Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật cùng đại chúng Tỳ-kheo từ Già-lam viên2 đến Ky-xá-tử,3 ngụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa,4 phía Bắc thôn Ky-xá-tử.
Bấy giờ, dân chúng Già-lam ở Ky-xá-tử nghe tin Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng họ Thích đã từ giã dòng họ Thích, xuất gia học đạo, đang du hóa tại Già-lam viên, nay cùng đại chúng Tỳ-kheo đến Ky-xá-tử này, ngụ trong rừng Thi-nhiếp-hòa, ở phía Bắc của thôn. Sa-môn Cù-đàm có tiếng tăm lớn, được truyền tụng khắp mười phương rằng: “Sa-môn Cù-đàm là bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ở trong thế gian này, giữa Thiên, Ma vương, Phạm thiên, Sa-môn, Phạm chí, từ loài người cho đến chúng trời, vị ấy tự biết tự ngộ, tự thân chứng đắc, thành tựu và an trú. Pháp mà vị ấy thuyết phần đầu thiện, phần giữa thiện và phần cuối cũng thiện, đầy đủ cả nghĩa và văn, hoàn toàn thanh tịnh, hiển bày Phạm hạnh. Nếu gặp được đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác để cung kính lễ bái, cúng dường, phụng sự thì sẽ đạt được nhiều lợi ích. Chúng ta hãy cùng nhau đến gặp Sa-môn Cù-đàm để lễ bái, phụng sự và cúng dường.”
Nghe như vậy rồi, những người Già-lam ở Ky-xá-tử đều dẫn theo quyến thuộc của mình rời Ky-xá-tử đi về phía Bắc, đến rừng Thi-nhiếp-hòa vì muốn gặp Phật để lễ bái, phụng sự và cúng dường.
Khi đến chỗ Phật ngụ, những người Già-lam ấy, có người cúi đầu lạy chân Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người thưa hỏi Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người chắp tay hướng Phật rồi ngồi sang một bên, hoặc có người từ xa thấy Phật rồi lặng yên ngồi xuống. Khi những người Già-lam đều đã ngồi yên, đức Phật thuyết pháp cho họ, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ.5 Sau khi dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp, khiến họ được mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ rồi, đức Phật ngồi yên lặng.
[0438c05] Bấy giờ, sau khi được Phật thuyết pháp, mở bày, dạy bảo, khích lệ, khiến được hoan hỷ rồi, những người Già-lam cùng đứng dậy, sửa áo bày vai bên phải, chắp tay hướng Phật rồi thưa:
– Thưa Cù-đàm! Có vị Sa-môn Phạm chí đi đến Già-lam chỉ tự khen ngợi thấy biết của mình mà chê bai sự thấy biết của người khác. Thưa Cù-đàm! Lại có vị Sa-môn Phạm chí đi đến Già-lam cũng chỉ tự khen ngợi thấy biết của mình mà chê bai sự thấy biết của người khác. Thưa Cù-đàm! Nghe như vậy rồi, chúng tôi liền sanh nghi ngờ: “Những vị Sa-môn Phạm chí ấy, vị nào là chân thật? Vị nào là hư dối?”
Đức Phật dạy:
– Này các người Già-lam! Các vị chớ sanh nghi ngờ. Vì sao như vậy? Vì do nghi ngờ nên sanh do dự. Này các người Già-lam! Các vị vốn không có trí tuệ thanh tịnh để biết là có đời sau hay không có đời sau. Này các người Già-lam! Các vị cũng không có trí tuệ thanh tịnh để biết những việc mình đã làm là có tội hay không có tội. Này các người Già-lam! Nên biết các nghiệp có ba loại, do sự tích tập từ xưa mà có. Là ba nghiệp nào? Này các người Già-lam! Đó là, tham là nhân huân tập vốn có của các nghiệp. Này các người Già-lam! Sân và si là nhân huân tập vốn có của các nghiệp. Này các người Già-lam! Người có tham thì bị tham che lấp, tâm không biết nhàm chán, không biết đủ, hoặc sát sanh, hoặc trộm cướp, hoặc hành tà dâm, hoặc biết rồi nói dối, hoặc lại uống rượu. Này các người Già-lam! Người có sân thì bị sân che lấp, tâm không biết nhàm chán, không biết đủ, hoặc sát sanh, hoặc trộm cướp, hoặc hành tà dâm, hoặc biết rồi nói dối, hoặc lại uống rượu. Này các người Già-lam! Người có si thì bị si che lấp, tâm không biết nhàm chán, không biết đủ, hoặc sát sanh, hoặc trộm cướp, hoặc hành tà dâm, hoặc biết rồi nói dối, hoặc lại uống rượu.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa sát sanh, từ bỏ sát sanh, vứt bỏ dao gậy, biết xấu hổ với mình, tự thẹn với người, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến loài côn trùng, đối với việc sát sanh, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa trộm cướp, từ bỏ trộm cướp, chỉ lấy những gì được cho, vui trong việc lấy những gì đã được cho, thường ưa thích bố thí, hoan hỷ không bỏn xẻn, không mong người nhận báo đáp, đối với việc trộm cướp, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự phi Phạm hạnh, từ bỏ những việc phi Phạm hạnh, siêng tu Phạm hạnh, siêng tu những hạnh cao đẹp, thanh tịnh không cấu uế, lìa dục, đoạn dâm, đối với việc phi Phạm hạnh, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa sự nói dối, từ bỏ sự nói dối, nói lời chân thật, ưa thích sự chân thật, an trụ không lay chuyển nơi chân thật. Tất cả những điều vị ấy nói đều đáng tin, không dối gạt người đời, đối với sự nói dối, tâm vị ấy đã trừ sạch.
