào biết như thật về sự đoạn diệt của thức ăn? Nghĩa là biết do tham ái diệt nên thức ăn liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt của thức ăn.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt thức ăn? Đó là biết về Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định là tám. Đó là biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt thức ăn.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu có Tỳ-kheo nào biết như thật về thức ăn, biết như thật về sự tập khởi của thức ăn, về sự đoạn diệt của thức và con đường đưa đến đoạn diệt thức ăn như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0462a06] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Có vậy. Đó là khi Tỳ-kheo biết như thật về phiền não, biết như thật về sự tập khởi của phiền não, về sự diệt tận phiền não và về con đường đưa đến sự diệt tận phiền não.
Thế nào là biết như thật về phiền não? Nghĩa là biết có ba thứ phiền não: Phiền não trói buộc chúng sanh ở cõi Dục, phiền não trói buộc chúng sanh ở cõi Sắc, cõi Vô sắc và phiền não vô minh trói buộc chúng sanh trong ba cõi. Đó là biết như thật về phiền não.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của phiền não? Nghĩa là biết vô minh chính là sự tập khởi của mọi thứ phiền não. Đó là biết như thật về sự tập khởi của phiền não.
Thế nào là biết như thật về sự diệt tận phiền não? Nghĩa là biết vô minh diệt tận thì mọi phiền não liền diệt tận. Đó là biết như thật về sự diệt tận phiền não.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt tận phiền não? Nghĩa là biết tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đưa đến sự diệt tận phiền não.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về phiền não, biết như thật về sự tập khởi của phiền não, về sự diệt tận phiền não và về con đường đưa đến sự diệt tận phiền não như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là trường hợp Tỳ-kheo biết như thật về khổ, biết như thật về nguyên nhân của khổ, biết như thật về khổ diệt và biết như thật về con đường đưa đến khổ diệt.8
Thế nào là biết như thật về khổ? Nghĩa là biết sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét mà gặp nhau là khổ, yêu thương mà xa lìa là khổ, sự mong cầu mà không được toại ý là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ. Đó là biết như thật về khổ.
Thế nào là biết như thật về nguyên nhân của khổ? Nghĩa là biết do già chết nên có khổ. Đó là biết như thật về nguyên nhân của khổ.
Thế nào là biết như thật về khổ diệt? Nghĩa là biết do già chết không còn nên khổ cũng hết. Đó là biết như thật về khổ diệt.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến khổ diệt? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật con đường đưa đến khổ diệt.
Thưa Tôn giả! Tỳ-kheo nào biết như thật về khổ, biết như thật về nguyên nhân của khổ, biết như thật về khổ diệt và biết như thật về con đường đưa đến khổ diệt thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0462b08] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về già chết, biết như thật về nguyên nhân của già chết, biết như thật về sự đoạn diệt của già chết và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt già chết.
Thế nào là biết như thật về già? Nghĩa là người già yếu, tóc bạc, răng rụng, lưng còng, gối rủ, đi phải chống gậy, tuổi trẻ suy tàn, mạng sống sắp hết, thân thể run rẩy, các căn hư mòn, nhan sắc xấu xí, đó gọi là già.
Thế nào là biết như thật về chết? Nghĩa là biết chúng sanh kia và mỗi mỗi chủng loại chúng sanh khác đều chịu sự vô thường nên phải qua đời, tử vong tan hoại, tuổi thọ đã hết, mạng căn chấm dứt, đó gọi là chết. Đây nói về chết, ở trên nói về già, đó gọi là già chết. Như vậy là biết như thật về già chết.
Thế nào là biết như thật về nguyên nhân của già chết? Nghĩa là biết do sanh nên có già chết. Đó là biết như thật về nguyên nhân của già chết.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của già chết? Nghĩa là biết sự sanh không còn thì già chết cũng hết. Đó gọi là biết như thật về sự đoạn diệt của già chết.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt già chết? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt già chết.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Tỳ-kheo nào biết như thật về già chết, biết như thật về nguyên nhân già chết, biết như thật về sự đoạn diệt của già chết và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt già chết như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
[0462c03] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về sanh, biết như thật về sự tập khởi của sanh, biết như thật về sự đoạn diệt của sanh và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh.
