Viện Nghiên Cứu Phật Học

18. KINH SƯ TỬ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Tỳ-xá-ly, ngụ tại giảng đường Trùng Các,2 bên ao Di Hầu.3
Bấy giờ, số đông những người thuộc bộ tộc Ly-xa4 ở Tỳ-xá-ly nhóm họp ở giảng đường, một số ngợi khen Phật, một số ngợi khen Pháp và chúng Tỳ-kheo. Lúc ấy, đệ tử Ni-kiền là đại thần Sư Tử5 cũng ở trong chúng đó.
Bấy giờ, trước khi đến thăm hỏi đức Phật để cúng dường lễ bái, đại thần Sư Tử đi đến các vị Ni-kiền và thưa:
– Thưa quý ngài! Tôi muốn đến thăm hỏi Sa-môn Cù-đàm.
Lúc ấy, các Ni-kiền quở Sư Tử:
– Ông chớ đến thăm Sa-môn Cù-đàm! Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ “không nên làm”6 và cũng giảng “pháp không nên làm” đó cho người khác. Này Sư Tử! Nếu thăm hỏi người có tông chỉ “không nên làm” sẽ không được may mắn và cúng dường, lễ bái người đó cũng sẽ không được may mắn.
[0441a03] Số đông những người bộ tộc Ly-xa ở Tỳ-xá-ly kia nhóm họp lần thứ hai, rồi lần thứ ba nơi giảng đường, một số ngợi khen Phật, một số ngợi khen Pháp và chúng Tỳ-kheo. Lúc ấy, đệ tử Ni-kiền là đại thần Sư Tử cũng lần thứ hai, rồi lần thứ ba ở trong chúng đó.
Bấy giờ, đại thần Sư Tử cũ ng lần thứ hai, rồi lần thứ ba muốn đến thăm hỏi đức Phật để cúng dường lễ bái. Rồi đại thần Sư Tử không cáo từ các Ni-kiền nữa mà đi thẳng đến chỗ đức Phật, cùng chào hỏi xong, rồi ngồi sang một bên và thưa:
– Tôi nghe nói Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ “không nên làm” và cũng giảng “pháp không nên làm” đó cho người khác. Thưa Cù-đàm! Nếu có người nói như vầy: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không nên làm’ và cũng giảng ‘pháp không nên làm’ đó cho người khác” thì người đó không hủy báng Sa-môn Cù-đàm chăng? Người ấy có nói đúng sự thật chăng? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói pháp như pháp chăng? Đối với như pháp, người ấy không có sai lầ m và không bị chất vấn chăng?
Đức Phật bảo:
– Này Sư Tử ! Nếu có ai nói như vầy: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không nên làm’ và cũng giảng ‘pháp không nên làm’ đó cho người khác” thì người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói sự thật, người ấy nói đúng pháp, người ấy nói như pháp, đối với pháp không có sai lầm, cũng không bị chất vấn. Vì sao như vậy? Này Sư Tử! Có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không nên làm’ và cũng giảng ‘pháp không nên làm’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘nên làm’ và cũng giảng ‘pháp nên làm’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc nữa mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘đoạn diệt’7 và cũng giảng ‘pháp đoạn diệt’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Có một việc khác mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘nên khinh ghét’8 và cũng giảng ‘pháp nên khinh ghét’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc khác mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘Pháp và Luật’9 và cũng giảng ‘pháp về Pháp và Luật’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc khác nữa mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘khổ hạnh’10 và cũ ng giảng ‘pháp khổ hạnh’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không vào thai’11 và cũng giảng ‘pháp không vào thai’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Lại có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘an ổn’12 và cũng giảng ‘pháp an ổn’ đó cho người khác.”
