Viện Nghiên Cứu Phật Học

 

15. KINH TƯ1

Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa nước Xá-vệ, ngụ tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
– Nếu người nào cố ý tạo nghiệp, Như Lai nói rằng người ấy nhất định phải thọ nhận quả báo, hoặc thọ nhận trong đời này, hoặc thọ nhận trong đời sau. Nếu người nào không cố ý tạo nghiệp, Như Lai nói rằng người ấy không nhất định phải thọ nhận quả báo.
Ở đây, thân cố ý tạo ba nghiệp bất thiện, đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ; miệng có bốn nghiệp bất thiện và ý có ba nghiệp bất thiện đều đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ.
[0437c01] Những gì là ba nghiệp bất thiện do thân cố ý tạo ra, đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ? Một là, sát sanh, cực ác, khát máu, cứ muốn sát hại, không thương xót chúng sanh cho đến loài côn trùng. Hai là, không cho mà lấy, tham đắm tài vật của kẻ khác, chiếm đoạt với tâm trộm cướp. Ba là, tà dâm, nghĩa là với những cô gái có cha gìn giữ, hoặc được mẹ gìn giữ, hoặc được cả cha mẹ gìn giữ, hoặc được chị em gìn giữ, hoặc được anh em gìn giữ, hoặc được cha mẹ chồng gìn giữ, hoặc được người thân thuộc gìn giữ, hoặc được người cùng dòng họ gìn giữ; hoặc với những phụ nữ khác được bảo vệ bằng sự đe dọa như hình phạt hay roi vọt, hoặc đã hứa hôn, cho đến chỉ mới nhận tràng hoa làm tin, nếu chính mình xúc phạm đến những người nữ như vậy đều là tà dâm. Đó là ba nghiệp bất thiện do thân cố ý tạo, đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ.
Những gì là bốn nghiệp bất thiện do miệng cố ý gây tạo, đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ? Một là, nói dối: Có người hoặc ở giữa đám đông, hoặc ở trong quyến thuộc, hoặc ở chốn vua quan, nếu có ai gọi người ấy và hỏi: “Ngươi biết thì hãy nói”, nhưng người ấy không biết nói biết, biết nói không biết, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, vì mình vì người, hoặc vì tài vật mà cố ý nói dối. Hai là, nói hai chiều: Muốn chia rẽ người khác nên nghe nơi người này rồi nói lại với người kia, vì muốn phá hoại người này; nghe nơi người kia rồi nói lại người này, vì muốn phá hoại người kia; những người hòa hợp muốn cho ly tán, những ai đã ly tán lại muốn cho xa rời để kết bè đảng, thích thú sự kết bè đảng, khen ngợi sự kết bè đảng. Ba là, nói thô ác: Người ấy nếu có nói điều gì thì lời lẽ thô tục, hung hiểm, lời ác trái tai, không ai ưa nổi, cũng chẳng ai mến, khiến người khổ não, làm cho người nghe không thể định tâm. Bốn là, nói thêu dệt: Người ấy nói không đúng lúc, nói không thành thật, nói không đúng nghĩa, nói không đúng pháp, nói huyên thuyên, lại còn khen ngợi việc nói huyên thuyên, trái ngược thời gian, không khéo dạy dỗ, không khéo quở trách. Đó gọi là bốn nghiệp bất thiện do miệng cố ý gây ra, đưa đến khổ đau và thọ nhận quả báo khổ.
Những gì là ba nghiệp bất thiện của ý, do cố ý gây tạo, đưa đến khổ đau, thọ nhận quả báo khổ? Một là, tham lam:2 Rình rập tài sản và các vật dụng sinh hoạt của người khác, thường tham lam ước muốn, mong sao cho mình có được. Hai là, sân hận: Luôn ôm lòng oán ghét rồi suy nghĩ: “Chúng sanh kia đáng bị giết, đáng bị trói, đáng bị bắt, đáng loại bỏ, đáng đuổi đi, mong sao cho kẻ ấy chịu khổ vô lượng.” Ba là, tà kiến: Thấy biết điên đảo, thấy như vầy và nói như vầy: “Không có bố thí, không có tế tự,3 không có chú nguyện,4 không có nghiệp thiện, không có nghiệp ác, không có quả báo của nghiệp thiện, không có quả báo của nghiệp ác, không có đời này, không có đời sau, không có cha, không có mẹ, thế gian không có bậc chân nhân đi đến cõi lành, không có bậc chánh hạnh hay chánh hướng ở đời này hay đời sau để tự mình chứng biết, tự giác ngộ, tự thân tác chứng, thành tựu và an trú.” Đó gọi là ba nghiệp bất thiện do ý gây ra, đưa đến quả khổ đau, thọ nhận quả báo khổ.
