Tam tạng Thánh điển PGVN 19 » Tam tạng Phật giáo Bộ phái 03 »
TRUNG TÂM DỊCH THUẬT TRÍ TỊNH
Tôi nghe như vầy:
Một thời, đức Phật du hóa trong dân chúng Thích-ca,2 ngụ trong vườn Ni-câu-loại,3 thành Ca-tỳ-la-vệ.4
Lúc đó, vì có việc cần bàn nên sau giờ thọ trai, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên cùng đại chúng Tỳ-kheo tập hợp ở giảng đường.
Khi ấy, sau bữa trưa, có vị đệ tử của phái Ni-kiền5 thuộc dòng họ Thích tên là Hòa-phá6 thong thả tản bộ đến chỗ Đại Mục-kiền-liên, cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Bấy giờ, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi như vầy:
– Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Giả sử có vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý, ông thấy có trường hợp nào nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau chăng?7
Hòa-phá đáp:
– Này Đại Mục-kiền-liên! Giả sử có vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý, tôi thấy có trường hợp nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên! Giả sử có người ở đời trước đã gây tạo nghiệp bất thiện, do vậy mà người ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau.8
Lúc đó, Thế Tôn đang an tọa ở nơi vắng vẻ, bằng thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn người thường nên Ngài nghe Tôn giả Đại Mục-kiền-liên và Thích Hòa-phá, đệ tử Ni-kiền, cùng bàn luận như trên. Nghe như vậy rồi, vào lúc xế chiều, Thế Tôn rời nơi tĩnh tọa rồi đi đến giảng đường, trải tòa và ngồi trước đại chúng Tỳ-kheo.
Sau khi ngồi xong, Thế Tôn hỏi:
– Này Mục-kiền-liên! Vừa rồi thầy cùng đệ tử Ni-kiền là Thích Hòa-phá bàn luận về việc gì? Lại có việc gì mà tập hợp, ngồi tại giảng đường này?
[0434b02] Tôn giả Đại Mục-kiền-liên thưa:
– Bạch Thế Tôn! Hôm nay con cùng đại chúng Tỳ-kheo, sau giờ thọ trai, vì có việc cần bàn nên tập hợp tại giảng đường. Khi ấy, sau bữa trưa, có vị đệ tử của phái Ni-kiền thuộc dòng họ Thích tên là Hòa-phá thong thả tản bộ đến chỗ con, cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên. Con hỏi như vầy: “Ý Hòa-phá nghĩ sao? Giả sử có vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý, ông thấy có trường hợp nào nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau chăng?” Thích Hòa-phá, đệ tử Ni-kiền, liền trả lời con rằng: “Giả sử có vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý, tôi thấy có trường hợp nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau. Này Đại Mục-kiền-liên! Giả sử có người trong đời trước đã gây tạo nghiệp bất thiện, do vậy mà người ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau.” Bạch Thế Tôn! Vừa rồi con cùng đệ tử của phái Ni-kiền là Thích Hòa-phá bàn luận như thế, do sự việc như vậy mà tập hợp và ngồi tại giảng đường.
Lúc đó, Thế Tôn bảo Thích Hòa-phá, đệ tử Ni-kiền:
– Nếu những gì Ta nói là đúng, ông nên trả lời là đúng, nếu không đúng, ông nên trả lời là không đúng. Ông có điều gì nghi ngờ thì nên hỏi Ta như vầy: “Sa-môn Cù-đàm, việc này thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Tùy những điều Ta nói, nếu ông có thể chấp nhận được thì Ta với ông có thể cùng bàn luận về điều ấy.
Hòa-phá thưa:
– Thưa Sa-môn Cù-đàm! Nếu điều Ngài nói là đúng, tôi sẽ nói là đúng, nếu không đúng, tôi sẽ nói không đúng. Nếu có điều gì nghi ngờ, tôi sẽ hỏi Cù-đàm: “Thưa Cù-đàm, việc này thế nào? Điều này có nghĩa gì?” Tùy theo những điều Sa-môn Cù-đàm nói, tôi sẽ chấp nhận. Tôi sẽ cùng Sa-môn Cù-đàm bàn luận về điều ấy.
