Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa Na-lan-đà,2 ngụ trong rừng xoài, thuộc thôn Tường.3
Bấy giờ, vị trời A-tư-la có người con tên là Già-di-ni,4 sắc tướng uy nghi, chói sáng rực rỡ. Lúc trời gần sáng, ông đi đến chỗ Phật, cúi lạy chân Ngài rồi ngồi sang một bên.
Già-di-ni, con của vị trời A-tư-la, bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn! Những Phạm chí tự cao,5 phụng thờ nhiều vị trời. Họ bảo rằng, nếu có chúng sanh nào qua đời thì họ có thể làm cho người đó tự tại qua lại các cõi lành, sanh lên cõi trời. Đức Thế Tôn là đấng Pháp Chủ, mong Ngài làm cho chúng sanh sau khi qua đời được đến các cõi lành, sanh lên cõi trời.
[0440a02] Đức Phật dạy:
– Này Già-di-ni! Nay Ta hỏi, ông hãy tùy theo sự hiểu biết của mình mà trả lời. Này Già-di-ni! Ý ông nghĩ thế nào? Nếu trong thôn ấp có những người nam hay người nữ biếng nhác, không tinh tấn, lại thực hành các pháp xấu ác, gây tạo đủ mười loại nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến; sau khi những người ấy qua đời, nếu có một số người đến chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin, nói lời như vầy: “Những người nam hay người nữ kia, biếng nhác không siêng năng, lại thực hành các pháp xấu ác, gây tạo đủ mười loại nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến; nhân điều này, duyên điều này nên sau khi qua đời, các vị nhất định được đến các cõi lành, được sanh lên cõi trời.” Như vậy, này Già-di-ni! Những người nam hay người nữ biếng nhác, không siêng năng, lại thực hành các pháp xấu ác, gây tạo đủ mười loại nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến kia, lẽ nào vì được một số người đến chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin, nhân điều này, duyên điều này mà sau khi qua đời, những người kia lại được đến các cõi lành, được sanh lên cõi trời chăng?
Già-di-ni thưa:
– Không thể được, bạch đức Thế Tôn!
Đức Phật khen ngợi:
– Đúng thế, này Già-di-ni! Vì sao như thế? Những người nam hay người nữ biếng nhác, không siêng năng, lại thực hành các pháp xấu ác, gây tạo đủ mười loại nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến kia, nếu được một số người đến chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin; nhân điều này, duyên điều này mà sau khi qua đời, những người ấy lại được đến các cõi lành, được sanh lên cõi trời thì việc này không bao giờ xảy ra.
Này Già-di-ni! Ví như cách thôn không xa có vực nước sâu, có người ôm một tảng đá lớn và nặng rồi ném vào trong nước. Nếu có một số người đến chắp tay hướng về tảng đá mà khẩn thiết cầu xin, nói lời như vầy: “Mong tảng đá nổi lên.” Này Già-di-ni! Ý ông nghĩ thế nào? Tảng đá lớn nặng đó lẽ nào vì được một số người chắp tay hướng về tảng đá khẩn thiết cầu xin thì nhân việc này, duyên việc này mà tảng đá sẽ nổi lên chăng?
Già-di-ni thưa:
– Không thể được, bạch đức Thế Tôn!
– Cũng vậy, này Già-di-ni! Những người nam hay người nữ biếng nhác, không tinh tấn, lại thực hành các pháp xấu ác, gây tạo đủ mười loại nghiệp bất thiện như sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến kia, nếu được một số người đến chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin; nhân điều này, duyên điều này mà sau khi qua đời, những người ấy được đến các cõi lành, được sanh lên cõi trời thì điều này không thể xảy ra. Vì sao như vậy? Bởi vì mười loại nghiệp bất thiện này vốn tối tăm và có quả báo tối tăm, đương nhiên đi thẳng xuống, nhất định đưa họ đến các cõi ác.
[0440b02] Này Già-di-ni! Ý ông nghĩ thế nào? Nếu trong thôn ấp có người nam hay người nữ tinh tấn siêng tu, lại thực hành các pháp cao đẹp, thành tựu mười nghiệp lành như xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, đạt được chánh kiến. Sau khi người ấy qua đời, nếu có một số người đến, chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin, nói lời như vầy: “Này những người nam hay người nữ kia, các vị đã tinh tấn siêng tu, lại thực hành các pháp cao đẹp, thành tựu mười nghiệp lành như xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, đạt được chánh kiến. Các người nhân việc này, duyên việc này mà sau khi qua đời, hãy đi đến các cõi ác hay bị đọa vào địa ngục.” Này Già-di-ni! Ý ông nghĩ thế nào? Những người nam hay người nữ tinh tấn siêng tu, lại thực hành các pháp cao đẹp, thành tựu mười nghiệp lành như xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, đạt được chánh kiến kia, lẽ nào vì bị một số người đến chắp tay hướng về họ khẩn thiết cầu xin; nhân việc này, duyên việc này mà sau khi qua đời, những người kia phải đi đến các cõi ác hay bị đọa vào địa ngục chăng?
