Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng họ Thích,2 trú tại Thiên Ấp.3
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Các vị Ni-kiền chủ trương như vầy và nói như vầy: “Phàm những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo ở đời trước. Nếu như nghiệp cũ này được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau.” Ta liền đến chỗ các vị ấy, đến rồi liền hỏi:
“Này Ni-kiền! Phải chăng các vị đã thật sự chủ trương như vầy và nói như vầy: ‘Phàm những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo ở đời trước. Nếu như nghiệp cũ này được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau?’”
Họ trả lời:
“Đúng vậy, thưa Cù-đàm!”
Ta lại hỏi các Ni-kiền:
“Các vị tự cho là có trí sáng suốt, vậy có biết rằng: ‘Ta đã tồn tại trước đây hay không tồn tại trước đây? Trước đây ta đã làm việc ác hay không làm việc ác? Ta phải làm như thế này thì các khổ mới diệt tận và nếu làm như thế kia thì các khổ không diệt tận? Nếu đã diệt tận thì diệt tận hoàn toàn chưa? Tức là ngay trong đời này có thể diệt trừ các điều bất thiện, thành tựu các pháp lành để rồi tu tập và tác chứng chăng?”’
Họ trả lời:
“Không thể, thưa Cù-đàm!”
Ta lại bảo các Ni-kiền kia:
“Các vị vốn không có trí sáng suốt để biết rằng: ‘Ta đã tồn tại trước đây hay không tồn tại trước đây? Trước đây ta đã làm việc ác hay không làm việc ác?
Ta phải làm như thế này thì các khổ mới diệt tận và nếu làm như thế kia thì các khổ không diệt tận? Nếu đã diệt tận thì diệt tận hoàn toàn chưa? Tức là ngay trong đời này có thể diệt trừ các điều bất thiện, thành tựu các pháp lành để rồi tu tập và tác chứng chăng?’
Nhưng các vị lại nói rằng: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo đời trước. Nếu như nghiệp cũ được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau.
Này Ni-kiền! Nếu các vị tự cho là có trí sáng suốt và biết rằng: ‘Ta đã tồn tại trước đây hay không tồn tại trước đây? Trước đây ta đã làm việc ác hay không làm việc ác? Ta phải làm như thế này thì các khổ mới diệt tận và nếu làm như thế kia thì các khổ không diệt tận? Nếu đã diệt tận thì diệt tận hoàn toàn chưa? Tức là ngay trong đời này mà diệt trừ các điều bất thiện, thành tựu các pháp lành để rồi tu tập và tác chứng’ thì các vị mới có thể nói như vầy: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo đời trước. Nếu như nghiệp cũ được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau.’
Này Ni-kiền! Ví như có người bị trúng mũi tên độc vào thân, vì trúng mũi tên độc nên rất đau đớn. Người ấy được quyến thuộc yêu mến xót thương, muốn đem lại sự lợi ích và an ổn nên lập tức mời y sĩ phẫu thuật4 đến lấy mũi tên. Y sĩ phẫu thuật đến, liền dùng dao bén để mổ vết thương, do vết thương bị mổ nên người ấy cảm thấy rất đau đớn. Sau khi vết thương đã được mổ, y sĩ liền tìm mũi tên, do y sĩ tìm mũi tên nên người ấy lại đau đớn hơn. Tìm được mũi tên rồi, y sĩ lập tức nhổ ra, do nhổ mũi tên ra nên người ấy lại càng đau đớn hơn nữa. Nhổ mũi tên ra rồi, y sĩ khâu vết thương lại và băng bó, vì y sĩ băng bó vết thương nên người ấy lại đau đớn vô cùng. Sau khi nhổ được mũi tên ra, người ấy được khỏe mạnh, không còn đau đớn, các căn không hư hoại, bình phục như cũ.