Thế nào là biết như thật về sanh? Nghĩa là biết chúng sanh kia và tất cả giống loài chúng sanh khác, đến lúc sanh thì sanh, xuất hiện thì xuất hiện, hình thành thì hình thành, tạo thành năm uẩn, từ đó có mạng căn. Đó là biết như thật về sanh.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của sanh? Nghĩa là biết do hữu mà có sanh. Đó là biết như thật về sự tập khởi của sanh. Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của sanh? Nghĩa là biết khi hữu diệt thì sanh liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt của sanh. Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về sanh, biết như thật về sự tập khởi của sanh, biết như thật về sự đoạn diệt của sanh và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của sanh như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về hữu, biết như thật về sự tập khởi của hữu, biết như thật về sự đoạn diệt hữu và biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt hữu.
Thế nào là biết như thật về hữu? Nghĩa là biết có ba hữu: Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu. Đó là biết như thật về hữu.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của hữu? Nghĩa là biết do thủ9 mà có hữu. Đó là biết như thật về về sự tập khởi của hữu.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt hữu? Nghĩa là biết do thủ diệt nên hữu liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt hữu.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt hữu? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt hữu.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về hữu, biết như thật về sự tập khởi của hữu, biết như thật về sự đoạn diệt hữu và biết như thật về con đường đưa đến đoạn diệt hữu như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
[0463a04] Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là khi Tỳ-kheo biết như thật về thủ, biết như thật về sự tập khởi của thủ, biết như thật về sự đoạn diệt thủ và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt thủ.
Thế nào là biết như thật về thủ? Nghĩa là biết có bốn thủ: Dục thủ, giới thủ, kiến thủ và ngã thủ. Đó gọi là biết như thật về thủ.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thủ? Nghĩa là biết do ái tập khởi nên thủ tập khởi. Đó gọi là biết như thật về sự tập khởi của thủ.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt thủ? Nghĩa là biết ái diệt thì thủ liền diệt. Đó gọi là biết như thật về sự đoạn diệt thủ.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt thủ? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó gọi là biết như thật về con đường dẫn đến đoạn diệt thủ.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về thủ, biết như thật về sự tập khởi của thủ, biết như thật về sự đoạn diệt thủ và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt thủ như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về ái, biết như thật về sự tập khởi của ái, biết như thật về sự đoạn diệt ái và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt ái.
Thế nào là biết như thật về ái? Nghĩa là biết có ba ái: Dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Đó gọi là biết như thật về ái.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của ái? Nghĩa là biết do thọ10 mà có ái. Đó gọi là biết như thật về sự tập khởi của ái.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt ái? Nghĩa là biết khi thọ diệt thì ái liền diệt. Đó gọi là biết như thật về sự đoạn diệt ái.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt ái? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt ái.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về ái, biết như thật về sự tập khởi của ái, biết như thật về sự đoạn diệt ái và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt ái như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0463b01] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là nếu Tỳ-kheo biết như thật về thọ, biết như thật về sự tập khởi của thọ, biết như thật về sự đoạn diệt của thọ và biết như thật về con đường đẫn đến sự đoạn diệt thọ.
Thế nào là biết như thật về thọ? Nghĩa là biết có ba thọ: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không lạc không khổ. Đó gọi là biết như thật về thọ.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thọ? Nghĩa là biết do có xúc11 nên có thọ. Đó gọi là biết như thật sự tập khởi của thọ.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của thọ? Nghĩa là biết do xúc diệt nên thọ liền diệt. Đó gọi là biết như thật sự đoạn diệt của thọ.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của thọ? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đẫn đến sự đoạn diệt thọ.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về thọ, biết như thật về sự tập khởi của thọ, biết như thật về sự đoạn diệt của thọ và biết như thật về con đường đẫn đến sự đoạn diệt thọ như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là nếu Tỳ-kheo biết như thật về xúc, biết như thật về sự tập khởi của xúc, biết như thật về sự đoạn diệt của xúc và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của xúc.
