Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa thành Vương Xá, ngụ tại Trúc Lâm, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Cù-ni-sư2 cũng ở thành Vương Xá, trong một am vắng3 nhưng hay đùa cợt, kiêu ngạo, quấy rối, không chánh niệm, tâm như khỉ vượn. Một hôm, nhân có chút việc, Tỳ-kheo Cù-ni-sư vào thành Vương Xá.
Lúc đó, sau giờ thọ trai, vì có chút việc nên Tôn giả Xá-lợi-phất cùng với chúng Tỳ-kheo tập hợp tại giảng đường. Sau khi xong việc trong thành Vương Xá, Tỳ-kheo Cù-ni-sư cũng đi đến giảng đường.
[0455a03] Tôn giả Xá-lợi-phất từ xa trông thấy Cù-ni-sư đi đến, do có Cù-ni-sư nên Tôn giả bảo các Tỳ-kheo:
– Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự4 sống ở nơi thanh vắng phải học hạnh cung kính và biết tùy thuận quán sát. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà thường không có sự kính trọng và không biết tùy thuận quán sát thì vị ấy sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng nhưng thường không biết kính trọng, không biết tùy thuận quán sát.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh cung kính và biết tùy thuận quán sát.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học hạnh không đùa cợt, không ồn náo. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà hay đùa cợt, ồn náo thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn: “Vị Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà lại thích đùa cợt, ồn náo. Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn.” Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh không đùa cợt, không gây ồn náo.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học hạnh không bàn luận những chuyện phù phiếm, vô nghĩa.5 Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà hay bàn luận những chuyện phù phiếm, vô nghĩa thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà hay bàn luận những chuyện phù phiếm, vô nghĩa.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh không nên bàn luận những chuyện phù phiếm, vô nghĩa.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học hạnh không kiêu ngạo và hãy ít nói năng. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà hay kiêu ngạo và nói nhiều thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà thường kiêu ngạo và ưa nói nhiều.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh không kiêu ngạo và ít nói năng.
[0455b01] Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học cách giữ gìn các căn. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà thường không giữ gìn các căn thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà thường không giữ gìn các căn.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác chỉ trích, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học cách giữ gìn các căn.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học hạnh biết đủ trong sự ăn uống. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà tham ăn, ăn quá nhiều, ăn không biết đủ thì sẽ bị các Tỳ-kheo chỉ trích, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà tham ăn, ăn quá nhiều, ăn không biết đủ.” Nếu vị ấy sống ở trong chúng cũng bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh biết đủ trong sự ăn uống.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học hạnh tinh tấn, không lười biếng. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà thường không tinh tấn và lười biếng sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà thường không tinh tấn, trái lại còn biếng nhác.” Nếu vị ấy sống ở trong chúng cũng bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học hạnh tinh tấn và không lười biếng.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học chánh niệm tỉnh giác. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà thường không chánh niệm tỉnh giác thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà thường xuyên không có chánh niệm tỉnh giác.” Nếu vị ấy đến ở trong chúng cũng bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học chánh niệm tỉnh giác.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần học pháp biết thời và đúng thời, không đi vào thôn ấp khất thực quá sớm, cũng không được trở về quá muộn. Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà vào thôn ấp khất thực quá sớm nhưng lại trở về muộn thì Tỳ-kheo vô sự ấy sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà không giữ nguyên tắc, cứ vào thôn ấp khất thực quá sớm rồi lại về muộn.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn. Thế nên, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học pháp biết thời và đúng thời.
[0455c06] Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học pháp biết cách ngồi và ngồi đúng chỗ, không chiếm chỗ ngồi của bậc Trưởng lão hoặc xua đuổi Tỳ-kheo nhỏ.6 Này chư Hiền! Nếu Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà chiếm chỗ ngồi của bậc Trưởng lão hoặc xua đuổi các Tỳ-kheo nhỏ thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà chiếm chỗ ngồi của bậc Trưởng lão hoặc lại xua đuổi Tỳ-kheo nhỏ.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo khác thường quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học pháp biết cách ngồi và ngồi đúng chỗ.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học tập và cùng nhau thảo luận về Luật và A-tỳ-đàm.7 Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng, giả sử có người đến hỏi về Luật và A-tỳ-đàm mà Tỳ-kheo vô sự ấy không hiểu gì về Luật và A-tỳ-đàm để trả lời thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà không biết trả lời về Luật và A-tỳ-đàm.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng bị các Tỳ-kheo thường quở trách, chất vấn. Thế nên, này chư Hiền, Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học tập và cùng nhau thảo luận về Luật và A-tỳ-đàm.
Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học tập và cùng nhau bàn luận về tịch tịnh giải thoát,8 về ly sắc,9 cho đến Vô sắc định. Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng, nếu có người đến hỏi về sự tịch tịnh giải thoát, về ly sắc, cho đến Vô sắc định mà Tỳ-kheo vô sự ấy không biết trả lời về tịch tịnh giải thoát, về ly sắc, cho đến Vô sắc định thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà không biết trả lời về tịch tịnh giải thoát, về ly sắc cho đến Vô sắc định.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo thường quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học tập và cùng nhau thảo luận về tịch tịnh giải thoát, về ly sắc cho đến Vô sắc định.
[0456a02] Này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng nên học tập và cùng nhau thảo luận về Lậu tận trí thông. Vì sao như vậy? Này chư Hiền! Khi Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng, nếu có người đến hỏi về Lậu tận trí thông mà vị ấy không biết trả lời về Lậu tận trí thông thì sẽ bị các Tỳ-kheo khác quở trách, chất vấn: “Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng để làm gì? Vì sao như vậy? Vì Hiền giả vô sự này sống ở nơi thanh vắng mà không biết trả lời về Lậu tận trí thông.” Nếu vị ấy ở trong chúng cũng sẽ bị các Tỳ-kheo thường quở trách, chất vấn. Do đó, này chư Hiền! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng cần phải học tập và cùng nhau thảo luận về Lậu tận trí thông.
Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cũng có mặt trong đại chúng, liền thưa rằng:
– Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất! Chỉ những Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mới nên học những pháp như vậy, còn các Tỳ-kheo khác sống gần gũi thôn ấp10 thì thế nào?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời:
– Thưa Tôn giả Đại Mục-kiền-liên! Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi thanh vắng mà còn phải học những pháp như vậy, huống nữa là Tỳ-kheo sống giữa thôn xóm?
Cứ như vậy, hai Tôn giả cùng nhau hỏi đáp và khen ngợi “Lành thay!” cho chúng Tỳ-kheo nghe rồi cùng rời khỏi giảng đường.
Kính trọng, không đùa cợt,
Không luận phiếm, kiêu ngạo,
Hộ căn, ăn biết đủ,
Tinh tấn, niệm, tỉnh giác.
Biết thời, ngồi đúng chỗ,
Thảo luận Luật, Tỳ-đàm,
Và tịch tịnh giải thoát,
Lậu tận thông cũng vậy.11
Chú Thích
1 Quyển 6. Nguyên tác: Cù-ni-sư kinh 瞿尼師經 (T.01. 0026.26. 0454c24). Tham chiếu: M. 69, Goliyāni Sutta (Kinh Goliyāni).
2 Cù-ni-sư (瞿尼師, Goliyāni).
3 Tại vô sự thất (在無事室). M. 69: Āraññika (người sống trong rừng).
4 Vô sự Tỳ-kheo (無事比丘). P. Āraññaka bhikkhu: Tỳ-kheo sống trong rừng.
5 Súc sanh luận (畜生論). D. 1 gọi là tiracchānakathā (những câu chuyện vô ích, tầm thường), HT. Thích Minh Châu dịch. Ngài Buddhaghosa trong MA. II. 153 đã giải thích: Đó là những câu chuyện về loài hữu tình thuộc bàng sanh, hướng ngang, gọi là tiracchāna (tiriyaṃ añchitāti tiracchānā). Có lẽ do tính từ tiriyaṃ mang nghĩa là hướng ngang, bề ngang, còn ở phương diện danh từ thì tiriyā chỉ cho một loài cỏ dại, mọc lan trên mặt đất; thế nên toàn bộ cú ngữ tiracchānakathā mang nghĩa phát sinh là những chuyện lan man, vô bổ, huyền đàm.
6 Vị tiểu Tỷ-khưu ha (為小比丘訶). Tham chiếu M. 69: There ca bhikkhū nānupakhajja nisīdissāmi nave ca bhikkhū na āsanena paṭibāhissāmi (không có chiếm lấy chỗ ngồi các Thượng tọa Tỷ-kheo, không có trục xuất chỗ ngồi của các niên thiếu Tỷ-kheo), HT. Thích Minh Châu dịch.
7 Nguyên tác: Luật, A-tỳ-đàm (律, 阿毗曇). Tham chiếu: M. 69: Abhivinaya, abhidhamma: Nghĩa lý thù thắng của Luật (Vinaya) và Pháp (Dhamma).
8 Nguyên tác: Tức giải thoát (息解脫, Santavimokkha).
9 Ly sắc (離色, atikkamma rūpe): Vượt qua sắc pháp.
10 Nhân gian Tỳ-kheo (人間毗丘): Tỳ-kheo sống trong nhân gian, gần gũi thế tục.
11 Bài kệ tóm tắt những phẩm tính cần có của Tỳ-kheo theo nội dung kinh.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.