[0441b05] Này Sư Tử! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không nên làm’ và cũ ng giảng ‘pháp không nên làm’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Ta nói tất cả hành vi xấu ác của thân là không nên làm, tất cả hành vi xấu ác của miệng và ý cũng không nên làm. Này Sư Tử! Nếu có vô lượng pháp ô uế, bất thiện tương tự như vậy thì đây là cội gốc của sự hiện hữu trong tương lai, là nhân của quả báo khổ não, nóng bức và của sanh-già-bệnh-chết. Này Sư Tử! Ta nói tất cả pháp ấy đề u không nên làm. Này Sư Tử! Đó là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không nên làm’ và cũng giảng ‘pháp không nên làm’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử, thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘nên làm’ và cũng giảng ‘pháp nên làm’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Ta nói những hành vi cao đẹp của thân là nên làm, những hành vi cao đẹp của miệng và ý cũng nên làm. Này Sư Tử! Nếu có vô lượng pháp lành tương tự như vậy thì chúng sẽ đem lại quả an lạc, quả báo an lạc, được sanh về các cõi lành và được sống lâu. Này Sư Tử! Ta nói tất cả những pháp này đề u nên làm. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc khác mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘nên làm’ và cũng giảng ‘pháp nên làm’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Thế nào là có một việc khác mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘đoạn diệt’ và cũng giảng ‘pháp đoạn diệt’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Tất cả hành vi xấu ác của thân nên đoạn diệt, tất cả hành vi xấu ác của miệng và ý cũng nên đoạn diệt. Này Sư Tử! Nếu có vô lượng pháp ô uế, bất thiện tương tự như vậy thì đó là cội gốc của sự hiện hữu trong tương lai, làm nhân của quả báo khổ não, nóng bức và của sanh-già-bệnh-chết. Này Sư Tử! Ta nói tất cả pháp đó nên đoạn diệt. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘đoạn diệt’ và cũng giảng ‘pháp đoạn diệt’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘đáng khinh ghét’ và cũng giảng ‘pháp đáng khinh ghét’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Ta nói tất cả hành vi xấu ác của thân đáng khinh ghét, tất cả hành vi xấu ác của miệng và ý cũng đáng khinh ghét. Này Sư Tử! Nếu có vô lượng pháp ô uế, bấ t thiện tương tự như vậy thì đó là cội gốc cho sự hiện hữu trong tương lai, làm nhân của quả báo khổ não, nóng bức và của sanh-già-bệnh-chết. Này Sư Tử! Những pháp ấy Ta nói đều đáng khinh ghét. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘đáng khinh ghét’ và cũng giảng ‘pháp đáng khinh ghét’ đó cho người khác.”
[0441c06] Này Sư Tử ! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘Pháp và Luật’ và cũng giảng ‘pháp về Pháp và Luật’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Vì muốn dứt tham, đoạn dâm mà Ta nói Pháp và Luật, vì muốn đoạn sân hận và ngu si mà Ta nói Pháp và Luật. Này Sư Tử! Nếu có vô lượng pháp ô uế, bất thiện tương tự như vậy thì đó là cội gốc của sự hiện hữu trong tương lai, là nhân của quả báo khổ não, nóng bức và của sanh-già-bệnh-chết. Này Sư Tử! Vì muốn đoạn trừ những điều ấy mà Ta nói Pháp và Luật. Này Sư Tử! Đó là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘Pháp và Luật’ và cũng giảng ‘pháp về Pháp và Luật’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘khổ hạnh’ và cũng giảng ‘pháp khổ hạnh’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Hoặc có Sa-môn hay Phạm chí lõa thể, không mặc y phục, hoặc dùng tay làm y phục, hoặc lấy lá làm y phục, hoặc lấy