Thế nào là biết như thật về xúc? Nghĩa là biết có ba xúc:12 Sự tiếp xúc đưa đến lạc, sự tiếp xúc đưa đến khổ, sự tiếp xúc đưa đến không lạc không khổ. Đó gọi là biết như thật về xúc.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của xúc? Nghĩa là biết do có sáu xứ13 mà có xúc. Đó là biết như thật về sự tập khởi của xúc.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của xúc? Nghĩa là biết do sáu xứ diệt nên xúc liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt của xúc.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt xúc? Nghĩa là biết Tám chi thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt xúc.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về xúc, biết như thật về sự tập khởi của xúc, biết như thật về sự đoạn diệt của xúc và biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt của xúc như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0463c03] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là nếu Tỳ-kheo biết như thật về sáu xứ, biết như thật về sự tập khởi của sáu xứ, biết như thật về sự đoạn diệt của sáu xứ và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt sáu xứ.
Thế nào là biết như thật về sáu xứ? Nghĩa là biết nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ và ý xứ. Đó là biết như thật về sáu xứ.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của sáu xứ? Nghĩa là biết do danh sắc mà có sáu xứ. Đó là biết như thật về sự tập khởi của sáu xứ.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của sáu xứ? Nghĩa là biết do danh sắc diệt nên sáu xứ liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt của sáu xứ.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt sáu xứ? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt sáu xứ.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về sáu xứ, biết như thật về sự tập khởi của sáu xứ, biết như thật về sự đoạn diệt của sáu xứ và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt sáu xứ như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về danh sắc, biết như thật về sự tập khởi của danh sắc, biết như thật về sự đoạn diệt của danh sắc và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt danh sắc.
Thế nào là biết như thật về danh? Nghĩa là biết bốn pháp không thuộc về sắc uẩn14 thì gọi là danh. Thế nào là biết như thật về sắc? Nghĩa là biết bốn đại và những gì được tạo thành từ bốn đại, đó là sắc. Đây là nói về sắc, trước là nói về danh, như vậy gọi là danh sắc. Đó là biết như thật về danh sắc.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của danh sắc? Nghĩa là biết do có thức nên có danh sắc. Đó gọi là biết như thật về sự tập khởi của danh sắc.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của danh sắc? Nghĩa là biết do thức diệt nên danh sắc diệt. Đó gọi là biết như thật về sự đoạn diệt của danh sắc.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt danh sắc? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt danh sắc.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về danh sắc, biết như thật về sự tập khởi của danh sắc, biết như thật về sự đoạn diệt của danh sắc và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt danh sắc như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0464a07] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về thức, biết như thật về sự tập khởi của thức, biết như thật về sự đoạn diệt của thức và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt thức.
Thế nào là biết như thật về thức? Nghĩa là biết có sáu thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đó là biết như thật về thức.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của thức? Nghĩa là biết do hành mà có thức. Đó là biết như thật về sự tập khởi của thức.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của thức? Nghĩa là biết hành diệt thì thức liền diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt thức.
Thế nào là biết như thật về con đường đưa đến sự đoạn diệt thức? Nghĩa là biết Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt thức.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về thức, biết như thật về sự tập khởi của thức, biết như thật về sự đoạn diệt của thức và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt thức như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Còn có trường hợp nào mà nhân trường hợp đó, vị Tỳ-kheo thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp chăng?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa có, Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó là Tỳ-kheo biết như thật về hành, biết như thật về sự tập khởi của hành, biết như thật về sự đoạn diệt của hành và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt hành.
Thế nào là biết như thật về hành? Nghĩa là biết có ba hành: Thân hành, khẩu hành và ý hành. Đó là biết như thật về hành.
Thế nào là biết như thật về sự tập khởi của hành? Nghĩa là biết do vô minh nên có hành. Đó là biết như thật về sự tập khởi của hành.
