Viện Nghiên Cứu Phật Học

28. KINH GIÁO HÓA NGƯỜI BỆNH1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, trưởng giả Cấp Cô Độc đang lâm bệnh nặng nên bảo người giúp việc:
– Ông hãy đi đến chỗ Thế Tôn, thay ta cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài, sau đó kính thăm hỏi sức khỏe, xem Thánh thể có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Ông hãy thưa như vầy: “Trưởng giả Cấp Cô Độc kính đảnh lễ sát chân đức Thế Tôn, kính thăm hỏi Thế Tôn Thánh thể có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng.” Sau khi thay ta thăm hỏi Phật xong, ông hãy đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, thay ta cúi đầu đảnh lễ sát chân Tôn giả rồi hỏi thăm Tôn giả có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Ông hãy thưa như vầy: “Trưởng giả Cấp Cô Độc kính đảnh lễ sát chân Tôn giả, kính thăm hỏi Ngài có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng? Thưa Tôn giả! Trưởng giả Cấp Cô Độc lâm bệnh rất nặng, rất đau đớn, nay đã đến giai đoạn nguy kịch. Trưởng giả rất chí thành tha thiết mong được gặp Ngài nhưng thân thể quá yếu, không còn khí lực để có thể đi đến chỗ Ngài được. Lành thay, thưa Tôn giả! Xin Ngài hãy vì lòng thương xót mà đến nhà thăm ông ấy.”
Vâng lời trưởng giả Cấp Cô Độc, người giúp việc liền đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài rồi đứng sang một bên và thưa:
– Bạch Thế Tôn! Trưởng giả Cấp Cô Độc xin đảnh lễ sát chân Thế Tôn, kính thăm hỏi đức Thế Tôn Thánh thể có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường chăng?
Đức Phật bảo người giúp việc:
– Ta mong cho trưởng giả Cấp Cô Độc được an ổn, hân hoan, cũng mong cho trời, người, a-tu-la, càn-thát-bà, la-sát và tất cả các chúng sanh khác, thân thể đều được an ổn, hân hoan.
Nghe Phật dạy như thế, người giúp việc liền khéo léo thọ trì, cúi đầu lạy sát chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cúi đầu lạy sát chân Tôn giả rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Trưởng giả Cấp Cô Độc kính cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài, hỏi thăm Tôn giả Thánh thể có được khỏe mạnh, an vui không bệnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực bình thường không? Kính thưa Tôn giả! Trưởng giả Cấp Cô Độc lâm bệnh rất nặng, rất đau đớn, nay đã đến hồi nguy kịch. Trưởng giả rất tha thiết mong được gặp Ngài, nhưng cơ thể rất yếu, không còn khí lực để có thể đi đến chỗ Ngài được. Lành thay, thưa Tôn giả! Xin Ngài hãy vì lòng thương xót mà đến nhà thăm trưởng giả.
[0459a01] Tôn giả Xá-lợi-phất liền im lặng nhận lời. Biết Tôn giả Xá-lợi-phất đã im lặng nhận lời, người giúp việc liền đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ, nhiễu quanh Tôn giả ba vòng rồi ra về.
Khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất đắp y, ôm bát đi đến nhà trưởng giả Cấp Cô Độc. Từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đến, trưởng giả liền muốn ngồi dậy. Thấy thế, Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngăn lại:
– Trưởng giả đừng ngồi dậy! Trưởng giả đừng ngồi dậy! Còn có chỗ ngồi khác, tôi sẽ tự ngồi.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền ngồi xuống chỗ ấy. Khi đã ngồi yên, Tôn giả liền hỏi:
– Bệnh tình của trưởng giả hôm nay thế nào rồi? Ăn uống được nhiều ít? Cơn đau có thuyên giảm, không đến nỗi tăng thêm chứ?
Trưởng giả thưa:
– Bệnh tình của con rất nguy kịch, ăn uống không được, cơn đau chỉ tăng thêm chứ không thấy thuyên giảm.