Này Ni-kiền! Người ấy vốn có trí tuệ sáng suốt, liền suy nghĩ như vầy: ‘Ta trước kia bị trúng mũi tên độc, vì bị trúng mũi tên độc nên rất đau đớn, các quyến thuộc của ta thấy vậy, yêu mến xót thương, muốn đem lại lợi ích và an lạc cho ta nên liền mời y sĩ phẫu thuật đến lấy mũi tên ra. Y sĩ phẫu thuật đến, liền dùng mũi dao bén mổ vết thương cho ta, vì mổ vết thương nên lúc ấy ta rất đau đớn. Khi mổ vết thương rồi, y sĩ liền tìm mũi tên, khi y sĩ tìm mũi tên thì ta lại đau đớn hơn. Tìm được mũi tên rồi, y sĩ liền nhổ ra, vì nhổ ra nên lúc ấy ta càng đau đớn hơn nữa. Khi nhổ mũi tên ra rồi, y sĩ khâu vết thương lại và băng bó, vì băng bó nên lúc ấy ta lại đau đớn vô cùng. Sau khi nhổ được mũi tên ra rồi, ta liền khỏe mạnh, không còn đau đớn, các căn không hư hoại, bình phục như cũ.’
[0443a15] Cũng vậy, này Ni-kiền! Nếu các vị tự có trí sáng suốt, vậy có biết rằng: ‘Ta đã tồn tại trước đây hay không tồn tại trước đây? Trước đây ta đã làm việc ác hay không làm việc ác? Ta phải làm như thế này thì các khổ mới diệt tận và nếu làm như thế kia thì các khổ không diệt tận? Nếu đã diệt tận thì diệt tận hoàn toàn chưa? Tức là ngay trong đời này mà đoạn trừ các pháp bất thiện và tạo được các pháp lành, tu tập và tác chứng chăng?’
Này Ni-kiền! Nếu biết, các vị mới có thể nói thế này: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo đời trước. Nếu như nghiệp cũ được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau.’”
Khi Ta hỏi như vậy, nhưng không thấy Ni-kiền nào có thể trả lời Ta rằng: “Thưa Cù-đàm! Đúng như vậy hay không đúng như vậy.”
Ta lại hỏi các Ni-kiền:
“Nếu các vị có sự tinh cần5 bậc nhất, có sự khổ hạnh bậc nhất thì lúc ấy, các vị có sanh khởi sự khổ bậc nhất chăng?”
Họ trả lời:
“Đúng vậy, thưa Cù-đàm!”
“Nếu các vị có sự tinh cần bậc trung, có sự khổ hạnh bậc trung thì lúc ấy, các vị có sanh khởi sự khổ bậc trung chăng?”
Họ trả lời:
“Đúng như vậy, thưa Cù-đàm!”
“Nếu các vị có sự tinh cần bậc hạ, có sự khổ hạnh bậc hạ thì lúc ấy, các vị có sanh khởi sự khổ bậc hạ chăng?”
Họ trả lời:
“Đúng như vậy, thưa Cù-đàm!”
“Vậy thì, khi các vị có sự tinh cần bậc nhất và khổ hạnh bậc nhất thì lúc ấy, các vị sanh khởi sự khổ bậc nhất. Khi có sự tinh cần bậc trung và khổ hạnh bậc trung thì các vị sanh khởi sự khổ bậc trung. Khi có sự tinh cần bậc hạ và khổ hạnh bậc hạ thì các vị sanh khởi sự khổ bậc hạ. Nếu cho rằng, các vị có sự tinh cần bậc nhất và khổ hạnh bậc nhất thì lúc ấy, các vị chấm dứt các nỗi khổ bậc nhất. Có sự tinh cần bậc trung và khổ hạnh bậc trung thì lúc ấy, các vị chấm dứt các nỗi khổ bậc trung. Có sự tinh cần bậc hạ và khổ hạnh bậc hạ thì lúc ấy, các vị chấm dứt nỗi khổ bậc hạ. Nếu làm như vậy, hay không làm như vậy mà chấm dứt được những nỗi thống khổ cùng cực thì nên biết, các vị ngay trong đời này đã tạo khổ đau. Nhưng các vị bị sự mê mờ che lấp, do bị sự mê mờ trói buộc, nên quan niệm thế này: ‘Những gì mà con người cảm thọ đều do nhân đã tạo đời trước. Nếu như nghiệp cũ được trừ diệt bởi khổ hạnh và không tạo nghiệp mới thì các nghiệp chấm dứt. Các nghiệp đã chấm dứt thì khổ đau sẽ chấm dứt. Các khổ đã được chấm dứt thì vượt thoát khổ đau.’”