Thế nào là biết như thật về sự đoạn diệt của hành? Nghĩa là biết do vô minh diệt nên hành diệt. Đó là biết như thật về sự đoạn diệt của hành.
Thế nào là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt hành? Nghĩa là biết tám chi Thánh đạo, từ chánh kiến cho đến chánh định. Đó là biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt hành.
Thưa Tôn giả! Nếu Tỳ-kheo nào biết như thật về hành, biết như thật về sự tập khởi của hành, biết như thật về sự đoạn diệt của hành và biết như thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt của hành như vậy thì Tỳ-kheo đó đã thành tựu hiểu biết, được hiểu biết chân chánh, đối với Pháp được niềm tin không lay chuyển và thể nhập Chánh pháp.
[0464b08] Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Khen ngợi xong, Tôn giả Xá-lợi-phất hoan hỷ phụng hành, rồi lại hỏi:
– Hiền giả Đại Câu-hy-la! Nếu Tỳ-kheo nào mà vô minh đã diệt, minh đã sanh thì vị ấy còn tu tập thêm những gì?
Tôn giả Đại Câu-hy-la đáp:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nếu Tỳ-kheo nào mà vô minh đã diệt, minh đã sanh thì vị ấy không còn tu tập gì nữa.
Nghe xong, Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi:
– Hay thay, hay thay, Hiền giả Đại Câu-hy-la!
Cứ như vậy, hai vị Tôn giả ấy cùng nhau đàm đạo về nghĩa và cùng hoan hỷ phụng hành rồi từ chỗ ngồi đứng dậy mà đi.

Chú Thích:
1 Quyển 7. Nguyên tác: Đại Câu-hy-la kinh 大拘絺羅經 (T.01. 0026.29. 0461b22). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.344. 094b02); M. 9, Sammādiṭṭhi Sutta (Kinh chánh tri kiến); A. 9.13 - IV. 382.
2 Đại Câu-hy-la (大拘絺羅, Mahākoṭṭhita).
3 Bất hoại tịnh (不壤淨, avecca pasāda): Tín tâm không bị lay chuyển; cũng gọi là “bất động tín” (不動信), “bất hoại tín” (不壞信) hay “chứng tịnh” (證淨). Có 4 niềm tin không lay chuyển, gồm: tin Phật, tin Pháp, tin Tăng và tin Thánh giới.
4 Đoàn thực thô tế (摶食粗細, kabaliṅkāro āhāro oḷāriko vā sukkhumo), gồm các loại thức ăn cứng và mềm, phân nhỏ thành từng miếng để ăn, nên gọi là đoàn thực hay đoạn thực.
5 Nguyên tác: Canh lạc thực (更樂食, phasso āhāra), hay còn gọi “xúc thực” (觸食): Thức ăn là xúc.
6 Ý tư thực (意思食, manosañcetanā āhāra), hay còn gọi “tư niệm thực” (思念食): Thức ăn là ý chí, mong cầu, hy vọng.
7 Thức thực (識食, viññāṇaṃ āhāra): Thức ăn là thức.
8 Những định nghĩa về khổ tập và khổ diệt không đồng nhất giữa những bản kinh Pāli và A-hàm tương đương.
9 Nguyên tác: Thọ (受), P. Upādāna: Sự chấp thủ.
10 Nguyên tác: Giác (覺), tân dịch là “thọ” (受). Tiếng Pāli tương đương là vedāna.
11 Nguyên tác: Canh lạc (更樂), cách dịch khác của “xúc” (觸, phassa).
12 Tam canh lạc (三更樂) bao gồm: “lạc canh lạc” (樂更樂), “khổ canh lạc” (苦更樂), “bất lạc bất khổ canh lạc” (不樂不苦更樂).
13 Lục xứ (六處) còn gọi “lục nhập” (六入).
14 Tứ phi sắc ấm (四非色陰, cattāro arūpakkhandhā) bao gồm: thọ (受), tưởng (想), hành (行) và thức (識).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.