hạt châu làm y phục; hoặc không múc nước bằng bình, hoặc không múc nước bằng gáo; không ăn thức ăn xóc xỉa bằng dao, gậy; không ăn thức ăn lừa dối, không tự đến,13 không đến bởi lời nhắn,14 không đến bởi lời mời,15 không đến bởi lời chào đón,16 không ở lại dù được mời.17 Nếu có hai người đang ăn thì không ngồi ăn giữa hai người; không ăn tại nhà có người mang thai, không ăn tại nhà có nuôi chó, không ăn tại nhà có ruồi xanh bay đến; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống rượu ngâm,18 hoặc không uống gì cả, hoặc học theo hạnh không uống; hoặc ăn một miếng và cho một miếng là đủ; hoặc ăn hai, ba, bốn,... (cho đến) bảy miếng và cho bảy miếng là đủ; hoặc ăn trong một lần nhận được và cho một lầ n nhận được là đủ; hoặc ăn hai, ba, bốn,... (cho đến) bảy lần nhận được và cho bảy lần nhận được là đủ; hoặc ngày ăn một lần và cho một lầ n ăn là đủ; hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày, nửa tháng, hay một tháng ăn một lầ n và cho rằng ăn một lần là đủ; hoặc ăn rau cỏ, hoặc ăn lúa cỏ, hoặc ăn lúa gạo dùng để cúng tế, hoặc ăn cám, hoặc ăn gạo đầu-đầu-la,19 hoặc ăn thức ăn thô, hoặc đến nơi nhàn vắng, nương nơi nhàn vắng; hoặc ăn rễ, hoặc ăn trái, hoặc ăn trái tự rụng xuống; hoặc mặc áo khâu đủ loại vải, hoặc mặc áo lông, hoặc mặc áo bằng vải thô chưa nhuộm màu,20 hoặc mặc áo vải thô bằng lông chưa nhuộm màu; hoặc mặc bằng da chưa thuộc, hoặc mặc da có xuyên lỗ, hoặc mặc da xuyên nhiều lỗ; hoặc để tóc xõa, hoặc để tóc bện, hoặc để tóc vừa xõa vừa bện; hoặc chỉ cạo tóc, hoặc chỉ cạo râu, hoặc cạo cả râu tóc; hoặc chỉ nhổ tóc, hoặc chỉ nhổ râu, hoặc nhổ cả râu tóc; hoặc chỉ đứng thẳng mà không hề ngồi, hoặc đi chồm hổm; hoặc nằm trên gai, lấy gai làm giường; hoặc nằm trên trái, lấy trái làm giường; hoặc thờ nước, ngày đêm lấy tay vọc; hoặc thờ lửa, ngày đêm đốt lên; hoặc thờ mặt trời, mặt trăng, thờ đấng Đại Tự Tại21 và chắp tay hướng về những thứ tôn thờ. Cứ mãi như vậy nên họ phải chịu vô lượng khổ nhọc để học hạnh não phiền lao khổ.
Này Sư Tử! Có những khổ hạnh như vậy, chứ Ta không nói là không có. Này Sư Tử! Tuy nhiên, những khổ hạnh như vậy là những nghiệp thấp hèn, rất lao nhọc quẫn bách, là những việc làm của hàng phàm phu, không phải Thánh đạo. Này Sư Tử! Đối với các pháp khổ hạnh xấu ác ấy, nếu có Sa-môn hay Phạm chí nào biết đoạn diệt sạch, nhổ sạch tất cả gốc rễ của nó cho đến rốt cùng, không cho sanh nữa; Ta nói rằng người nào làm được như thế mới gọi là khổ hạnh. Này Sư Tử! Đối với các pháp khổ hạnh xấu ác ấy, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã biết đoạn diệt sạch, nhổ sạch tất cả gốc rễ của nó cho đến rốt cùng, không cho sanh nữa. Do đó, Ta là người khổ hạnh. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘khổ hạnh’ và cũng giảng ‘pháp khổ hạnh’ đó cho người khác.”
[0442a19] Này Sư Tử! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không vào thai’ và cũng giảng ‘pháp không vào thai’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Đối với sự thai sanh trong tương lai, nếu có Sa-môn hay Phạm chí biết đoạn diệt sạch, nhổ sạch tất cả gốc rễ của nó cho đến rốt cùng, không cho sanh nữa; Ta nói rằng, người đó không còn vào thai. Này Sử Tử! Đối với thai sanh trong tương lai, bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác đã biết đoạn diệt sạch, nhổ sạch tất cả gốc rễ của nó cho đến rốt cùng, không cho sanh nữa. Do đó, Ta không còn vào thai nữa. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘không vào thai’ và cũng giảng ‘pháp không vào thai’ đó cho người khác.”