Ta hỏi như vậy, nhưng không thấy có vị Ni-kiền nào có thể trả lời Ta rằng: “Thưa Cù-đàm, đúng như vậy hay không đúng như vậy.”
[0443b12] Lại nữa, Ta hỏi các Ni-kiền:
“Các vị Ni-kiền! Nếu có nghiệp quả an vui thì nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo khổ đau chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-đàm!”
“Này các Ni-kiền! Nếu có nghiệp báo khổ đau thì nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành nghiệp quả an vui chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-đàm!”
“Này các vị Ni-kiền! Nếu có nghiệp báo trong đời hiện tại thì nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo đời sau chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-đàm!”
“Này các Ni-kiền! Nếu có nghiệp báo đời sau thì nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo đời hiện tại chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-đàm!”
“Này các Ni-kiền! Nếu có nghiệp báo chưa chín muồi, nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà trở thành quả báo chín muồi chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-Đàm!”
“Này các Ni-kiền! Nếu có nghiệp báo chín muồi ngay thì nghiệp ấy có thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển đổi cho khác đi chăng?”
Họ trả lời:
“Không thể có, thưa Cù-đàm!”
“Này các Ni-kiền! Như vậy, với nghiệp quả an vui thì nghiệp ấy không thể do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo khổ đau được. Này các Ni-kiền! Với nghiệp báo khổ đau thì nghiệp ấy không thể do sự tinh cần hay do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo an vui được. Này các Ni-kiền! Với nghiệp báo trong đời hiện tại thì nghiệp ấy không thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo đời sau được. Này các Ni-kiền! Với nghiệp báo đời sau thì nghiệp ấy không thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo đời hiện tại được. Này các Ni-kiền! Với nghiệp chưa chín muồi thì nghiệp ấy không thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển thành quả báo chín muồi. Này các Ni-kiền! Với nghiệp báo chín muồi thì nghiệp ấy không thể nào do sự tinh cần và do sự khổ hạnh mà chuyển đổi thành khác đi được. Vì thế, này các Ni-kiền! Sự nỗ lực của các vị là hư vọng, sự tinh cần ấy là vô nghĩa, chẳng đạt được gì cả.”
[0443c04] Các vị Ni-kiền ấy liền trả lời Ta rằng:
“Thưa Cù-đàm! Chúng tôi có Tôn sư, tên là Thân Tử Ni-kiền,6 có nói thế này: ‘Các Ni-kiền! Nếu trước đây các ông đã tạo nghiệp ác, nghiệp ấy đều có thể do sự khổ hạnh này mà diệt sạch tất cả. Nếu hôm nay kiểm thúc thân, miệng và ý thì nhờ đó sẽ không còn tạo nghiệp ác nữa.’”
Ta lại hỏi họ:
“Các vị tin vào Tôn sư Thân Tử Ni-kiền mà không chút nghi ngờ gì sao?”
Họ trả lời:
“Thưa Cù-đàm! Chúng tôi rất tin vào Tôn sư Thân Tử Ni-kiền, không chút nghi ngờ.”
Ta lại hỏi:
“Có năm loại pháp đem đến hai loại quả báo ngay trong đời này, đó là: Lòng thành tín, sự ưa thích, nghe theo truyền thống, biết suy tư và thẩm sát để tiếp nhận.7 Này các Ni-kiền! Phải chăng có kẻ tự lừa dối mình khi nói rằng: ‘Điều này đáng tin, đáng ưa mến, đáng nghe theo, đáng suy gẫm và đáng chiêm nghiệm kỹ?”’
Họ trả lời Ta rằng:
“Đúng như vậy, thưa Cù-đàm!”
Ta lại bảo họ:
“Đó là lời hư dối, sao đáng tin, sao đáng ưa muốn, sao đáng nghe theo, sao đáng suy gẫm, sao đáng chiêm nghiệm kỹ? Trong khi người ấy nói lời hư dối ‘có lòng thành tín, sự ưa thích, nghe theo truyền thống, biết suy tư và có sự thẩm sát để tiếp nhận.’
Nếu các vị nói như thế thì đối với chánh lý có năm điều đáng trách, đáng chất vấn và đáng khinh ghét. Năm điều ấy là gì?