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo:
– Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội thực hành bất tín thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn hiện tại, trưởng giả không hề có sự bất tín mà chỉ có một lòng kính tin cao thượng. Nhờ lòng kính tin cao thượng này mà trưởng giả sẽ diệt trừ được khổ đau, sanh ra niềm an vui vô cùng. Hoặc nhờ lòng kính tin cao thượng ấy mà trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do chấp giữ những giới điều tà vạy2 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không hề chấp giữ những giới điều tà vạy mà chỉ có giữ những giới thiện lành. Do có giới thiện lành nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm an vui vô cùng. Hoặc nhờ giới thiện lành ấy, trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do không học rộng nghe nhiều thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không thuộc hàng không chịu nghe nhiều mà chỉ có sự nghe nhiều. Do có sự nghe nhiều nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm an vui vô cùng. Hoặc nhờ sự nghe nhiều ấy nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do tham lam keo kiệt thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không hề có tham lam keo kiệt mà chỉ có sự bố thí. Do có sự bố thí nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm an vui vô cùng. Hoặc nhờ sự bố thí ấy nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng Tu-đà-hoàn.
[0459b03] Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do tuệ xấu xa3 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có tuệ xấu xa mà chỉ có tuệ thiện lành. Do có tuệ thiện lành nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có tuệ thiện lành ấy nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do nhận thức sai lầm4 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có nhận thức sai lầm mà chỉ có nhận thức đúng đắn. Do có nhận thức đúng đắn nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có nhận thức đúng đắn nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do tư duy tà vạy5 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có tư duy tà vạy mà chỉ có tư duy chân chánh. Do có tư duy chân chánh nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có tư duy chân chánh nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hoặc quả A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng quả Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do có hiểu biết lệch lạc6 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có hiểu biết lệch lạc mà chỉ có hiểu biết đúng đắn. Do có hiểu biết đúng đắn nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có hiểu biết đúng đắn nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì nếu là kẻ phàm phu mê muội do có niệm giải thoát sai lầm7 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có niệm giải thoát sai lầm mà chỉ có niệm giải thoát đúng đắn. Do có niệm giải thoát đúng đắn nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có sự khai mở đúng đắn nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng Tu-đà-hoàn.
Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao thế? Vì nếu kẻ phàm phu mê muội do trí sai lệch8 thì sau khi qua đời, sẽ đi thẳng đến cõi ác, đọa vào địa ngục. Còn trưởng giả không có trí sai lệch mà chỉ có trí chân chánh. Do có trí chân chánh nên trưởng giả sẽ diệt trừ sự khổ đau, sanh ra niềm vui vô cùng. Hoặc nhờ có trí chân chánh nên trưởng giả sẽ chứng quả Tư-đà-hàm hay A-na-hàm, vì trưởng giả vốn đã chứng Tu-đà-hoàn.
[0459c05] Bấy giờ, trưởng giả liền hết bệnh, sức khỏe bình phục như cũ, ông liền ngồi dậy và ca ngợi Tôn giả Xá-lợi-phất:
– Thật quý hóa thay! Thật quý hóa thay! Tôn giả đã vì người bệnh mà thuyết pháp. Thật là kỳ diệu! Thật là hiếm có! Thưa Tôn giả! Con vừa nghe xong bài pháp giáo hóa người bệnh thì mọi đau đớn khổ sở liền biến mất và phát sanh niềm an vui vô cùng. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Hiện tại con đã khỏi bệnh và sức khỏe bình phục như cũ.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Trước kia nhân vì có chút việc cần làm nên con đã đến thành Vương Xá và nghỉ tạm trong nhà của một trưởng giả nọ. Lúc đó, nhà vị trưởng giả ấy đang sửa soạn thiết trai cúng dường Phật và đại chúng Tỳ-kheo vào sáng hôm sau.
Bấy giờ, khi đêm đã qua, trời gần về sáng, vị trưởng giả kia thúc giục con cháu, người giúp việc cùng quyến thuộc: “Các người mau dậy sớm để bày biện, chuẩn bị mọi thứ cho trang nghiêm.” Mọi người đều vâng lời, cùng nhau sắp xếp việc bếp núc, bày biện đầy đủ các món ăn ngon, còn trưởng giả thì đích thân sắp đặt và trang trí một tòa ngồi cao thật trang nghiêm.