Này Sư Tử! Thế nào là có một việc mà nhân việc đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘an ổn’ và cũng giảng ‘pháp an ổn’ đó cho người khác?” Này Sư Tử! Sở dĩ người thiện nam cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, với niềm tin tha thiết, rời xa gia đình, sống không gia đình, làm người học đạo là chỉ mong thành tựu Phạm hạnh Vô thượng, ngay trong đời này tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú, biết như thật rằng: “Sanh tử đã chấm dứt, Phạm hạnh đã thành tựu, việc cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa.” Ta tự an ổn và cũng an ổn cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắ c và ưu-bà-di khác. Ta đã an ổn cho họ, làm cho những chúng sanh bị hệ luỵ trong sự sanh được giải thoát khỏi sự sanh; chúng sanh bị hệ luỵ trong già, bệnh, chết, buồn sầu, nhiễm ô, được giải thoát khỏi sự phiền muộn, nhiễm ô ấy. Này Sư Tử! Đó gọi là có một việc mà nhân việc đó đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: “Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ ‘an ổn’ và cũng giảng ‘pháp an ổn’ đó cho người khác.”
[0442b10] Đại thần Sư Tử bạch Phật:
– Bạch Cù-đàm! Con đã biết. Bạch Thiện Thệ! Con đã hiểu. Bạch Cù-đàm! Như người có mắt sáng, như dựng lại những gì đã ngã, như mở ra những gì bị đóng kín, như người mê được khai ngộ, như nhà tối gặp ánh sáng, để những ai có mắt liền thấy sắc, Sa-môn Cù-đàm cũ ng lại như vậy, dùng vô lượng phương tiện để thuyết pháp cho con, bày rõ nghĩa lý tùy theo các phương pháp hành trì.
Bạch Thế Tôn! Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi xin Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Kể từ nay, con xin trọn đời quy y cho đến khi lâm chung!
Bạch Thế Tôn! Ví như có người nuôi con ngựa chưa thuần phục mà mong được sự lợi ích thì chỉ uổng công tốn sức mà chẳng được lợi ích gì cả. Bạch Thế Tôn! Con cũng như vậy, các Ni-kiền ngu si kia không khéo thông hiểu, không thể biết mình; con không nhận biết được đâu là ruộng tốt, lại không tự suy xét, cứ mải mê thờ kính cúng dường, lễ bái phụng sự để mong được lợi ích, chung cuộc cũng chỉ khổ nhọc hoài công vô ích. Bạch Thế Tôn! Nay con lần nữa xin quy y Phật, xin quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi xin đức Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Kể từ nay, con xin trọn đời quy y cho đến khi lâm chung!
Bạch Thế Tôn! Con vốn không hiểu biết nên đặt niềm tin và sự cung kính với các Ni-kiền ngu si kia, từ nay xin chấm dứt. Vì sao như vậy? Vì họ đã lừa dối con. Bạch Thế Tôn! Nay con lần thứ ba xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo, cúi mong Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Kể từ nay, con xin trọn đời quy y cho đến khi lâm chung!
Đức Phật dạy như vậy, đại thần Sư Tử và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích:
1 Quyển 4. Nguyên tác: Sư Tử kinh 師子經 (T.01. 0026.18. 0440c22). Tham chiếu: A. 8.12 - IV. 179; Mv. VII. 31.10-11.
2 Cao Lâu đài quán (高樓臺觀, Kūṭāgārasālā) còn gọi là Trùng Các giảng đường (重閣講堂).
3 Di Hầu thủy biên (獼猴水邊), tên riêng của một hồ nước. Hồ này bên cạnh vườn nữ cư sĩ Am-la ở thành Tỳ-xá-ly thuộc Trung Ấn. Theo Đại Đường Tây Vức ký 大唐西域記 (T.51. 2087.7. 0908b17), hồ này do đàn khỉ đào để cúng Phật, ở đây còn có giảng đường Trùng Các.
4 Nguyên tác: Lệ-xế (麗掣, Licchavi), còn được viết là Ly-xa (離車) hoặc Lê-xa (梨車).
5 Sư Tử đại thần (師子大臣), “Sư Tử” là dịch nghĩa của Sīha. Theo A. 8.12 - IV. 179: Tướng quân Sīha. Tứ phần luật 四分律 (T.22. 1428.42. 871b10): Tư-ha tướng quân (私呵將軍).