Một là, những chúng sanh hiện nay phải nhận chịu sự khổ, vui đều do nhân đã tạo ra trong đời trước, nếu đúng như thế thì các Ni-kiền vốn đã tạo các nghiệp ác. Vì sao như vậy? Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực, đó gọi là điều thứ nhất mà các vị đáng bị khinh ghét.
Hai là, chúng sanh sở dĩ nhận chịu sự khổ, vui đều do sự hội họp, nếu đúng như thế thì các Ni-kiền vốn đã hội họp nhiều điều ác. Vì sao như vậy? Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực, đó gọi là điều thứ hai mà các vị đáng bị khinh ghét.
Ba là, chúng sanh sở dĩ nhận chịu sự khổ, vui đều do sanh mạng đời trước, nếu đúng như thế thì các Ni-kiền vốn có sanh mạng xấu ác. Vì sao như vậy? Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực, đó gọi là điều thứ ba mà các vị đáng bị khinh ghét.
Bốn là, chúng sanh sở dĩ nhận chịu sự khổ, vui đều do thấy biết, nếu đúng như thế thì các Ni-kiền vốn có thấy biết xấu ác. Vì sao như vậy? Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực, đó gọi là điều thứ tư mà các vị đáng bị khinh ghét.
Năm là, chúng sanh sở dĩ nhận chịu sự khổ, vui đều vốn do đấng Chủ tể tạo ra, nếu đúng như thế thì các Ni-kiền vốn có một đấng Chủ tể hung ác. Vì sao như vậy? Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực, đó gọi là điều thứ năm mà các vị đáng bị khinh ghét.
Do vì các Ni-kiền vốn đã tạo nghiệp ác, tập hợp nhiều điều ác, có sanh mạng đời trước xấu ác, có thấy biết xấu ác, đấng Chủ tể xấu ác và được tạo ra bởi một Chủ tể xấu ác; bởi những lý do đó mà ngày nay các vị phải nhận chịu sự thống khổ cùng cực. Như vậy, nhân những sự việc ấy nên các vị là những người đáng bị khinh ghét.
[0444a08] Pháp mà Ta tự chứng biết, tự giác ngộ và giảng nói cho các vị, dù là Sa-môn, Phạm chí hoặc Thiên, Ma vương, Phạm thiên và những hạng loại khác trên thế gian đều không thể hàng phục được, đều không thể làm cho ô uế và không thể chế ngự được.
Thế nào là Pháp mà Ta tự chứng biết, tự giác ngộ và giảng nói cho các vị, dù là Sa-môn, Phạm chí hoặc Thiên, Ma vương, Phạm thiên hoặc những hạng loại khác trên thế gian đều không thể hàng phục được, đều không thể làm cho ô uế và không thể chế ngự được?
Nếu có vị Tỳ-kheo xả bỏ nghiệp bất thiện của thân để tu nghiệp lành nơi thân, xả bỏ nghiệp bất thiện của miệng và ý để tu nghiệp lành nơi miệng và ý, vị đó đối với nỗi khổ ở đời vị lai liền tự biết ta không có khổ ở đời vị lai, được sự an lạc đúng như pháp mà không xả bỏ.
Vị ấy nếu muốn đoạn trừ nguyên nhân của khổ nên thực hành tinh cần, hoặc muốn đoạn trừ nguyên nhân của khổ nên buông xả sự tinh cần. Vị ấy nếu muốn đoạn trừ nguyên nhân của khổ nên đã thực hành tinh cần, tức là tu tập về sự thực hành tinh cần đó, khi đã thành tựu thì khổ liền chấm dứt. Vị ấy nếu muốn đoạn trừ nguyên nhân của khổ nên buông xả sự tinh cần, tức là tu tập về việc buông xả sự tinh cần đó, khi đã thành tựu thì khổ liền chấm dứt.
Vị Tỳ-kheo ấy suy nghĩ thế này: ‘Tùy theo sự tạo tác, tùy theo việc làm mà pháp bất thiện sanh khởi, còn thiện pháp bị tiêu diệt. Nếu tự mình tinh cần khổ hạnh mà pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì ta nên tự mình tinh cần khổ hạnh.’ Rồi vị ấy tự mình tinh cần khổ hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ hạnh, pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì lúc đó, vị ấy không còn tinh cần khổ hạnh nữa.” Vì sao như vậy? Này Tỳ-kheo! Những gì cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần khổ hạnh thì việc ấy không đúng.