[0439a05] Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa lời nói gây chia rẽ, từ bỏ lời nói gây chia rẽ, thực hành hạnh không nói lời gây chia rẽ, không phá hoại kẻ khác, không đem lời người này nói lại với người kia vì muốn phá hoại người này, không đem lời người kia nói lại với người này vì muốn phá hoại người kia, với những người chia rẽ nhau thì muốn gắn kết lại, họ gắn kết thì hoan hỷ; không kết bè kết đảng, không ưa thích việc kết bè kết đảng, không khen ngợi việc kết bè kết đảng, đối với việc nói lời gây chia rẽ, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa lời nói thô ác, từ bỏ lời nói thô ác. Nếu những lời được nói ra với khẩu khí chia lìa hay thô bạo, giọng điệu hung dữ trái tai, làm mọi người không vui, làm mọi người không ưa, làm cho người khác đau khổ, làm cho họ áy náy không yên, vị ấy đều đã từ bỏ những lời nói như thế. Nếu vị ấy có nói điều gì cũng hòa nhã dịu dàng, êm tai, đi vào lòng người, đáng thích đáng yêu, làm cho người nghe an lạc, giọng điệu đầy đủ rõ ràng, không khiến cho người nghe kinh sợ mà làm cho họ được an lòng. Vị ấy nói ra những lời như thế, đối với việc nói lời thô ác, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa lời nói thêu dệt, từ bỏ lời nói thêu dệt, thường nói đúng lúc, nói đúng sự thật, nói về pháp, nói về nghĩa, nói về tịch tĩnh, ưa thích nói về tịch tĩnh, nói những việc thuận thời, thích nghi, khéo dạy dỗ, khéo quở trách, đối với việc nói lời thêu dệt, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa tham lam, từ bỏ tham lam, không ôm lòng tranh giành, thấy tài vật và những vật dụng sinh sống của người khác đều không khởi lòng tham, muốn giành về mình, đối với việc tham lam, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa sân hận, từ bỏ sân hận, biết xấu hổ với mình, biết tự thẹn với người, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến loài côn trùng, đối với việc sân hận ganh ghét, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn xa lìa tà kiến, từ bỏ tà kiến, thực hành chánh kiến, không hề điên đảo. Vị ấy thấy như vầy và nói như vầy: “Có bố thí, có tế tự,6 có chú nguyện,7 có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời sau, có cha có mẹ, thế gian có bậc chân nhân đi đến các cõi lành, có bậc chánh hạnh hay chánh hướng ở đời này hay đời sau để tự mình chứng biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú”, đối với tà kiến, tâm vị ấy đã trừ sạch.
Này các người Già-lam! Như vậy, vị Thánh đệ tử đa văn thành tựu nghiệp thanh tịnh nơi thân, thành tựu nghiệp thanh tịnh nơi miệng và ý, xa lìa sân hận, xa lìa não hại, trừ bỏ hôn trầm, không trạo cử, cống cao, đoạn trừ nghi ngờ, vượt qua kiêu mạn, chánh niệm tỉnh giác, không còn ngu si. Tâm vị ấy tương ứng với tâm từ, đầy khắp một phương, thành tựu và an trú. Cũng vậy, tâm vị ấy tương ứng với tâm từ trong hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, đầy khắp tất cả, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rất mực rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Cũng vậy, tâm vị ấy tương ứng với tâm bi, tâm hỷ và tâm xả, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rất mực rộng lớn, khéo tu tập vô lượng, đầy khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú.