Đức Phật hỏi:
– Này Hòa-phá, ý ông nghĩ sao? Nếu có Tỳ-kheo sanh khởi nghiệp bất thiện của thân, là lậu hoặc, phiền não, lo buồn, về sau vị ấy diệt trừ nghiệp bất thiện của thân, lại không tạo những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, ngay trong hiện đời, chứng được cứu cánh,9 không còn nóng bức, thường trụ không biến đổi, gọi là điều được thấy bởi trí tuệ bậc Thánh, được biết bởi trí tuệ bậc Thánh. Nếu thân làm điều bất thiện, miệng nói lời bất thiện, ý suy nghĩ điều bất thiện, là hành nghiệp do vô minh, sanh khởi lậu hoặc, phiền não, lo buồn, về sau vị ấy diệt trừ những hành nghiệp vô minh, bất thiện, không tạo những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, ngay trong hiện đời, chứng được cứu cánh, không còn nóng bức, thường trụ không biết đổi, gọi là điều được thấy bởi trí tuệ bậc Thánh, được biết bởi trí tuệ bậc Thánh. Thế nào, này Hòa-phá! Vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý như vậy, ông thấy có trường hợp nào nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau chăng?
[0434c02] Hòa-phá thưa:
– Thưa Cù-đàm! Nếu có vị Tỳ-kheo giữ gìn thân, miệng và ý như vậy, tôi không thấy có trường hợp nào nhân việc giữ gìn đó mà vị Tỳ-kheo ấy sanh khởi lậu hoặc bất thiện, khiến phải đưa đến đời sau.
Đức Phật khen ngợi:
– Lành thay, Hòa-phá! Thế nào, này Hòa-phá! Nếu có vị Tỳ-kheo đã đoạn trừ hết vô minh, minh đã sanh khởi; vị ấy đã đoạn trừ hết vô minh, minh đã sanh khởi, khi có cảm giác về cảm thọ sau cùng của thân liền biết là có cảm giác về cảm thọ sau cùng của thân;10 khi có cảm giác về cảm thọ sau cùng của mạng sống thì biết là có cảm giác về cảm thọ sau cùng của mạng sống. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã hết thì ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đều ngưng bặt, tự biết rằng sẽ đạt đến sự dịu mát hoàn toàn.11 Này Hòa-phá, cũng như do cây mà có bóng, giả sử có người cầm búa thật bén đến chặt đứt gốc rễ, chặt nát ra thành từng khúc, phân thành mười phần, hoặc trăm phần, dùng lửa đốt thành tro, hoặc để gió thổi bay, hoặc đổ vào trong nước. Này Hòa-phá! Ý ông nghĩ sao? Bóng do cây mà có, bóng ấy do đó mà mất hẳn cái nhân của nó, nên diệt mất, không còn sanh nữa chăng?
Hòa-phá thưa:
– Đúng như thế, thưa Cù-đàm!
Đức Phật bảo:
– Này Hòa-phá! Nên biết vị Tỳ-kheo cũng lại như vậy, vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi; vị ấy vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, khi có cảm giác về cảm thọ sau cùng của thân thì biết là có cảm giác về cảm thọ sau cùng của thân; khi có cảm giác về cảm thọ sau cùng của mạng sống thì biết là có cảm giác về cảm thọ sau cùng của mạng sống. Khi thân hoại mạng chung, tuổi thọ đã hết thì ngay trong đời này, tất cả mọi cảm giác đều ngưng bặt, tự biết rằng sẽ đạt đến sự dịu mát hoàn toàn. Này Hòa-phá! Tỳ-kheo với tâm giải thoát hoàn toàn12 như vậy liền đạt được sáu nơi an trú tốt đẹp.13 Là sáu nơi nào? Này Hòa-phá! Tỳ-kheo mắt thấy sắc mà không vui không buồn, an trú xả,14 chánh niệm tỉnh giác.15 Này Hòa-phá! Tỳ-kheo với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì gọi là đạt được nơi an trú tốt đẹp thứ nhất. Cũng vậy, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý biết pháp mà vị ấy không vui, không buồn, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Này Hòa-phá! Tỳ-kheo với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì gọi là đạt được nơi an trú tốt đẹp thứ sáu. Này Hòa-phá! Tỳ-kheo với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì đạt được sáu nơi an trú tốt đẹp.
Hòa-phá thưa:
– Đúng như vậy, thưa Cù-đàm! Với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì vị Thánh đệ tử đa văn liền đạt được sáu nơi an trú tốt đẹp. Là sáu nơi nào? Thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn mắt thấy sắc mà không vui không buồn, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì gọi là đạt được nơi an trú tốt đẹp thứ nhất. Cũng vậy, đối với tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý biết pháp mà vị ấy không vui, không buồn, an trú xả, chánh niệm tỉnh giác. Thưa Cù-đàm! Vị Thánh đệ tử đa văn với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì gọi là đạt được nơi an trú tốt đẹp thứ sáu. Như vậy, thưa Cù-đàm! Với tâm giải thoát hoàn toàn như vậy thì vị Thánh đệ tử đa văn đạt được sáu nơi an trú tốt đẹp.