Này Tỳ-kheo! Ví như người thợ làm tên, dùng kềm để uốn tên, khi cây tên đã thẳng thì không cần dùng kềm nữa. Vì sao như vậy? Vì việc phải làm trước đó nay đã làm xong, nếu còn dùng kềm nữa thì việc ấy không đúng. Cũng vậy, Tỳ-kheo suy nghĩ như vầy: “Tùy theo sự tạo tác, tùy theo việc làm mà pháp bất thiện sanh khởi, còn thiện pháp bị tiêu diệt. Nếu tự mình tinh cần khổ hạnh mà pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì ta phải nên tự mình tinh cần khổ hạnh.” Rồi vị ấy tự tinh cần khổ hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ hạnh, pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì bấy giờ vị ấy không còn tinh cần khổ hạnh nữa. Vì sao như vậy? Vì những gì cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần khổ hạnh thì việc ấy không đúng.
Này Tỳ-kheo! Ví như có một người thương nhớ, say đắm và trông ngóng một cô gái, nhưng cô gái ấy lại chuyện trò với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại sống chung với nhau. Vì những lý do đó, thân tâm người kia có phát sanh khổ não, vô cùng buồn rầu không?
[0444b05] Tỳ-kheo thưa:
– Quả thật như vậy, bạch Thế Tôn!
– Vì sao như vậy? Vì người kia thương nhớ, say đắm và trông ngóng cô gái, nhưng cô gái ấy lại chuyện trò với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại sống chung với nhau thì thân tâm người kia làm sao không sanh ra buồn rầu, khổ não? Này Tỳ-kheo! Giả sử người kia suy nghĩ thế này: “Ta quá thương nhớ, trông ngóng cô gái ấy, nhưng người đó lại chuyện trò với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại sống chung với nhau. Nay ta có nên tự đày đọa, giày vò làm đau khổ bản thân mình để dứt trừ sự thương nhớ, say đắm cô gái kia chăng?” Về sau, người ấy liền tự đày đọa, giày vò làm đau khổ bản thân nên đã dứt trừ sự thương nhớ, say đắm cô gái đó. Giả như cô gái ấy vẫn còn chuyện trò với kẻ khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại sống chung với nhau thì về sau, thân tâm người kia có thể nào vẫn còn sanh khởi khổ não, buồn rầu chăng?
Tỳ-kheo thưa:
– Không còn nữa, bạch Thế Tôn!
– Vì sao như vậy? Vì người kia không còn tình cảm, thương nhớ hay say đắm cô gái ấy nữa. Giả như cô gái ấy vẫn còn chuyện trò với người khác, thăm hỏi lẫn nhau, qua lại sống chung với nhau, vì thế mà cho rằng thân tâm người kia còn sanh khởi khổ não, buồn rầu thì điều này không đúng. Cũng vậy, Tỳ-kheo suy nghĩ như vầy: “Tùy theo sự tạo tác, tùy theo việc làm mà pháp bất thiện sanh khởi, còn thiện pháp bị tiêu diệt. Nếu tự mình tinh cần khổ hạnh mà pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì ta phải nên tự mình tinh cần khổ hạnh.” Rồi vị ấy tự tinh cần khổ hạnh. Sau khi đã tinh cần khổ hạnh, pháp bất thiện bị tiêu diệt, thiện pháp sanh khởi thì lúc đó, vị ấy không còn tinh cần khổ hạnh nữa. Vì sao như vậy? Vì những gì cần phải làm trước đó, nay mục đích đã thành tựu, nếu còn tinh cần khổ hạnh thì việc ấy không đúng.