6 Bất khả tác (不可作) tức là Vô tác luận (無作論, Akiriyavāda). Đây là chủ thuyết của Phú-lan-na Ca-diếp (Pūraṇa Kassapa), cho rằng mọi hành vi tội lỗi không dẫn đến nghiệp báo. Tham chiếu: Sa-môn quả kinh 沙門果經 (T.01. 0001.27. 0108a23-b05): “Đại vương! Nếu tự mình làm hoặc bảo người làm như đâm, chém, giết hại, nấu, nướng, cắt, xẻ, quấy phá chúng sanh, khiến cho chúng sanh đau buồn, than khóc; hoặc sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, trèo tường trộm cắp, phóng hỏa thiêu đốt, chặn đường cưỡng đoạt, này Đại vương, nếu làm những việc như thế thì chưa phải là ác. Đại vương! Nếu dùng kiếm bén lóc thịt tất cả chúng sanh rồi chất thành đống đầy khắp thế gian, hành động như vậy không phải là ác, cũng không có tội báo. Nếu đến bờ phía Nam sông Hằng lóc thịt tất cả chúng sanh thì cũng không có quả báo xấu ác. Hoặc có người đến phía Bắc sông Hằng mở hội bố thí lớn, bố thí cho tất cả chúng sanh, khiến cho họ hưởng lợi lạc như nhau thì cũng không có phước báo gì cả.” Ở đây, để tạo nên sự tương đồng trong nhận thức của Tướng quân Sīha, đức Phật đã thuận thứ hướng dẫn rằng, Ngài cũng có pháp “đoạn diệt” như thế và đã đưa ra một định nghĩa mới về pháp đoạn diệt ở đoạn kinh sau. Các pháp tiếp theo như khinh ghét, pháp luật, khổ hạnh… cũng được đức Phật giới thiệu theo phương cách này.
7 Đoạn diệt (斷滅). Tham chiếu: A. 8.12 - IV. 179: Ucchedavāda, tức Đoạn kiến luận, chủ thuyết này do Ajita Kesakambali chủ trương. Tham chiếu: Sa-môn quả kinh 沙門果經 (T.01. 0001.27. 0108b26-c01): Con người vốn do 4 đại hợp thành, đến lúc mạng chung thì đất trở về đất, nước trở về nước, lửa trở về lửa, gió trở về gió, tất cả đều phải tan rã, các căn phải trở về hư không. Khi con người lâm chung, người ta khiêng tử thi bỏ ngoài bãi tha ma, thiêu cháy xương cốt thành màu như chim bồ câu, hoặc biến thành tro đất, bất luận kẻ ngu hay người trí, đến lúc mạng chung cũng đều bị tan rã, là pháp đoạn diệt.
8 Khả ố (可惡, jegucchī).
9 Pháp (法, Dhamma) và Luật (律, Vinaya).
10 Khổ hạnh (苦行, tapassī).
11 Bất nhập ư thai (不入於胎, apagabbho).
12 An ẩn (安隱, assāsaka).
13 Bất tự vãng (不自往): Không nhận được sự mời thỉnh nên không đi.
14 Bất di tín (不遣信): Thí chủ sai người gởi thư mời nhưng vẫn không đi.
15 Bất lai tôn (不来尊), thể phủ định của “lai thử” (来此), một trong 3 cách mời của thí chủ: “lai thử”, “thiện tai”, “trụ thử.” Lai thử (来此! 尊者): Xin mời đến đây, Tôn giả!
16 Bất thiện tôn (不善尊). Tham chiếu: Thiện tai, Tôn giả (善哉!尊者): Lành thay! Tôn giả.
17 Bất trụ tôn 不住尊. Tham chiếu: Trụ thử, Tôn giả (住此!尊者): Hãy ở lại đây! Tôn giả.
18 Ố thuỷ (惡水, thusodaka): Rượu ngâm thuốc.
19 Đầu-đầu-la (頭頭邏, daddula).
20 Đầu-xá y (頭舍衣, dussa): Vải thô chưa nhuộm màu.
21 Nguyên tác: Tôn Hựu Đại Đức (尊祐大德).

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.