[0439b07] Cũng vậy, này các người Già-lam! Tâm của vị Thánh đệ tử đa văn không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, liền đạt được bốn trú xứ an ổn. Bốn trú xứ là gì? Với quan niệm: “Có đời này và đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác, khi đã có được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi, ta thọ trì đầy đủ thì sau khi qua đời nhất định sanh vào các cõi lành, cho đến sanh lên các cõi trời.” Như vậy, này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ nhất.
Lại nữa, này các người Già-lam! Với quan niệm: “Không có đời này và đời sau, không có quả báo của nghiệp thiện ác, như vậy ngay trong đời này, không phải vì điều này mà ta bị người khác chê bai. Vì chỉ có những điều mà bậc chánh trí ngợi khen thì người tinh tấn, người có chánh kiến cũng khẳng định nó tồn tại.” Như vậy, này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ hai.
Lại nữa, này các người Già-lam! Với quan niệm: “Nếu có tạo tác thì nhất định không làm điều ác, vì ta không nhớ nghĩ điều ác. Vì sao như vậy? Vì chính mình không làm ác thì khổ do đâu sanh ra?” Như vậy, này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ ba.
Lại nữa, này các người Già-lam! Với quan niệm: “Nếu có tạo tác thì nhất định ta không làm ác, ta không xâm hại thế gian, dù đó là kẻ sợ hãi hay không sợ hãi, thường nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không não hại chúng sanh, tâm không vẩn đục mà hân hoan vui thích.” Như vậy, này các người Già-lam! Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ tư.
Như vậy, này các người Già-lam! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được bốn trú xứ an ổn.
Những người Già-lam bạch đức Thế Tôn:
– Thật như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại sẽ đạt được bốn trú xứ an ổn. Bốn trú xứ là gì? Với quan niệm: “Nếu có đời này hay đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác, khi đã có được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi, ta thọ trì đầy đủ thì sau khi qua đời chắc chắn sanh vào các cõi lành, cho đến sanh lên các cõi trời.” Như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ nhất.
Lại nữa, thưa Cù-đàm! Với quan niệm: “Nếu không có đời này và đời sau, không có quả báo của nghiệp thiện và ác, ngay trong đời này, không phải vì điều này mà ta bị người khác chê bai. Vì chỉ có những điều mà bậc chánh trí ngợi khen thì người tinh tấn, người có chánh kiến cũng khẳng định nó tồn tại.” Như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ hai.
Lại nữa, thưa Cù-đàm! Với quan niệm: “Nếu có tạo tác thì nhất định ta không làm ác. Vì sao như vậy? Vì chính mình không làm ác thì khổ do đâu sanh ra?” Như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ ba.
Lại nữa, thưa Cù-đàm! Với quan niệm: “Nếu có tạo tác thì nhất định ta không làm ác, ta không xâm hại thế gian, dù đó là kẻ sợ hãi hay không sợ hãi, thường nên thương xót tất cả thế gian, tâm ta không não hại chúng sanh, tâm không vẩn đục mà hân hoan vui thích.” Như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được trú xứ an ổn thứ tư.
Như vậy, thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, đó gọi là đạt được bốn trú xứ an ổn.
Thưa Cù-đàm! Chúng con đã biết. Bạch Thiện Thệ! Chúng con đã hiểu. Bạch đức Thế Tôn! Chúng con nguyện trọn đời quy y Phật, quy y Pháp và đại chúng Tỳ-kheo, cúi xin đức Thế Tôn chấp nhận cho chúng con làm ưu-bà-tắc. Kể từ nay, chúng con xin quy y trọn đời, cho đến khi lâm chung!
[0439c20] Đức Phật dạy như vậy, tất cả những người Già-lam và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Già-lam kinh 伽藍經 (T.01. 0026.16. 0438b15). Tham chiếu: A. 3.65 - I. 188.
2 Già-lam viên (伽藍園, Kālāma). Các bản Tống, Nguyên, Minh đều ghi Già-lam quốc (伽藍國). Tham chiếu: A. 3.65 - I. 188: Tại thị trấn của những người Kālāma tên là Kesaputta, thuộc nước Kosala.
3 Ky-xá-tử (羈舍子, Kesaputta).
4 Thi-nhiếp-hòa lâm (尸攝惒林, Siṃsapāvana) còn gọi là Thân-thứ lâm (申恕林).
5 Khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (勸發,渴仰,成就歡喜). Xem chú thích số 7, kinh số 9, tr. 48.
6 Hữu trai (有齋): Có tế tự.
7 Chú thuyết (呪說): Chú nguyện sau khi thọ nhận vật thực, có sự hồi hướng công đức.
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.