Vị ấy lại nghĩ như vầy: “Nếu có những nguyên nhân để đoạn trừ các khổ não kia, ta đã đoạn trừ rồi, nhưng đối với dục, ta vẫn còn như cũ và chưa đoạn được, nay ta hãy tìm cách đoạn trừ dục”, liền tìm cách đoạn dục. Vì để đoạn dục, vị ấy sống một mình với hạnh viễn ly, ở nơi thanh vắng, hoặc dưới bóng cây, hoặc nơi yên tĩnh, hoặc trong hang núi, hoặc chỗ đất trống, hoặc nơi đống rơm, hoặc ở trong rừng, hoặc bãi tha ma. Vị ấy khi đã ở nơi yên ổn, hoặc dưới bóng cây vắng lặng rồi, liền trải tọa cụ ngồi kiết-già, thân tâm ngay thẳng, giữ niệm trước mặt, đoạn trừ tham lam,8 tâm không tranh đoạt, thấy tài sản và vật dụng sinh hoạt của người khác thì không khởi lòng tham lam, muốn giành về mình. Vị ấy đã trừ sạch sự tham cầu trong tâm. Cũng vậy, đối với sân hận, thụy miên, trạo cử và nghi ngờ, vị ấy đã đoạn trừ sạch, vượt thoát lậu hoặc, không còn do dự đối với các thiện pháp. Vị ấy đã trừ sạch sự nghi hoặc trong tâm.
[0444c05] Vị ấy đã đoạn trừ năm thứ ngăn che,9 những thứ khiến tâm nhiễm ô, khiến tuệ yếu kém, lìa dục, lìa pháp bất thiện xấu ác,... (cho đến) chứng đạt và an trú Thiền thứ tư.
Vị ấy đạt được định như thật, tâm thanh tịnh, không nhơ uế, không phiền muộn, nhu hòa và khéo an trụ, chứng đắc Tâm bất động, hướng về và chứng ngộ thần thông Lậu tận trí. Vị ấy biết như thật rằng: Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt và đây là con đường như thật đưa đến khổ diệt. Vị ấy cũng biết rõ như thật về phiền não, biết rõ nguyên nhân của phiền não, biết rõ sự diệt tận của phiền não và biết rõ con đường như thật đưa đến sự diệt tận phiền não. Vị ấy biết như vậy, hiểu rõ như vậy thì tâm giải thoát khỏi Dục lậu, tâm giải thoát khỏi Hữu lậu và tâm giải thoát khỏi Vô minh lậu. Khi đã giải thoát rồi, liền biết là giải thoát, vị ấy biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.”
Với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy, nên Như Lai được năm điều khen ngợi như pháp, không tranh cãi, đáng mến, đáng kính. Năm điều ấy là những gì?
Những chúng sanh sở dĩ thọ nhận khổ hay vui đều do nhân đã tạo ra ở đời trước. Nếu đúng như vậy thì trước đây Như Lai có tạo nghiệp vi diệu. Bởi do nguyên nhân đó, nên hôm nay Như Lai có sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát, đó là điều thứ nhất mà Như Lai được khen ngợi.
Lại nữa, chúng sanh sở dĩ thọ nhận sự khổ hay vui đều do nhân nhóm họp. Nếu đúng như vậy thì trước đây Như Lai có sự nhóm họp vi diệu. Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay Như Lai có sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát, đó là điều thứ hai mà Như Lai được khen ngợi.
Lại nữa, chúng sanh sở dĩ thọ nhận sự khổ hay vui đều do sanh mạng đời trước. Nếu đúng như vậy thì trước đây Như Lai có thân mạng vi diệu. Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay Như Lai có sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát, đó là điều thứ ba mà Như Lai được khen ngợi.
Lại nữa, chúng sanh sở dĩ thọ nhận sự khổ hay vui đều do thấy biết. Nếu đúng như vậy thì trước đây Như Lai có thấy biết vi diệu. Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay Như Lai có sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát, đó là điều thứ tư mà Như Lai được khen ngợi.
Lại nữa, chúng sanh sở dĩ thọ nhận khổ hay vui đều do đấng Chủ tể tạo tác. Nếu đúng như vậy thì trước đây Như Lai có Chủ tể vi diệu. Bởi do nguyên nhân đó nên hôm nay Như Lai có sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát, đó là điều thứ năm mà Như Lai được khen ngợi.
Đó là nghiệp vi diệu, sự nhóm họp vi diệu, sanh mạng đời trước vi diệu, thấy biết vi diệu và Chủ tể vi diệu vốn có của Như Lai, đạt được Chủ tể vi diệu tạo tác. Bởi do những nguyên nhân đó nên hôm nay Như Lai có được sự an lạc vô lậu của bậc Thánh, tịch tĩnh khinh an mà chứng quả an vui giải thoát. Do những điều này nên hôm nay Như Lai được năm điều khen ngợi.