Thưa Tôn giả! Con thấy vậy rồi liền suy nghĩ: “Hôm nay, nhà trưởng giả này có phải vì việc hôn nhân, việc rước dâu, việc thỉnh quốc vương, tiệc mời đại thần hay là thiết lập trai hội đại thí chăng?”
Thưa Tôn giả! Suy nghĩ như vậy rồi, con liền hỏi vị trưởng giả:
“Hôm nay, nhà trưởng giả có phải vì việc hôn nhân, việc rước dâu, việc thỉnh quốc vương, tiệc mời đại thần hay là thiết lập trai hội đại thí chăng?”
Lúc ấy, vị trưởng giả kia trả lời con rằng:
“Tôi không phải vì việc hôn nhân, cũng không phải rước dâu, không phải lễ hội, không phải thỉnh quốc vương cho đến không phải mời đại thần mà chỉ vì thiết lập trai hội đại thí cúng dường Phật và đại chúng Tỳ-kheo vào sáng mai.”
Thưa Tôn giả! Con chưa từng được nghe đến danh hiệu Phật nên khi vừa được nghe qua thì toàn thân rúng động, liền hỏi:
“Trưởng giả nói về Phật, vậy thế nào gọi là Phật?”
Lúc đó, vị trưởng giả kia liền trả lời con rằng:
“Ông chưa được nghe sao? Có một vị dòng họ Thích, từ giã người thân họ hàng, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo, rồi chứng quả vị Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vị ấy gọi là Phật.”
Con lại hỏi tiếp:
“Trưởng giả vừa nói về chúng, vậy thế nào gọi là chúng?”
Bấy giờ, trưởng giả kia lại trả lời con rằng:
“Có rất nhiều vị với dòng họ và gia tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình để theo Phật học đạo, những vị ấy gọi là chúng. Đức Phật và đại chúng ấy, tôi sắp thỉnh đến.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con lại hỏi tiếp trưởng giả kia rằng:
“Đức Thế Tôn hiện đang ở đâu? Tôi muốn đến viếng thăm.”
Bấy giờ, vị trưởng giả kia trả lời con rằng:
“Đức Thế Tôn hiện đang ở thành Vương Xá này, ngụ trong Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. Ông muốn đến thì cứ tùy ý.”
[0460a04] Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con nghĩ như vầy: “Mong trời mau sáng, để con sớm đến viếng thăm đức Phật.” Thưa Tôn giả! Lúc đó, với lòng chí thành muốn đến viếng thăm đức Phật nên lúc trời còn mờ tối mà con tưởng trời đã sáng rồi, liền từ nhà trưởng giả ấy ra đi, đến trạm dừng nơi cổng thành. Bấy giờ, trong trạm dừng nơi cổng thành có hai người lính gác, một người gác đầu hôm thì cho khách bên ngoài vào thành, không gây trở ngại; một người gác cuối đêm thì cho khách ở trong thành đi ra cũng chẳng gây trở ngại gì. Thưa Tôn giả! Con lại nghĩ như vầy: “Trời vẫn còn chưa sáng hẳn. Vì sao như vậy? Vì tại trạm dừng ở cổng thành có hai người lính gác, một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngoài vào thành, không gây trở ngại gì; một người gác cuối đêm thì cho hành khách trong thành đi ra cũng không hề gây trở ngại.” Thưa Tôn giả! Con vượt khỏi trạm dừng ở cửa thành để ra ngoài thành không bao lâu thì ánh sáng biến mất và trời tối hẳn lại. Thưa Tôn giả! Con liền sợ hãi, toàn thân rúng động: “Mong sao đừng có người hay loài phi nhân nào đến quấy phá con.”