[0438a03] Vị Thánh đệ tử đa văn xả bỏ nghiệp bất thiện của thân, tu nghiệp thiện của thân; xả bỏ nghiệp bất thiện của miệng và ý, tu nghiệp thiện của miệng và ý. Vị Thánh đệ tử đa văn đầy đủ giới đức tinh tấn như vậy, thành tựu nghiệp thanh tịnh nơi thân, thành tựu nghiệp thanh tịnh nơi miệng và ý, dứt trừ sân hận, xa lìa não hại, từ bỏ ngủ nghỉ, không trạo cử, cống cao, đoạn trừ nghi, vượt kiêu mạn, chánh niệm tỉnh giác, không còn ngu si. Tâm vị ấy tương ứng với tâm từ, rải khắp một phương, thành tựu và an trú. Cũng vậy, với hai phương, ba phương, bốn phương, bốn phương phụ và hai phương trên dưới, vị ấy rải khắp tất cả. Tâm tương ứng với tâm từ nên không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô biên, vô lượng, khéo tu tập, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú, vị ấy suy nghĩ rằng: “Tâm ta xưa kia vốn nhỏ hẹp, không khéo tu tập, tâm ta bây giờ rộng lớn vô lượng, lại khéo tu tập.” Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm vô lượng, khéo tu tập như vậy, nếu trước kia do ác tri thức mà buông lung, tạo tác nghiệp bất thiện thì nay những điều ấy không thể lôi kéo, không thể làm cho ô uế, không còn đi theo nữa. Nếu có bé trai hay bé gái, ngay lúc vừa lọt lòng mà có thể tu hành tâm từ giải thoát thì thời gian sau, thân, miệng và ý có còn tạo những nghiệp bất thiện nữa chăng?
Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn, không thể!
– Vì sao như vậy? Vì tự mình không tạo nghiệp ác thì nghiệp ác ấy do đâu mà sanh? Do đó, người tại gia hay xuất gia, dù nam hay nữ cũng phải thường xuyên siêng tu tâm từ giải thoát. Nếu người tại gia hay xuất gia, là nam hay nữ ấy siêng tu tâm từ giải thoát thì không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ nương theo tâm rời khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: “Ta vốn do buông lung mà tạo nghiệp bất thiện, nên thọ nhận tất cả quả báo trong đời này chứ không để đến đời sau nữa.” Nếu có người thực hành tâm từ giải thoát rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy, chắc chắn người ấy sẽ chứng quả A-na-hàm, hoặc chứng đắc cao hơn nữa. Cũng vậy, tâm vị ấy tương ứng với tâm bi, với tâm hỷ và tâm xả, không gây thù chuốc oán, không sân hận não hại, rộng lớn vô lượng vô biên, khéo tu tập, rải khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trú. Vị ấy suy nghĩ như vầy: “Tâm ta xưa kia vốn nhỏ hẹp, không khéo tu tập, tâm ta bây giờ rộng lớn vô lượng, được khéo tu tập.” Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm vô lượng, khéo tu tập như vậy, nếu trước kia do ác tri thức mà buông lung và tạo tác nghiệp bất thiện thì nay những điều ấy không thể lôi kéo, không thể làm cho ô uế, không còn đi theo nữa. Nếu có bé trai hay bé gái, ngay lúc vừa lọt lòng mà có thể thực hành tâm xả giải thoát thì về sau, thân, miệng và ý có còn tạo tác những nghiệp bất thiện nữa chăng?
[0438b03] Tỳ-kheo thưa:
– Bạch Thế Tôn, không thể!
– Vì sao như vậy? Vì tự mình không tạo nghiệp ác thì nghiệp ác do đâu mà sanh? Do đó, người tại gia hay xuất gia, dù nam hay nữ cũng phải thường xuyên siêng tu tâm xả giải thoát. Nếu những người tại gia hay xuất gia, là nam hay nữ kia mà tu tâm xả giải thoát thì sẽ không còn mang thân này đi đến đời sau mà chỉ nương theo tâm rời khỏi cõi này. Tỳ-kheo nên nghĩ như vầy: “Ta vốn do buông lung mà tạo nghiệp bất thiện, nên thọ nhận tất cả quả báo trong đời này chứ không để đến đời sau nữa.” Nếu có người thực hành tâm xả giải thoát, rộng lớn vô lượng, khéo tu tập như vậy thì chắc chắn chứng quả A-na-hàm, hoặc chứng đắc cao hơn.
Đức Phật dạy như vậy, các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.

Chú Thích:
1 Nguyên tác: Tư kinh 思經 (T.01. 0026.15. 0437b24). Tham chiếu: Tăng. 增 (T.02. 0125.48.1. 0785c24); A. 10. 217 - V. 292; A. 10.218 - V. 297; A. 10.219 - V. 299.
2 Tham tứ (貪伺): Tham lam. Bản kinh Pāli tương đương là A. 10.217 - V. 22: Abhijjhālu, HT. Thích Minh Châu dịch là “tham lam.” Hán dịch A-hàm kinh từ điển (漢譯阿含經辭典) của Trang Xuân Giang (莊春江) cũng viết: “Tham tứ” 貪伺, “tham đích ý niệm” 貪的意念, “tham lam” 貪婪.
3 Vô trai (無齋): Không tế tự. Tham chiếu: A. 10.217 - V. 292: Natthi yiṭṭhaṃ (không có lễ hy sinh), HT. Thích Minh Châu dịch.
4 Vô hữu chú thuyết (無有呪說): Không có việc chú nguyện, hồi hướng công đức.

Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.

Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.