[0445a05] Có năm nhân duyên khiến cho tâm sanh ra buồn khổ. Năm nhân duyên ấy là gì? Đó là người bị trói buộc bởi dâm dục, do dâm dục trói buộc nên tâm sanh ra buồn khổ. Cũng thế, do bị trói buộc bởi sân hận, thụy miên, trạo cử và nghi hoặc. Do nghi hoặc trói buộc nên tâm sanh ra buồn khổ. Đó gọi là năm nhân duyên khiến cho tâm sanh ra buồn khổ.
Có năm nhân duyên để diệt trừ tâm buồn khổ. Năm nhân duyên ấy là gì? Người bị dâm dục trói buộc, do bị dâm dục trói buộc nên tâm sanh ra buồn khổ, trừ được sự trói buộc của dâm dục thì buồn khổ liền bị tiêu diệt. Vì dâm dục trói buộc nên tâm sanh ra buồn khổ, ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền não, không nóng bức, thường trụ không biến đổi, đó là điều được biết bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh. Cũng thế, người bị sân hận, thụy miên, trạo cử và nghi hoặc trói buộc, do nghi hoặc trói buộc nên tâm sanh buồn khổ, trừ được sự trói buộc của nghi hoặc rồi thì buồn khổ liền diệt trừ. Vì nghi hoặc trói buộc nên sanh ra buồn khổ, ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền não, không nóng bức, thường trụ không biết đổi, là điều được biết bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh. Đó gọi là năm nhân duyên để tâm diệt trừ buồn khổ.
Lại nữa, còn có pháp khác ngay trong hiện tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền não, không nóng bức, thường trụ không biến đổi, là điều được biết bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh. Thế nào là còn có pháp khác ngay trong đời hiện tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền não, không nóng bức, thường trụ không biến đổi, là điều được biết bởi bậc Thánh, được thấy bởi bậc Thánh? Đó là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định, đó là tám. Đó gọi là còn có pháp khác ngay trong hiện tại mà chứng đắc cứu cánh, không phiền não, không nóng bức, thường trụ không biến đổi, là điều được thấy bởi bậc Thánh, được biết bởi bậc Thánh.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Ni-kiền kinh 尼乾經 (T.01. 0026.19. 0442b29). Tham chiếu: M. 101, Devadaha Sutta (Kinh Devadaha).
2 Nguyên tác: Thích-ky-sấu (釋羇瘦, Sakkesu). Số nhiều của Sakka, chỉ cho dân chúng họ Thích.
3 Thiên Ấp (天邑, Devadaha), thị trấn tên là Devadaha, dịch là Thiên Tý thành (天臂城) của người họ Thích, cũng là sanh quán thân mẫu của đức Thế Tôn và bà Pajāpatī Gotamī.
4 Kim y (金醫). M. 101, Devadaha Sutta (Kinh Devadaha): Bhisakko sallakatto (Y sĩ giải phẫu).
5 Nguyên tác: Đoạn (斷).
6 Thân Tử Ni-kiền (親子尼乾, Nigaṇṭha Nātaputta), giáo chủ của phái Ni-kiền tử còn gọi là Mahāvirā, sống cùng thời với đức Phật.
7 Tín, lạc, văn, niệm, kiến thiện quán (信,樂,聞,念,見善觀). Tín (信, saddhā) là niềm tin, lạc (樂, ruci) là hoan hỷ, văn (聞, anussava) là lắng nghe, niệm (念, ākārāparivitakka) là suy xét, kiến thiện quán (見善觀, diṭṭthinijhānakhanti) là khéo tiếp nhận các kiến giải.
8 Nguyên tác: Tham tứ (貪伺). Xem chú thích 2, kinh số 15, tr. 84.
9 Ngũ cái (五蓋, pañca nīvaraṇā): Tham dục (貪欲, kāmarāga), sân khuể (瞋恚, vyāpāda), thụy miên (睡眠, thinamiddha), trạo cử (掉舉, uddhacca) và nghi (疑, vicikicchā).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.