Khi ấy, tại trạm dừng ở cửa thành có một vị trời xuất hiện, ánh sáng tỏa chiếu khắp nơi, đang đi từ thành Vương Xá đến Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. Vị ấy đến bảo con rằng: “Trưởng giả, đừng sợ! Trưởng giả, đừng sợ! Vì sao như vậy? Vì đời trước tôi vốn là bạn của ông, tên là Mật Khí, thời niên thiếu chúng ta rất kính mến nhau. Này trưởng giả! Thuở xưa tôi đi đến chỗ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ngài rồi ngồi sang một bên. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp cho tôi, mở bày, chỉ dạy, khích lệ khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô số phương tiện để thuyết pháp, mở bày, chỉ dạy, khích lệ khiến cho tôi hoan hỷ rồi, Ngài ấy còn chỉ dạy cho tôi pháp ba quy y và truyền trao năm giới. Này trưởng giả! Tôi nhờ có pháp ba quy y và thọ trì năm giới nên sau khi qua đời, được sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương và hiện đang cư ngụ trong trạm dừng tại cổng thành này. Trưởng giả hãy đi nhanh lên, trưởng giả hãy đi nhanh lên! Thật sự bước đi tốt hơn dừng lại.”
Rồi vị trời ấy dùng kệ khuyên con:

Được trăm ngựa, thần nữ,
Châu báu đầy trăm xe,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đến chỗ Phật.
Trăm voi trắng tối thượng,
Thắng yên cương bạc vàng,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đến chỗ Phật.
Trăm thiếu nữ mỹ miều,
Đeo chuỗi ngọc, hương hoa,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đến chỗ Phật.
Vua Chuyển Luân kính trọng,
Báu ngọc nữ bậc nhất,
Không bằng phần mười sáu,
Một bước đến chỗ Phật.

[0460b05] Nói kệ xong, vị trời lại khuyên con rằng: “Trưởng giả đi nhanh lên! Trưởng giả đi nhanh lên! Thật sự bước đi tốt hơn dừng lại.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con lại nghĩ thế này: “Đức Phật là ngôi phước đức tôn quý.9 Pháp và chúng Tỳ-kheo cũng là ngôi phước đức tôn quý. Vì sao như vậy? Vì ngay cả cõi trời cũng muốn ta đến thăm viếng.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Nhờ ánh sáng này, con đi đến Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ, trời gần sáng, đức Thế Tôn từ thiền thất bước ra, đi kinh hành nơi khoảng đất trống để đợi con. Thưa Tôn giả! Từ xa, con trông thấy Phật, tướng đoan chánh tuyệt đẹp như vầng trăng giữa các vì sao, ánh sáng chói lọi, rực rỡ như ngọn núi vàng, đầy đủ tướng tốt, oai thần vời vợi, các căn tịch tịnh, không bị ngăn che, thành tựu sự điều ngự, tâm vắng lặng tịch mặc. Thấy như vậy rồi, con thật hoan hỷ, liền đến trước Phật, đảnh lễ sát chân Ngài rồi theo Phật đi kinh hành. Theo phép tắc trưởng giả, con dùng kệ thăm hỏi rằng:

Thế Tôn ngủ an ổn,
Đến trọn cả đêm chăng?
Như Phạm chí diệt độ,
Vì không nhiễm trước dục,
Buông xả mọi mong cầu,
Được đến nơi an ổn,
Tâm trừ sạch phiền muộn,
Tự mình ngủ an vui.

Khi ấy, đức Thế Tôn vừa đi đến cuối con đường kinh hành, liền trải tọa cụ rồi ngồi kiết-già. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Lúc ấy con đảnh lễ sát chân Phật rồi ngồi sang một bên. Đức Thế Tôn thuyết pháp cho con, mở bày, chỉ dạy, khích lệ khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô số phương tiện thuyết pháp, mở bày, chỉ dạy, khích lệ khiến cho con hoan hỷ xong, theo đúng pháp của chư Phật, trước hết, Thế Tôn thuyết về các hạnh lành cơ bản,10 khiến người nghe vui mừng. Ngài giảng về bố thí, về trì giới, về pháp sanh thiên, chê trách tham dục là tai họa, sanh tử là ô uế, khen ngợi vô dục là vi diệu, đạo phẩm là thanh tịnh. Đức Thế Tôn nói những pháp như vậy cho con nghe xong, Ngài biết con đã có tâm hoan hỷ, tâm đầy đủ, tâm nhu hòa, tâm kham nhẫn, tâm thăng tiến, tâm chuyên nhất, tâm hết nghi ngờ, tâm không bị che lấp, đủ năng lực thọ nhận Chánh pháp rồi lại theo đúng pháp thức của chư Phật, kế đó Ngài liền thuyết pháp chánh yếu là khổ, tập, diệt, đạo cho con nghe.