[0435a04] Bấy giờ, Hòa-phá lại bạch đức Phật:
– Bạch đức Cù-đàm! Con đã biết. Bạch đức Thiện Thệ! Con đã hiểu. Bạch đức Cù-đàm! Cũng như người có được mắt sáng, như dựng đứng lại những gì đã ngã, như mở ra những gì bị đóng kín, như người mê được chỉ lối, như ban ánh sáng đến nơi tăm tối, để những ai có mắt liền nhìn thấy sắc,16 Sa-môn Cù-đàm cũng giống như vậy, Ngài đã vì con mà dùng vô lượng phương tiện thuyết pháp và hiển bày đạo lý thâm diệu.17 Bạch Thế Tôn! Hôm nay con nguyện quy y Phật, quy y Pháp và quy y đại chúng Tỳ-kheo, cúi mong đức Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Từ hôm nay, con nguyện trọn đời quy y cho đến khi qua đời.
Bạch Thế Tôn! Ví như có người nuôi con ngựa chứng lại cầu mong được lợi ích thì chỉ tự chuốc lấy sự khổ nhọc mà chẳng được lợi ích gì. Bạch đức Thế Tôn! Con cũng như vậy, Ni-kiền kia ngu si mà con không hiểu rõ, không hề hay biết, không biết được ruộng tốt, cũng không suy xét, lâu nay vẫn phụng thờ và cúng dường lễ bái để mong được lợi ích, nhưng chỉ khổ nhọc vô ích. Bạch Thế Tôn! Nay con lần thứ hai xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y đại chúng Tỳ-kheo, cúi mong đức Thế Tôn nhận con làm ưu-ba-tắc. Từ hôm nay, con nguyện trọn đời quy y cho đến khi qua đời.
Bạch Thế Tôn! Con vốn vô minh nên đối với Ni-kiền ngu si ấy, con lại tin theo và cung kính. Từ hôm nay con nguyện xin dứt hẳn. Vì sao như thế? Vì họ đã lừa dối con. Bạch Thế Tôn! Nay con lần thứ ba xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y đại chúng Tỳ-kheo, cúi mong đức Thế Tôn nhận con làm ưu-bà-tắc. Từ hôm nay, con nguyện trọn đời quy y cho đến khi qua đời.
Đức Phật dạy như vậy, Thích Hòa-phá và các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong đều hoan hỷ phụng hành.
Chú Thích:
1 Nguyên tác: Hòa-phá kinh 惒破經 (T.01. 0026.12. 0434a13). Tham chiếu: A. 4.195 - II. 196.
2 Nguyên tác: Thích-cơ-sấu (釋羇瘦, Sakkesu). Số nhiều của Sakka chỉ cho dân chúng họ Thích.
3 Ni-câu-loại viên (尼拘類園, Nigrodhārāma). Ni-câu-loại (尼拘類) còn có phiên âm khác là Ni-câu-luật (尼拘律), là khu vườn phía Nam ngoại thành Ca-tỳ-la-vệ, trong đó có tinh xá do dòng họ Thích-ca xây dựng để cúng dường đức Phật.
4 Ca-duy-la-vệ (迦維羅衛), phiên âm tên thành Kapilavatthu, quê hương của đức Phật. Ngoài tên phiên âm này ra, còn có một số tên phiên âm khác như: Ca-tỳ-la-bà-tô-đô (迦毘羅婆蘇都), Ca-tỷ-la-bà-tốt-đô (迦比羅皤窣堵), Ca-tỳ-la-vệ (迦毘羅衛), Ca-duy-la-việt (迦維羅越),…
5 Ni-kiền (尼乾, Nigaṇṭha Nātaputta) hay Ni-kiền tử (尼乾子), giáo chủ của Kỳ-na giáo (耆那教, Jainism), là một trong 6 vị đạo sư ngoại đạo cùng thời với đức Phật.