Già-di-ni thưa:
– Không thể được, bạch đức Thế Tôn!
Đức Phật khen ngợi:
– Đúng thế, Già-di-ni. Vì sao như vậy? Này Già-di-ni! Những người nam hay người nữ đó tinh tấn siêng tu, lại thực hành các pháp cao đẹp, thành tựu mười nghiệp lành như xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, đạt được chánh kiến, nếu vì một số người chắp tay hướng về họ mà khẩn thiết cầu xin; nhân việc này, duyên việc này mà sau khi qua đời, họ phải đi đến các cõi ác hay bị đọa vào địa ngục thì điều này không bao giờ xảy ra. Vì sao như vậy? Này Già-di-ni! Bởi vì mười nghiệp lành này vốn trắng sạch và có quả báo trắng sạch, đương nhiên hướng lên trên, nhất định đưa đến các cõi lành.
Này Già-di-ni! Ví như cách thôn không xa có vực nước sâu, có người ném hũ dầu bơ vào trong nước, hũ sành bị vỡ, mảnh sành chìm xuống dưới còn dầu bơ nổi lên trên. Cũng vậy, này Già-di-ni! Những người nam hay người nữ đó tinh tấn siêng tu, lại thực hành các pháp cao đẹp, thành tựu mười nghiệp lành như xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, không tà dâm, không nói dối,... (cho đến) xa lìa tà kiến, đoạn trừ tà kiến, đạt được chánh kiến. Sau khi họ qua đời, thân thể vốn là sắc thô nặng, thuộc về bốn đại, do cha mẹ sanh, nuôi lớn bằng cơm áo, nâng đỡ khi ngồi nằm, chăm sóc bằng xoa bóp, tắm gội, là pháp tan hoại, là pháp diệt tận, là pháp phải lìa tan. Thân mạng ấy sau khi chết đi, hoặc bị chim quạ rỉa mổ, hoặc bị hùm sói cắn xé, hoặc bị thiêu đốt, hoặc bị vùi chôn, tất cả trở thành cát bụi; nhưng tâm, ý và thức của người đó thường được huân tập bởi tín tâm, bởi tinh tấn, nghe nhiều, bố thí và trí tuệ; nhân việc này, duyên việc này mà người ấy đương nhiên hướng lên trên, sanh vào các cõi lành. Này Già-di-ni! Đối với việc sát sanh, người ấy đã xa lìa sát sanh, đoạn trừ sát sanh, đó là con đường an vui,6 con đường thăng tiến, con đường dẫn đến các cõi lành.
Này Già-di-ni! Cũng vậy, đối với việc trộm cướp, tà dâm, nói dối,... (cho đến) tà kiến, người ấy đã xa lìa tà kiến, đạt được chánh kiến, đó là con đường an vui, con đường thăng tiến, con đường dẫn đến các cõi lành.
Này Già-di-ni! Lại có con đường an vui, con đường thăng tiến, con đường dẫn đến các cõi lành. Thế nào là lại có con đường an vui, con đường thăng tiến, con đường dẫn đến các cõi lành? Đó là Thánh đạo tám chi từ chánh kiến,... (cho đến) chánh định, đó là tám. Này Già-di-ni! Đó là con đường an vui, con đường thăng tiến, con đường dẫn đến các cõi lành.
[0440c12] Đức Phật dạy như vậy, Già-di-ni và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.7
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Già-di-ni kinh 伽彌尼經 (T.01. 0026.17. 0439c23). Tham chiếu: S. 42.6 - IV. 311.
2 Na-nan-đà viên (那難陀園). Bản Tống, Nguyên, Minh ghi Na-nan-đà quốc (那難陀國, Nāḷandā).
3 Tường thôn Nại Lâm (牆村柰林, Pāvārika ambavana). Pāvārika là tên của triệu phú đã cúng dường vườn xoài; vườn này được gọi là Pāvārika ambavana.
4 Nguyên tác: A-tư-la thiên hữu tử danh Già-di-ni (阿私羅天有子名伽彌尼). S. 42.6 - IV. 311: Asibandhakaputta Gāmaṇi (thôn trưởng Asibandhakaputta).
5 Phạm chí tự cao (梵志自高) chỉ cho vị Phạm chí kiêu ngạo, ngã mạn. Theo S. 7.15 - I. 381: Có một vị Bà-la-môn với tính tình kiêu mạn, nên được gọi là Kiêu Mạn Bà-la-môn (Mānatthaddho Brāhmaṇo). Trong khi đó, ở S. 42.6 - IV. 311 chỉ ghi là Brāhmaṇā pacchābhūmakā (những người Bà-la-môn ở phương Tây).
6 Viên quán chi đạo (園觀之道). Viên quán (園觀, uyyāna): Vườn hoa, cũng có nghĩa là nơi vui chơi an ổn.
7 Bản Hán, hết quyển 3.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.