Thưa Tôn giả! Ngay lúc ấy, con liền thấy rõ bốn Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo. Ví như tấm lụa trắng sạch thì rất dễ nhuộm màu, con cũng như vậy, chính ngay lúc ấy đã thấy rõ bốn Thánh đế khổ, tập, diệt, đạo.
[0460c03] Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con đã thấy pháp, đã đắc pháp, đã ngộ pháp thanh tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, thoát khỏi mê lầm, không nương ai khác,11 dứt hẳn hoài nghi, an trụ quả chứng, nơi pháp Thế Tôn được Vô sở úy. Con liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật rồi thưa:
“Bạch Thế Tôn! Từ nay con xin tự quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi xin Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Từ nay trở đi con nguyện quy y Tam bảo cho đến trọn đời!”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con lại chắp tay thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn! Kính mong Ngài nhận lời mời của con, thỉnh Ngài cùng chúng Tỳ-kheo đến nước Xá-vệ để an cư mùa mưa.”
Lúc ấy, đức Phật hỏi con:
“Ông tên là gì? Người nước Xá-vệ gọi ông là gì?”
Con liền trả lời:
“Con tên là Tu-đạt-đa.12 Vì con thường cung cấp thức ăn cho người cô độc nên người nước Xá-vệ gọi con là Cấp Cô Độc.”
Rồi Thế Tôn lại hỏi con:
“Tại nước Xá-vệ, ông đã chuẩn bị nhà cửa gì chưa?”
Con trả lời rằng:
“Tại nước Xá-vệ, con chưa chuẩn bị nhà cửa gì cả.”
Bấy giờ, Thế Tôn bảo con:
“Trưởng giả nên biết, nếu có nhà cửa thì các thầy Tỳ-kheo mới có thể qua lại, có thể an trú được.”
Con lại thưa:
“Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Nhân đây con sẽ xây cất nhà cửa để các thầy Tỳ-kheo có thể qua lại, có thể an trú tại nước Xá-vệ. Mong Ngài cử cho một vị đến hướng dẫn giúp đỡ con!”
Bấy giờ, Thế Tôn liền cử Tôn giả Xá-lợi-phất đến để phụ giúp. Sau khi nghe Phật dạy xong, con khéo léo ghi nhớ, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, nhiễu quanh ba vòng rồi ra về.
Khi công việc cần làm tại thành Vương Xá đã hoàn tất, con cùng Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến nước Xá-vệ, nhưng không vào trong thành Xá-vệ cũng không trở về nhà mà lập tức đi dạo khắp bên ngoài thành để xem chỗ nào đi lại thuận tiện nhất, ban ngày không ồn náo, ban đêm thì yên tĩnh, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, thời tiết không lạnh cũng không nóng, có thể xây dựng nhà cửa để cúng dường Phật và chúng Tăng.
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Lúc ấy, con chỉ thấy khu vườn của Thái tử Kỳ-đà13 là rất thuận tiện cho việc đi lại, ban ngày không ồn náo, ban đêm thì yên tịnh, không có muỗi mòng, ruồi nhặng, thời tiết không lạnh cũng không nóng. Thấy khu vườn này rồi, con liền suy nghĩ: “Chỉ có nơi này là tốt nhất, có thể xây cất nhà cửa để cúng dường Phật và đại chúng.”
[0461a01] Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Bấy giờ, con đi vào nước Xá-vệ, nhưng cũng chưa về nhà mà đi đến chỗ Thái tử Kỳ-đà rồi thưa:
“Thưa Thái tử! Ngài có thể bán khu vườn kia cho tôi không?”