6 Hòa-phá (惒破, Vappa).
7 Nguyên tác: 惒破意云何?若有比丘身,口,意護,汝頗見是處,因此生不善漏,令至後世耶? Tham chiếu: A. 4.195 - II. 196: Idhʼassa Vappa kāyena saṃvuto vācāya saṃvuto manasā saṃvuto avijjāvirāgā vijjuppādā passasi no tvaṃ Vappa taṃ ṭhānaṃ yatonidānaṃ purisaṃ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṃ abhisamparāyanʼti? (Hòa-phá, nếu có người đời này thủ hộ thân, thủ hộ khẩu, thủ hộ ý; xa lìa vô minh và làm sanh khởi minh; Hòa-phá, ông có thấy, do một nhân duyên nào đó, người ấy nhận lấy đau khổ, sanh khởi các lậu ở trong đời sau không?), HT. Thích Minh Châu dịch.
8 Nguyên tác: 大目乾連!若有比丘身,口,意護,我見是處,因此生不善漏令至後世.大目乾連!若有前世行不善行,因此生不善漏令至後世. Tham chiếu: A. 4.195 - II. 196: Passāmʼahaṃ, bhante, taṃ ṭhānaṃ idhʼassa, bhante, pubbe pāpakammaṃ kataṃ avipakkavipākaṃ tatonidānaṃ purisaṃ dukkhavedaniyā āsavā assaveyyuṃ abhisamparāyanʼti (Thưa Tôn giả, tôi thấy có trường hợp ấy. Thưa Tôn giả, ở đây, do ác nghiệp đã tạo trong quá khứ chưa đưa đến quả dị thục, do nhân duyên đó, người ấy nhận lấy đau khổ, sanh khởi các lậu hoặc ở đời sau), HT. Thích Minh Châu dịch.
9 Nguyên tác: Đắc cứu cánh (得究竟). “Cứu cánh” ở đây chỉ cho cứu cánh giải thoát. Tham chiếu: Thích vấn kinh 釋問經 (T.01. 0026.134. 0637a16): Nếu có Sa-môn, Phạm chí nào đã đoạn sạch ái dục, tâm được giải thoát hoàn toàn thì vị ấy đạt đến cứu cánh, cứu cánh thanh tịnh, cứu cánh Phạm hạnh và thành tựu cứu cánh Phạm hạnh (若有沙門,梵志,於無上愛盡,正善心解脫者,彼至究竟,究竟白淨,究竟梵行,究竟梵行訖).
10 Sanh hậu thân giác (生後身覺). Tạp. 雜 (T.02. 0099.292. 0083b21) gọi là “thân phân tề thọ sở giác” (身分齊受所覺); Tạp. 雜 (T.02. 0099.969. 0249c17) gọi là “thân phân tề thọ giác” (身分齊受覺). Tham chiếu: S. 36.8 - IV. 213: Kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vediyamāna (cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân), HT. Thích Minh Châu dịch.
11 Lãnh (冷, sīti): Thanh lương (清涼), thanh tịnh, vắng lặng, không buồn phiền.
12 Chánh tâm giải thoát (正心解脫, sammā vimuttacitta).
13 Lục thiện trụ xứ (六善住處). Theo A. 4.195 - II. 196: Cha satatavihārā (6 chỗ cư trú thường hằng).
14 Xả cầu vô vi (捨求無為, upekkhako viharati): An trú xả.
15 Nguyên tác: Chánh trí (正智).
16 Do minh mục nhân, phú giả ngưỡng chi, phú giả phát chi, mê giả thị đạo, ám trung thí minh, nhược hữu nhãn giả tiện kiến ư sắc (猶明目人,覆者仰之,覆者發之,迷者示道,暗中施明,若有眼者便見於色). Tham chiếu: Tạp. 雜 (T.02. 0099.280. 0077a23): 譬如士夫溺者能救,閉者能開,迷者示路,闇處然燈; Tăng. 增 (T.02. 0125.13.5. 0574c25): 猶如軁者得伸,闇者見明,迷者示道,於闇室然明,無目者爲作眼目. Mặc dù các bản dịch Hán có sai khác vài chỗ, nhưng rõ ràng đây là một định thức dùng để tán thán giáo pháp của đức Phật. Các bản Pāli tương đối thống nhất, chẳng hạn M. 27 ghi: Seyyathā pi bho Gotama nikujjitaṃ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṃ dhāreyya: cakkhumanto rūpāni dakkhintīti (Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc), HT. Thích Minh Châu dịch.
17 Tùy kỳ chư đạo (隨其諸道). Ba bản Tống, Nguyên và Minh đều ghi: Tùy thậm thâm đạo (隨甚深道).
Tác quyền © 2024 Hội đồng quản trị VNCPHVN.
Chúng tôi khuyến khích các hình thức truyền bá theo tinh thần phi vụ lợi với điều kiện: không được thay đổi nội dung và phải ghi rõ xuất xứ của trang web này.