Bấy giờ, Thái tử liền bảo con:
“Trưởng giả nên biết, tôi không bán khu vườn.”
Cứ như vậy, con thưa đến ba lần:
“Thưa Thái tử! Ngài có thể bán khu vườn kia cho tôi không?”
Bấy giờ, Thái tử cũng lặp lại ba lần:
“Tôi không bán khu vườn, trừ khi trưởng giả dùng tiền vàng trải đầy kín hết khu vườn.”
Con liền thưa:
“Vậy là hôm nay Thái tử đã quyết định giá cả, chỉ còn việc nhận tiền nữa thôi.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con và Thái tử, người thì nói đã quyết định giá cả, người thì nói chưa quyết định giá cả nên tranh cãi mãi, rồi cùng đưa nhau đến pháp đình nước Xá-vệ để quan tòa phán quyết việc này. Bấy giờ, vị quan tòa nước Xá-vệ bảo Thái tử Kỳ-đà:
“Thái tử đã tự quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận tiền mà thôi.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con liền vào nước Xá-vệ, về nhà lấy tiền, rồi dùng xe voi, xe ngựa và cử người khuân vác, chuyên chở vô số tiền vàng từ các kho lẫm đến phủ khắp mặt đất, nhưng còn vài chỗ chưa trải đến. Thưa Tôn giả! Lúc ấy, con nghĩ như vầy: “Nên xuất kho nào nữa để vừa đủ số có thể trải vào chỗ còn trống này, để không thừa cũng không thiếu?” Bấy giờ, Thái tử Kỳ-đà liền bảo con rằng:
“Này trưởng giả! Nếu hối tiếc số tiền ấy thì hãy tự mang tiền trở về, trả lại khu vườn cho tôi.”
Con nói với Thái tử rằng:
“Tôi thật sự không hối tiếc, chỉ đang suy nghĩ nên xuất kho nào nữa để vừa đủ số tiền trải đầy chỗ còn trống này, khiến không dư cũng không thiếu mà thôi!”
Khi ấy, Thái tử Kỳ-đà liền nghĩ như vầy: “Đức Phật chắc chắn là bậc cao cả, có oai đức lớn. Pháp và chúng Tỳ-kheo ắt cũng là rất cao cả, có oai đức lớn. Vì sao như vậy? Vì chỉ có như vậy mới khiến cho trưởng giả này mở bày sự cúng dường to lớn, coi rẻ tiền bạc đến thế. Nay ta nên xây cất cổng ngõ nơi đây để cúng dường Phật và chúng Tỳ-kheo.” Rồi Thái tử Kỳ-đà liền bảo con:
“Trưởng giả, hãy thôi đi! Đừng xuất tiền trải lên khoảng đất trống còn lại nữa, vì ngay chỗ này tôi sẽ xây cổng ngõ cúng dường Phật và chúng Tỳ-kheo.”
Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Con vì lòng từ mẫn nên đồng ý để khu đất này lại cho Thái tử Kỳ-đà. Thế là ngay trong mùa hạ ấy, con cho xây dựng mười sáu dãy nhà lớn và sáu mươi ngôi tịnh thất.14 Lúc đó, Tôn giả đã đến giúp đỡ con. Thế nhưng, hôm nay Tôn giả thuyết pháp giáo hóa người bệnh, còn kỳ diệu hơn, hy hữu hơn. Con nghe bài pháp giáo hóa cho người bệnh xong thì mọi đau đớn bệnh tật hiểm nguy liền được tiêu trừ, còn sanh khởi niềm an lạc vô cùng.
Thưa Tôn giả! Hiện tại, con không còn bệnh nữa và đã được an ổn vô cùng. Mong Tôn giả ở lại đây thọ trai!
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời.
Biết Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng nhận lời rồi, trưởng giả liền từ chỗ ngồi đứng dậy, tự đi lấy nước rửa, tự tay dâng thức ăn, đem đủ các mó n ngon, thực phẩm dễ tiêu để cúng dường Tôn giả, mong Ngài dùng được đầy đủ. Tôn giả thọ trai xong, trưởng giả dọ n dẹp bát, lấy nước rửa tay cho Tôn giả rồi đặt một chiếc ghế thấp kế bên ngồi nghe pháp. Khi trưởng giả đã ngồi yên, Tôn giả Xá-lợi-phất liền vì trưởng giả mà thuyết giảng các pháp, khai mở, chỉ bày, khích lệ, khiến cho hoan hỷ. Sau khi dùng vô số phương tiện thuyết pháp cho trưởng giả nghe, khai mở, chỉ bày, khích lệ, khiến cho hoan hỷ rồi, Tôn giả rời khỏi chỗ ngồi, đứng dậy ra về.
Khi ấy, đức Phật ngồi giữa chúng hội thuyết pháp cho vô lượng đại chúng vây quanh. Từ xa, trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến, Phật liền bảo các thầy Tỳ-kheo:
– Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là người có trí tuệ sáng suốt, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ linh hoạt, trí tuệ sắc bén, trí tuệ rộng lớn, trí tuệ sâu xa, trí tuệ xuất ly, trí tuệ thấu đáo và có trí tuệ biện tài.15 Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thành tựu trí tuệ như thật. Vì sao như vậy? Vì Như Lai chỉ nói sơ lược về bốn bậc Tu-đà-hoàn mà Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã triển khai thành mười hạng để nói cho trưởng giả Cấp Cô Độc.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.16

Chú Thích:
1 Nguyên tác: Giáo hóa bệnh kinh 教化病經 (T.01. 0026.28. 0458b28). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.592-593. 0157b18-0158b24); Tạp. 雜 (T.02. 0099.1032. 0269c08); Biệt Tạp. 別雜 (T.02. 0100.186-187. 0440b02-0441a27); Tăng. 增 (T.02. 0125.51.8. 0819b11); M. 143, Anāthapiṇḍikovāda Sutta (Kinh giáo giới Cấp Cô Độc); S. 2.20 - I. 126; S. 10.8 - I. 455; S. 55.26 - V. 380.
2 Nguyên tác: Ác giới (惡戒, dussīla).
3 Nguyên tác: Ác tuệ (惡慧, duppaññā).
4 Nguyên tác: Tà kiến (邪見). S. 55.26 - V. 380: Micchādiṭṭhiyā (thấy biết sai lầm).
5 Nguyên tác: Tà chí (邪志). S. 55.26 - V. 380: Micchāsaṅkappena (tư duy sai lầm).
6 Nguyên tác: Tà giải (邪解). S. 55.26 - V. 380: Micchāñāṇena (hiểu biết lệch lạc).
7 Nguyên tác: Tà thoát (邪脫). S. 55.26 - V. 380: Micchāvimuttiyā (sự giải thoát tà vạy).
8 Nguyên tác: Tà trí (邪智, micchāñāṇa).
9 Nguyên tác: Tôn hựu đức (尊祐德), chỉ cho ngôi vị phước đức tôn quý.
10 Đoan Chánh pháp (端正法). Theo HT. Ấn Thuận trong Ấn Thuận Pháp sư Phật học trước tác tập “Hoa Vũ tập” 印順法師佛學著作集華雨集 (Y.28. 0028.4. 0101a06), “đoan chánh pháp” là các thiện hạnh cơ bản trong thế gian.
11 Nguyên tác: Bất phục tùng tha (不復從他). SĀ. 30 ghi “bất do ư tha” (不由於他); EĀ. 45.7 ghi là “bất sự dư sư” (不事餘師).
12 Tu-đạt-đa (須達哆, Sudatta).
13 Nguyên tác: Đồng tử Thắng (童子勝).
14 Câu-hy (拘絺, kuṭī): Tịnh thất.
15 Thông tuệ, tốc tuệ, tiệp tuệ, lợi tuệ, quảng tuệ, thâm tuệ, xuất yếu tuệ, minh đạt tuệ, biện tài tuệ (聰慧,速慧,捷慧,利慧,廣慧,深慧,出要慧,明達慧,辯才慧). Xem chú thích 10, kinh số 27, tr. 169.
16 Bản Hán, hết quyển 6.

 

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.